Sau
cuộc
binh
biến
kinh
thành
Huế
vào
năm
1885,
vua
Hàm
Nghi
xuất
bôn
ra
chiếu
Cần
Vương,
một
số
nhạc
quan
và
nhạc
công
của
triều
đình
lánh
nạn
vào
miền
Nam
sinh
sống,
trong
đó
có
Nguyễn
Quang
Đại,
người
đã
có
công
rất
nhiều
trong
việc
phổ
biến
Nhạc
Tài
Tử
tại
miền
Nam.
Nguyễn
Quang
Đại
được
các
báo
chí
hồi
đầu
thế
kỷ
20
gọi
là
Ba
Đại,
nhưng
sau
này
đổi
thành
Ba
Đợi
(có
người
cho
là
do
gọi
theo
cách
phát
âm
của
miền
Trung,
nhưng
có
lẽ
do
kỵ
húy
tên
vua
Bảo
Đại
thì
đúng
hơn
vì
trước
khi
vua
Bảo
Đại
lên
ngôi,
báo
chí
vẫn
gọi
Nguyễn
Quang
Đại
là
Ba
Đại),
nguyên
quán
ở
Hải
Lăng,
Quảng
Trị
vào
sinh
sống
tại
các
vùng
Đakao,
Cần
Giuộc,
Cần
Đước
để
truyền
dạy
Nhạc
Lễ
và
Nhạc
Tài
Tử.
Ông
đã
đào
tạo
được
nhiều
nhạc
sĩ
lừng
danh
như
ở
Đakao
có
Tám
Hạnh,
Sáu
Thới
(thầy
của
các
nhạc
sư
Tư
Nghi,
giáo
Thinh,
Năm
Cần),
Cao
Quỳnh
Cư,
Cao
Quỳnh
Diêu,
Bảy
Nhỏ...
Tại
các
vùng
Long
An,
Cần
Giuộc,
Cần
Đước
có
các
môn
sinh
như
nhạc
Láo,
Sáu
Thoàn,
Chín
Chiêu,
nhạc
Thời,
Hai
Tò
Le,
Năm
Tịnh,
cô
Sáu
Giỏi,
cô
Bảy
Lung
v.v...
là
những
nhạc
sĩ
tài
ba
mà
tiếng
tăm
còn
truyền
lại
tới
bây
giờ.
Từ
những
môn
sinh
của
ông,
các
nghệ
sĩ
tài
danh
của
thế
hệ
thứ
ba
đã
được
nối
tiếp
truyền
nghề
như
Tư
Huyện,
Sáu
Quý,
Bảy
Hàm,
Chín
Kỳ,
Hai
Phát,
Hai
Biểu,
Tư
Tụi,
Ba
Lựa
v.v...
Ngoài
việc
truyền
dạy
nghề
đờn,
Ba
Đợi
còn
đem
một
số
Nhạc
Cung
Đình
cải
biên
thành
Nhạc
Lễ
miền
Nam,
hệ
thống
hóa
Nhạc
Tài
Tử
thành
bốn
điệu
Bắc,
Hạ,
Nam,
Oán
(còn
được
gọi
là
20
bài
tổ).
Hai
mươi
bài
tổ
gồm
có:
Ba
Nam:
-
Nam
Xuân
-
Nam
Ai
-
Đảo
Ngũ
Cung
Bài
Đảo
Ngũ
Cung
còn
gọi
là
Nam
Đảo.
(Tài
liệu
xưa
là
sách
Cầm
Ca
Tân
Điệu
và
Nhạc
Cổ
Điển
Việt
Nam
chỉ
gọi
là
Đảo
Ngũ
Cung
mà
thôi).
Sáu
Bắc:
-
Lưu
Thủy
Trường
-
Phú
Lục
Chấn
-
Bình
Bán
Chấn
-
Cổ
Bản
Trường
-
Xuân
Tình
Chấn
-
Tây
Thi
Trường
Giới
đờn
ca
tài
tử
thường
chơi
Cổ
Bản
Vắn
và
Tây
Thi
Vắn
mà
ít
chơi
hai
bài
Cổ
Bản
Trường
và
Tây
Thi
Trường.
