Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Nghệ
sĩ
Diệu
Hiền:
Đệ
nhất
đào
võ
sân
khấu
cải
lương
Trên
sân
khấu
cải
lương
miền
Nam,
tài
năng
ca
diễn
của
một
số
nghệ
sĩ
đã
mang
đến
cho
họ
những
mỹ
danh
bất
tử,
mà
mỗi
khi
nhắc
đến
mỹ
danh
này,
thì
người
ta
không
thể
nghĩ
đến
một
nghệ
sĩ
nào
khác.
Như
danh
hiệu
“vua
ca
vọng
cổ”
thì
dành
cho
Út
Trà
Ôn,
“Nữ
vương
Sầu
Nữ”
dành
cho
Út
Bạch
Lan,
“Nữ
hoàng
sân
khấu”
dành
cho
Thanh
Nga…
Trong
những
thập
niên
1960,
đã
xuất
hiện
một
phong
cách
ca
diễn
cũng
tạo
được
“thương
hiệu”
riêng
cho
mình,
đó
là
nữ
nghệ
sĩ
Diệu
Hiền.
Với
lối
ca
diễn
mạnh
mẽ
rất
«
võ
tướng
»,
Diệu
Hiền
có
thể
được
xem
là
“Đệ
nhất
đào
võ
của
sân
khấu
cải
lương”.
Từ
tuổi
thơ
gian
khó…
Tuổi
thơ
của
Diệu
Hiền
cũng
giống
như
đa
số
nghệ
sĩ
cải
lương
thế
hệ
vàng,
là
“ba
chìm
bảy
nổi”.
Tuy
nhiên,
trường
hợp
của
Diệu
Hiền
có
thể
được
xem
là
đứng
đầu
trong
cái
gọi
là
“ba
chìm
bảy
nổi”
đó.
Diệu
Hiền
tên
thật
là
Lâm
Thị
Hiền,
sinh
năm
1945
tại
Bạc
Liêu,
trong
một
gia
đình
có
7
người
con.
Diệu
Hiền
là
con
thứ
5
trong
gia
đình
theo
cách
gọi
của
người
miền
Nam.
Người
ta
nói
giọng
ca
của
Diệu
Hiền
“lạ”,
nhưng
khi
tìm
hiểu
về
cuộc
đời
cô,
ta
thấy
rằng
cái
“lạ”
đã
xuất
hiện
khi
bé
Hiền
mới
chào
đời,
đó
là:
bé
Hiền
đặc
biệt
khóc
nhiều.
Chưa
đầy
5
tuổi,
Hiền
đã
mất
cha.
Mẹ
Hiền
muốn
lên
Sài
Gòn
kiếm
sống,
nên
đã
định
gửi
các
con
lại
cho
hai
bên
nội
ngoại
nhờ
nuôi
dưỡng.
Nhưng
vì
bé
Hiền
khóc
nhiều
quá
nên
không
ai
dám
nhận,
và
thế
là
nhờ
khóc
nhiều
mà
Hiền
được
theo
mẹ
lên
Sài
Gòn.
Nhưng
lên
Sài
Gòn
nào
có
sung
sướng
gì
với
cái
cảnh
mẹ
góa
con
côi
tha
phương
cầu
thực.
Mẹ
con
Hiền
phải
lang
thang
làm
mướn
làm
thuê
kiếm
sống.
Nhưng,
mỗi
khi
xin
vào
giúp
việc
cho
một
gia
đình
nào
đó,
thì
mấy
bữa
mẹ
con
Hiền
lại
bị
đuổi
vì
Hiền
khóc
dữ
quá
chủ
nhà
không
chịu
được.
Thế
là
hai
mẹ
con
dắt
dìu
nhau
ngày
đi
làm
thuê
làm
mướn,
tối
ngủ
dạ
cầu.
Mà
ngủ
dạ
cầu
cũng
nào
có
yên
đâu,
bởi
phần
thì
bị
chính
quyền
nhắc
nhở,
phần
thì
bị
những
người
lang
thang
khác
giành
chỗ
ngủ.
Diệu
Hiền
kể
có
khi
mẹ
cô
còn
bị
nắm
đầu
đánh
bởi
những
người
cùng
cảnh
ngộ
mà
không
biết
đùm
bọc
lẫn
nhau.
Thế
rồi,
số
phận
đẩy
đưa,
mẹ
Hiền
chấp
nối
với
một
người
đàn
ông
nghèo
góa
vợ.
May
mắn
cho
bà,
người
này
thương
bà
thật
lòng,
nên
đã
không
ngại
nuôi
dưỡng
các
con
bà.
Mẹ
Hiền
rất
mê
cải
lương,
mỗi
tối
bà
ngồi
nghe
ké
đài
phát
thanh
phát
ra
từ
hàng
xóm.
Ba
dượng
của
Hiền
thương
vợ,
mới
dành
dụm
tiền
mua
cho
bà
một
chiếc
vé
hạn
chót
(mà
hồi
trước
gọi
là
hạng
cá
kèo)
để
đi
coi
cải
lương.
Năm
đó
được
9
tuổi,
Hiền
theo
mẹ
đi
coi
hát.
Lần
đó
hai
mẹ
con
xem
tuồng
“Lòng
mẹ
Việt
Nam”,
sau
này
gọi
là
“Tình
Mẫu
Tử”,
với
hai
giọng
ca
trứ
danh
của
thập
niên
1950
là
Út
Trà
Ôn
và
Cô
Ba
Kim
Anh.
