...
>>
Đón
đọc
ấn
phẩm
Lao
Động
&
đời
sống
số
18
Ông
cũng
là
nam
nghệ
sĩ
được
cho
là
có
nhiều
vợ
và
bồ
nhất
ở
Sài
Gòn.
Vậy
mà
khi
chết
đi,
ông
nằm
trong
ngôi
mộ
nhỏ
ven
con
đường
làng
ở
Bến
Tre.
Làm
sôi
động
sân
khấu
cải
lương
Cho
tới
ngày
nay,
chưa
có
ai
làm
được
chuyện
“kinh
thiên
động
địa”
trên
sân
khấu
cải
lương
như
Hùng
Cường.
Đó
là
vào
năm
1959,
một
nghệ
sĩ
chưa
từng
được
biết
trong
giới
cải
lương,
chưa
từng
đảm
nhận
bất
cứ
vai
phụ
nào,
bỗng
bất
ngờ
xuất
hiện
trong
vai
chính
và
thành
công
vang
dội.
Đó
là
điều
không
thể
hiểu
nổi,
bởi
một
người
theo
nghề
cải
lương
phải
mất
ít
nhất
2-3
năm
làm
“giàn
bao”
mới
lên
được
vai
phụ,
rồi
cũng
mất
chừng
ấy
thời
gian
mới
lên
được
vai
chính
nếu
thực
sự
có
tài
và
khổ
luyện.
Người
làm
chuyện
“động
trời”
ấy
là
ca
sĩ
tân
nhạc
Hùng
Cường.
Trước
đó,
dù
là
ca
sĩ
tân
nhạc
nổi
tiếng,
nhưng
Hùng
Cường
rất
yêu
thích
cải
lương,
nên
bỏ
công
sức
nghiên
cứu,
học
hỏi.
Với
một
nền
móng
nhạc
lý
vững
vàng,
cộng
với
chất
giọng
đã
được
trui
rèn
và
sự
kiên
trì,
cố
gắng
khổ
luyện,
ông
đã
mạnh
dạn
bước
lên
sân
khấu
cải
lương
và
khẳng
định
ngay
tên
tuổi
của
mình.
Đoàn
cải
lương
Ngọc
Kiều
như
đánh
cược
với
chén
cơm
manh
áo
của
mấy
chục
con
người
khi
chấp
nhận
cho
ca
sĩ
tân
nhạc
Hùng
Cường
chưa
hề
hát
cải
lương
đóng
vai
chính
Roméo
trong
vở
mới
dựng
“Mộng
đẹp
đêm
trăng”.
Một
giàn
diễn
viên
gạo
cội
thời
đó
của
đoàn
Ngọc
Kiều
như
Ngọc
Đáng,
Ngọc
Giàu,
Hoàng
Kinh,
Thanh
Sang,
Kim
Nguyên,
Thanh
Kỳ…
đã
chấp
nhận
làm
“giàn
bao”
cho
Hùng
Cường.
Kể
từ
đó,
trên
bầu
trời
cải
lương
miền
Nam
xuất
hiện
một
ngôi
sao
rực
sáng,
Hùng
Cường
đã
giúp
cho
tiếng
tăm
và
doanh
thu
của
đoàn
Ngọc
Kiều
cải
thiện
đáng
kể.
Với
vóc
dáng
“sáng”
sân
khấu,
chất
giọng
tenor
khỏe,
lối
diễn
xuất
vừa
tự
nhiên
vừa
tự
tin
và
rất
hợp
lý,
cùng
những
bài
bản
cải
lương
đã
được
luyện
tập
kỹ
càng,
Hùng
Cường
đã
thành
công
vang
dội
ngay
từ
vai
diễn
đầu.
Tức
thì,
chủ
đoàn
Ngọc
Kiều
ký
tiếp
hợp
đồng
với
Hùng
Cường
để
hát
vai
chính
trong
kịch
bản
mới
“Tuyết
phủ
chiều
đông”
sẽ
khai
trương
tại
rạp
Viễn
Trường
(Mỹ
Tho,
Tiền
Giang)
sau
một
tháng
tập
dượt.