Bảy
Bài
(tức
7
bài
nhạc
lễ):
-
Xàng
Xê
-
Ngũ
Đối
Thượng
-
Ngũ
Đối
Hạ
-
Long
Ngâm
-
Long
Đăng
-
Vạn
Giá
-
Tiểu
Khúc
Bốn
Oán:
-
Tứ
Đại
Oán
-
Phụng
Cầu
-
Giang
Nam
-
Phụng
Hoàng
Bài
Giang
Nam
còn
gọi
là
Giang
Nam
Cửu
Khúc
(vì
có
9
lớp),
bài
Phụng
Cầu
còn
gọi
là
Phụng
Cầu
Hoàng
Duyên,
bài
Phụng
Hoàng
còn
gọi
là
Phụng
Hoàng
Lai
Nghi.
(Tài
liệu
xưa
là
sách
Cầm
Ca
Tân
Điệu
và
Nhạc
Cổ
Điển
Việt
Nam
chỉ
gọi
là
Phụng
Cầu,
Phụng
Hoàng
mà
thôi).
Hai
mươi
bài
tổ
này
bao
gồm
đủ
cả
các
âm
điệu
vui,
buồn,
thương,
giận
nên
được
nhạc
giới
miền
Nam
dùng
làm
căn
bản
cho
nền
cổ
nhạc
từ
đó
cho
đến
bây
giờ.
Vì
sự
đa
dạng
của
20
bài
tổ
nên
ít
có
người
đờn
hoặc
ca
làu
thông
20
thể
điệu
này.
Vào
năm
2007,
nhạc
sư
Ba
Tu
đã
độc
tấu
đờn
kìm
đầy
đủ
20
bài,
xin
được
giới
thiệu
sau
đây.
Xin
nhấn
vào
hình
loa
màu
xanh
phía
dưới
kế
bên
mỗi
bài
để
nghe
nhạc.
BA
NAM:
|
|
Nam
Xuân:
Điệu
nhạc
thanh
thản
lâng
lâng,
sảng
khoái,
nghiêm
trang,
nhẹ
nhàng,
có
người
cho
là
“tiên
phong
đạo
cốt”.
Bài
này
thường
được
dùng
để
mở
đầu
các
chương
trình
đờn
ca
tài
tử
hoặc
ca
nhạc
cải
lương. |
Nam
Ai:
Buồn
ảo
não,
não
nùng,
bi
thảm.
Bài
này
có
8
lớp,
cấu
trúc
cũng
như
Nam
Xuân
(cũng
nhắc
đi
nhắc
lại
nhiều
lớp).
Lớp
7
và
8
(hai
lớp
Mái)
thường
hay
dùng
nhất. |
Đảo
Ngũ
Cung
qua
Song
Cước:
Tôn
nghiêm,
hùng
tráng,
gay
gắt.
Hai
câu
cuối
được
chuyển
sang
hơi
Hò
Ba
âm
điệu
buồn,
để
chấm
dứt,
gọi
là
“song
cước”. |
|
Nam
Xuân:
Tô
Huệ
Chức
Cẩm
Hồi
Văn
-
(20
câu
đầu).
Ca
sĩ:
Kim
Thanh
|
Nam
Ai:
Tô
Huệ
Chức
Cẩm
Hồi
Văn
-
(lớp
1,
2
qua
lới
Mái
7
câu
đầu).
Ca
sĩ:
Kim
Thanh
|
Đảo
Ngũ
Cung:
Hiệp
Nhứt
Trường
-
(20
câu
đầu).
Ca
sĩ:
Kim
Thanh
|
|
SÁU
BẮC: |
|
|
|
Lưu
Thủy
Trường:
Điệu
nhạc
nhàn
hạ,
khoan
thai,
phù
hợp
với
cảnh
trí
thanh
nhàn,
non
xanh
nước
biếc,
cỏ
hoa
chim
chóc.