Hùng
Cường
đã
mướn
riêng
một
nhạc
sĩ
cổ
nhạc
đến
nhà
ông
luyện
tập
ngày
đêm.
Ngoài
ra
ông
rất
nhạy
bén,
biết
được
sở
đoản,
sở
trường
của
mình,
nên
đã
phối
hợp
với
soạn
giả
cải
lương
lồng
vào
kịch
bản
khá
nhiều
đoạn
tân
nhạc,
khai
thác
đúng
tài
năng
của
ông.
“Tuyết
phủ
chiều
đông”
của
soạn
giả
Bạch
Yến
Lan
và
giọng
hát
mới
toanh
Hùng
Cường
đã
tạo
nên
một
sự
kiện
chấn
động
“thánh
địa
cải
lương”
Mỹ
Tho.
Rạp
Viễn
Trường
đầy
kín
từ
chỗ
ngồi
đến
chỗ
đứng,
bên
ngoài
còn
dư
khán
giả
gần
nửa
rạp.
Tiếp
theo,
đoàn
Ngọc
Kiều
dựng
tiếp
vở
cải
lương
“Màu
tím
đèn
hoa
giấy”,
khai
trương
từng
bừng
tại
rạp
hát
Nguyễn
Văn
Hảo
năm
1960,
rồi
tiếp
tục
lưu
diễn
nhiều
tỉnh,
thị
xã
lớn
ở
miền
Tây.
Hùng
Cường
đóng
vai
Kha
Phong
-
một
kiếm
sĩ
Phù
Tang
điêu
luyện,
bên
cạnh
tài
danh
Ngọc
Đáng.
''Ngôi
sao''
cải
lương
Hùng
Cường
rực
sáng
từ
dạo
đó.
Đóng
phim,
đóng
kịch,
viết
nhạc,
làm
thơ...
Hùng
Cường
tên
thật
là
Trần
Kim
Cường,
sinh
năm
1936
tại
tỉnh
Bến
Tre,
sau
theo
gia
đình
về
sinh
sống
ở
Sài
Gòn.
Ngay
từ
khi
còn
là
học
sinh
Trường
Trung
học
Trần
Hưng
Đạo,
ông
đã
có
thể
tự
sáng
tác
và
biểu
diễn
những
bài
hát
học
sinh
trong
các
lần
hội
diễn
của
trường.
Sau
khi
học
xong
“tú
tài”,
ông
chính
thức
theo
nghiệp
ca
hát
tại
các
vũ
trường
Kim
Sơn,
Baccara...
Ngay
từ
những
năm
1954-1955,
Hùng
Cường
đã
nổi
tiếng
với
các
nhạc
phẩm
“tiền
chiến”
như:
Ông
lái
đò,
Vọng
ngày
xanh,
Sơn
nữ
ca,
Đường
xưa
lối
cũ…
Tất
cả
đều
được
thu
đĩa
và
đạt
số
bán
kỷ
lục
ở
Sài
Gòn
bấy
giờ.
Sau
khi
bước
sang
cải
lương
và
thành
công
vang
dội,
Hùng
Cường
vẫn
tiếp
tục
gắn
bó
với
sân
khấu
ca
nhạc
và
lại
làm
người
hâm
mộ
quay
cuồng
theo
ông
với
một
thể
loại
nhạc
mới
lạ
lần
đầu
tiên
xuất
hiện
ở
Sài
Gòn
–
nhạc
giật,
như
cách
gọi
lúc
đó
là
nhạc
“kích
động”,
một
dạng
pop-rock
đã
được
Việt
Nam
hóa.
Nhạc
“kích
động”
với
giọng
ca
Hùng
Cường
chỉ
thực
sự
đạt
đỉnh
cao
khi
phối
hợp
cùng
Mai
Lệ
Huyền
-
một
ca
sĩ
nữ
cũng
“quậy”
không
kém.