Lưu
Thủy
Trường
là
do
Lưu
Thủy
Đoản
phát
triển,
kéo
dài
ra.
Một
câu
của
“đoản”
bằng
hai
câu
của
“trường”.
Bài
này
có
4
lớp,
32
câu
(8,
6,
12,
6). |
Phú
Lục
Chấn:
Sôi
nổi,
rộn
rã,
khẩn
trương,
khác
với
bài
Lưu
Thủy
Trường
có
tính
thiên
nhiên.
Bài
này
có
xuất
xứ
từ
bài
Phú
Lục
ở
Huế.
Khi
mới
vào
Nam
Bộ
được
cải
lương
hóa
thành
bài
Phú
Lục
Vắn
(17
câu,
nhịp
1),
sau
phát
triển
thành
bài
Phúc
Lục
của
nhạc
tài
tử
(34
câu
nhịp
4).
Bài
này
rất
nghiêm
chỉnh
cân
đối,
câu
đối
câu,
nhịp
đối
nhịp,
có
4
lớp
(8,
8,
8,
10). |
Bình
Bán
Chấn:
Phát
triển
từ
bài
Bình
Bán,
đến
Bình
Bán
Vắn,
rồi
đến
bài
Bình
Bán
Chấn
(dài).
Gốc
là
bài
Bình
Bán
vui
vẻ
sảng
khoái,
nhưng
khi
phát
triển
thành
Bình
Bán
Chấn
thì
trở
thành
đĩnh
đạc,
nghiêm
trang.
Bài
này
phức
tạp,
khúc
mắc,
ít
được
dùng
trên
sân
khấu. |
Cổ
Bản
Vắn:
Câu
ngắn
gọn,
dồn
dập,
nhưng
không
nhấn
mạnh
như
bài
Phú
Lục. |
Lưu
Thủy
Trường:
Bá
Nha
Tử
Kỳ
-
(lớp
1,
2).
Ca
sĩ:
Đoàn
Dự
|
Phú
Lục
Chấn:
Khổng
Tử
Khóc
Nhan
Hồi
-
(lớp
1,
2
và
4),
Ca
sĩ:
Đoàn
Dự
|
Bình
Bán
Chấn:
Họa
Tượng
Vân
Tiên
-
lời:
Mười
Phú.
Ca
sĩ:
Từ
Hải
|
Cổ
Bản
Vắn:
Duyên
Hậu
Nghệ
-
Ca
sĩ:
Cao
Thị
Thắng
|
Xuân
Tình
Chấn:
Vui
tươi,
lúc
bình
thường
khi
rộn
rã,
âm
điệu
vang,
trong
sáng,
nồng
nhiệt. |
Tây
Thi
Vắn:
Êm
dịu,
trong
sáng,
vui
tươi,
có
tính
tự
sự,
không
gay
gắt
như
Phú
Lục.
Bản
này
là
bản
dễ
nhớ
nhứt
trong
sáu
bài
Bắc.
Bài
này
có
26
câu,
3
lớp
(9,
13,
4). |
Xuân
Tình:
Tống
Tửu
Đơn
Hùng
Tín
-
Ca
sĩ:
Hề
Sa
(Trình
Giảo
Kim),
An
Danh
(
La
Thành),
Thanh
Phú
(
Đơn
Hùng
Tín).
|
Tây
Thi
Trường:
Lưu
Bình
Dương
Lễ
-
lời:
Mười
Phú
(26
câu).
Ca
sĩ:
Thế
Hùng
|
BẢY
BÀI: |
|
|
|
Xàng
Xê:
Hùng
tráng
uy
nghi
nhưng
dịu
dàng,
êm
ái. |
Ngũ
Đối
Thượng:
Có
tính
uy
nghi,
nghiêm
trang
của
kẻ
trên
đối
với
người
dưới. |
Ngũ
Đối
Hạ:
Còn
gọi
tắt
là
bài
Hạ,
uy
nghi,
nghiêm
trang,
man
mác,
thanh
thản. |
Long
Ngâm:
Rồng
xuống,
tượng
trưng
Âm
khí.