Những
ca
khúc
tươi
vui
và
“kích
động”
như:
Hai
trái
tim
vàng,
Vì
chưa
ngỏ
ý,
Túp
lều
lý
tưởng…
đã
từng
làm
sôi
động
giới
trẻ
miền
Nam
cuối
thập
niên
1960
- đầu
1970.
Sau
ca
nhạc,
cải
lương,
Hùng
Cường
tiếp
tục
“lấn
sân”
sang
điện
ảnh.
Hàng
loạt
các
phim
do
Hùng
Cường
thủ
vai
chính
được
người
xem
chú
ý
thời
bấy
giờ
như:
“Chân
trời
tím”,
“Mãnh
lực
đồng
tiền”,
“Còn
gì
cho
nhau”,
“Nắng
chiều”,
“Ly
rượu
mừng”,
“Vết
thù
trên
lưng
ngựa
hoang”…
Lúc
mới
bước
sang
điện
ảnh,
Hùng
Cường
bị
châm
chích
rất
ác
ý,
chê
bai
là
“cải
lương”.
Thế
nhưng,
sau
khi
thành
công
với
phim
đầu
tiên
“Chân
trời
tím”,
nhiều
hãng
phim
đã
mời
Hùng
Cường
cộng
tác
và
phim
nào
có
tên
ông
cũng
ăn
khách.
Hãng
phim
Kim
Thân
đã
trả
thù
lao
khá
cao
để
mời
Hùng
Cường
và
Mai
Lệ
Huyền
đóng
cặp
trong
phim
“Mãnh
lực
đồng
tiền”.
Theo
chân
Hùng
Cường,
nhiều
đào
kép
cải
lương
khác
ở
Sài
Gòn
cũng
tham
gia
đóng
phim,
mà
nổi
hơn
cả
là
Thanh
Nga
và
Mộng
Tuyền.
Lúc
đầu,
các
nữ
tài
tử
điện
ảnh
rất
ngại
đóng
cặp
với
kép
hát
cải
lương,
trong
đó
có
Hùng
Cường.
Theo
báo
chí
thời
ấy,
công
ty
phim
truyện
Liên
Ảnh
trước
khi
mời
Kim
Vui
đã
có
ngỏ
ý
mời
Thẩm
Thúy
Hằng
đóng
cặp
với
Hùng
Cường,
nhưng
Thẩm
Thúy
Hằng
từ
chối,
có
lẽ
do
“định
kiến”
ấy.
Nhưng
sau
đó
“người
đẹp
Bình
Dương”
Thẩm
Thúy
Hằng
mới
tiếc
rẻ,
khi
thấy
Kim
Vui
nổi
bật
bên
Hùng
Cường
trong
phim
“Chân
trời
tím”
và
phim
vừa
thành
công
về
tài
chính
vừa
đoạt
Giải
văn
học
nghệ
thuật
Sài
Gòn
năm
1971,
lại
vinh
dự
là
lần
đầu
tiên
một
cuốn
phim
Việt
Nam
phụ
đề
Pháp
ngữ
được
gửi
đi
trình
chiếu
tại
Ðại
hội
điện
ảnh
tổ
chức
ở
Dianard,
Anh
Quốc.
Vào
những
năm
1960,
khi
cải
lương
đang
chiếm
lĩnh
Sài
Gòn,
một
nhóm
“kịch
sĩ”
đứng
đầu
là
Vân
Hùng,
La
Thoại
Tân,
Hùng
Cường
hợp
cùng
kỳ
nữ
Kim
Cương,
Thẩm
Thúy
Hằng
và
ca
sĩ
Túy
Hồng
tạo
nên
một
“đặc
chủng”
nghệ
thuật
mới
mang
tên
“Kịch
nghệ
Sài
Gòn”.
Kịch
Sài
Gòn
ra
đời
muộn,
không
ồn
ào,
không
thu
hút
ngay
được
nhiều
khán
giả
tới
rạp,
nhưng
dần
dần
cũng
tạo
được
chỗ
đứng.