Bài
này
giống
như
bài
Hạ,
ít
thấy
dùng
trên
sân
khấu
cải
lương. |
Xàng
Xê:
Nhớ
Quê
Ngũ
Tân,
Thanh
Bình
-
lời:
Thanh
Hiền
(8
câu
đầu).
Ca
sĩ:
Đoàn
Dự
|
Ngũ
Đối
Thượng:
Lữ
Bố
Hí
Điêu
Thuyền
-
(16
câu
lớp
1).
Ca
sĩ:
Thanh
Tuyết
|
Ngũ
Đối
Hạ:
Hồn
Thiêng
Sông
Núi
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Bạch
Huệ
|
Long
Ngâm:
Nam
Quốc
Sơn
Hà
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Bạch
Huệ
|
Long
Đăng:
Rồng
lên,
tượng
trưng
Dương
khí.
Giống
bài
Hạ,
nhưng
tiết
tấu
khỏe,
ít
nghiêm
trang. |
Vạn
Giá:
Vạn
vật
sinh
thành
đều
có
giá
trị. |
Tiểu
Khúc:
Nhỏ
ngắn
đều
có
định
luật. |
Long
Đăng:
Hồn
Thiêng
Sông
Núi
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Bạch
Huệ
|
Vạn
Giá:
Cải
Lương
Tiền
Giang
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Bạch
Huệ
|
Tiểu
Khúc:
Hồn
Thiêng
Sông
Núi
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Bạch
Huệ
|
BỐN
OÁN: |
|
|
|
Tứ
Đại
Oán:
Điệu
nhạc
thất
vọng,
bi
thiết,
oán
hờn
giống
bài
Văn
Thiên
Tường,
nhưng
hơi
hướng
có
phần
cổ
và
chơn
chất
hơn.
Hai
lớp
Xang
vắn
thường
hay
được
dùng. |
Phụng
Cầu:
Như
Tứ
Đại
Oán,
nhưng
hơi
dựng
hơn. |
Giang
Nam
Cửu
Khúc:
Trầm
hơn
Tứ
Đại
Oán,
chậm
rãi. |
Phụng
Hoàng:
Như
Phụng
Cầu. |
Tứ
Đại
Oán:
Mong
Chờ
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch
(lược
bớt
lớp
Xang
dài).
Ca
sĩ:
Kim
Thanh
|
Phụng
Cầu:
Từ
Hải
Thọ
Tiễn
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch
(10
câu
đầu
lớp
1).
Ca
sĩ:
Kim
Thanh
|
Giang
Nam
Tam
Khúc:
Tình
Hoài
Hương
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Bạch
Huệ
|
Phụng
Hoàng:
Nhớ
Cha
-
lời:
Trần
Ngọc
Thạch.
Ca
sĩ:
Kim
Thanh
|
|
|
|
Bài
viết
tổng
hợp
từ
những
tài
liệu:
-
Nhị
Tấn,
Nhạc
Tài
Tử
Nam
Bộ,
TP
HCM,
Câu
lạc
bộ
Đờn
Ca
Tài
Tử
quận
8,
1997.
-
Nguyễn
Tuấn
Khanh,
Bước
Đường
Của
Cải
Lương,
California-USA,
Viện
Việt-Học,
2014.
-
CD
20
Bài
Tổ
do
nhạc
sư
Ba
Tu
độc
tấu
đờn
kìm,
Long
An,
Sở
VHTT&DL
Long
An,
2007.
-
CD
Đồng
Điệu
Tri
Âm,
Long
An,
Sở
VHTT&DL
Long
An,
2013.
-
Cassettes
Đờn
Ca
Tài
Tử
do
soạn
giả
Trần
Ngọc
Thạch
thu
trong
những
buổi
Đờn
Ca
Tải
Tử.
|
Nguyễn
Tuấn
Khanh
|
Ý kiến bạn đọc