Ngoài
kỳ
nữ
Kim
Cương
vốn
là
con
nhà
nòi
về
kịch
nói,
số
còn
lại
đều
từ
điện
ảnh,
ca
nhạc
sang.
Có
thể
nói,
chính
những
cái
tên
như
Thẩm
Thúy
Hằng,
Hùng
Cường
đã
lôi
kéo
một
lượng
khán
giả
không
nhỏ,
giúp
sân
khấu
kịch
Sài
Gòn
có
chỗ
đứng
và
phát
triển
dần.
Võ
sĩ
ngoài
đời
và
trên
sàn
diễn
Trong
giới
tài
tử
điện
ảnh
ở
Sài
Gòn
trước
năm
1975,
có
2
người
được
cho
là
giỏi
võ
nhất,
đó
là
Lý
Huỳnh
và
Hùng
Cường.
Lý
Huỳnh
vừa
đóng
phim
vừa
mở
võ
đường
Thái
cực
đạo,
nên
được
phong
là
“võ
sư”.
Hùng
Cường
mê
đánh
quyền
Anh
từ
thời
học
sinh,
sau
này
ông
vẫn
tiếp
tục
tập
quyền
Anh
như
là
môn
võ
thể
dục
giúp
rèn
luyện
sức
khỏe.
Lúc
ấy,
phong
trào
tập
luyện
quyền
Anh
ở
Sài
Gòn
rất
yếu,
số
người
giỏi
chỉ
có
thể
đếm
trên
đầu
ngón
tay,
trong
đó
có
Hùng
Cường.
Năm
1970,
khi
hàng
trăm
ngàn
bà
con
Việt
kiều
bỏ
nhà
cửa,
đất
đai,
tài
sản
ở
Campuchia
về
Việt
Nam
lánh
nạn
và
sinh
sống,
mở
lò
dạy
quyền
Anh
thì
phong
trào
mới
phát
triển
trở
lại.
Sau
đó,
người
ta
tổ
chức
thi
đấu
môn
quyền
Anh,
Hùng
Cường
cũng
đăng
ký
“thượng
đài”,
nhưng
vào
phút
cuối
đã
bỏ
cuộc
vì
bận
theo
đoàn
hát
đi
lưu
diễn
xa.
Chuyện
này
được
Hùng
Cường
thể
hiện
lại
trong
nội
dung
một
vở
cải
lương
sau
đó.
Hùng
Cường
còn
thọ
giáo
môn
võ
Bình
Định
của
một
thầy
dạy
võ
nổi
tiếng
ở
Quy
Nhơn
trong
một
lần
đi
diễn
ở
đây.
Khi
về
Sài
Gòn,
Hùng
Cường
rước
hẳn
thầy
dạy
võ
vào
Sài
Gòn
dạy
cho
mình
cả
năm
trời.
Với
năng
khiếu
bẩm
sinh,
Hùng
Cường
đã
nhanh
chóng
thăng
đến
hạng
“đai
đen”.
Nhờ
tập
luyện
nhiều
môn
võ
đông
tây,
kim
cổ
mà
Hùng
Cường
rất
giỏi
võ
và
có
sức
khỏe
hơn
người.
Khi
đóng
phim
hay
diễn
trên
sân
khấu,
ông
thường
ra
đòn
giống
như
thật,
nếu
người
bạn
diễn
cũng
giỏi
võ,
họ
sẽ
cống
hiến
cho
người
xem
những
màn
biểu
diễn
võ
thuật
đẹp
mắt.
Nhờ
giỏi
võ
mà
khi
đóng
phim
ở
những
trường
đoạn
đánh
nhau
hoặc
cảnh
đóng
nguy
hiểm,
Hùng
Cường
thường
tự
đóng
chứ
không
nhờ
người
đóng
thế,
đó
cũng
là
một
lợi
thế
của
Hùng
Cường
so
với
những
nghệ
sĩ
đóng
phim
khác.
Ý kiến bạn đọc