Và
như
vậy,
Hiền
bắt
đầu
thấy
thích
cải
lương,
và
bắt
đầu
nuôi
mộng
đi
hát
cải
lương
….Đến
nghệ
danh
Diệu
Hiền
Từ
năm
9
tuổi,
Hiền
bắt
đầu
ngày
nào
cũng
xin
mẹ
đi
theo
đoàn
hát,
nhưng
người
mẹ
vốn
không
muốn
xa
con
nên
không
đồng
ý.
Hiền
kiên
trì
xin
mẹ
đến
năm
14
tuổi.
Một
hôm,
mẹ
Hiền
giận
quá
mới
lấy
quần
áo
đuổi
Hiền
theo
gánh
hát.
Sau
này,
Diệu
Hiền
tâm
sự,
khi
ấy,
cô
biết
do
mẹ
giận
lẫy
mới
làm
vậy,
nhưng
cô
đã
tranh
thủ
cơ
hội
đó
lấy
quần
áo
vội
vàng
chạy
đi
vì
sợ
chậm
tay
mẹ
sẽ
đổi
ý.
Thế
là
cô
bé
Lâm
Thị
Hiền
bắt
đầu
cắn
răng
xa
mẹ
để
theo
đuổi
niềm
đam
mê
cải
lương,
cũng
là
hy
vọng
kiếm
tiền
giúp
mẹ
đỡ
bề
cực
khổ.
Hồi
trước,
các
đoàn
hát
thường
đi
lưu
diễn
ở
khắp
nơi.
Khi
ấy
người
ta
gọi
là
“Gánh
hát”
hay
“Ghe
hát”,
bởi
đoàn
hát
nào
cũng
di
chuyển
bằng
ghe
trên
sông,
nơi
nào
có
chợ
là
dừng
bến
dựng
rạp,
có
hát
thì
mới
có
tiền
mua
gạo
cho
anh
em
nghệ
sĩ
và
công
nhân
hậu
đài
ăn,
sau
khi
hát
xong
thì
các
vị
‘‘vua
chúa
công
hầu’’
trên
sân
khấu
cởi
bỏ
trang
phục
treo
võng
tòng
teng
dưới
sân
khấu
mà
ngủ.
Thế
là,
cô
bé
Lâm
Thị
Hiền
đã
bắt
đầu
sống
cái
cảnh
gạo
chợ
nước
sông
như
vậy
từ
năm
14
tuổi.
Nghệ
danh
Diệu
Hiền
không
phải
do
cô
tự
chọn
mà
là
do
khán
giả
tặng
cho,
nó
đánh
dấu
tên
tuổi
của
nghệ
sĩ
Diệu
Hiền
được
khẳng
định
trong
lòng
người
mộ
điệu.
Số
là,
khi
mới
đi
hát,
vì
mê
giọng
ca
của
Vua
Xàng
Xê
Minh
Chí,
nên
Lâm
Thị
Hiền
xin
được
đặt
nghệ
danh
là
Minh
Hiền.
Vào
khoảng
năm
1960,
tại
đoàn
hát
Hoa
Sen
của
ông
bầu
Cao,
trong
một
lần
diễn
ở
Đà
Lạt
với
vở
Hoa
Tàn
Trong
Am
Vắng,
anh
kép
Mộng
Vân
(con
trai
của
soạn
giả
Mộng
Vân
Tử)
đến
giờ
diễn
mà
chưa
có
mặt,
nên
soạn
giả
Hoàng
Khâm
mới
đề
nghị
cho
Minh
Hiền
thế
vai.
Và
soạn
giả
Hoàng
Khâm
đã
sửa
vai
chú
tiểu
của
Mộng
Vân
thành
ni
cô
Diệu
Hiền
để
cho
Minh
Hiền
thủ
diễn.
Không
ngờ,
sau
xuất
diễn
đó,
khán
giả
không
còn
nhớ
đến
cái
tên
Minh
Hiền
mà
bắt
đầu
gọi
cô
là
Diệu
Hiền.
Thế
là
ông
bầu
Cao
mới
treo
băng
rôn
quảng
cáo
tên
cô
với
nghệ
danh
Diệu
Hiền,
và
nghệ
danh
đó
gắn
với
cô
cho
đến
bây
giờ.
Triệu
Thị
Trinh,
Bùi
Thị
Xuân:
Hai
vai
đào
võ
để
đời
Diệu
Hiền
đã
từng
đứng
chung
sân
khấu
với
hầu
hết
các
kép
chánh
tên
tuổi
như
Út
Trà
Ôn,
Thanh
Hải,
Minh
Cảnh,
Tấn
Tài,
Út
Hiền,
Minh
Phụng,
Minh
Vương,
Hoài
Thanh…qua
các
nhiều
đoàn
hát
như
:
Hoa
Lan
–
Xuân
Liễu,
Thống
Nhất,
Kim
Chung,
Hương
Tràm,
Tháp
Mười,
Sài
Gòn
2,
Phước
Chung…
Trên
bước
đường
ca
hát,
Diệu
Hiền
may
mắn
được
thụ
giáo
với
những
bậc
tông
sư
của
cải
lương
như
:
Bảy
Nhiêu,
Năm
Châu,
Ba
Vân,
Phùng
Há,
Tám
Vân,
Hoàng
Nô,
Út
Trà
Ôn,
Hoàng
Giang
…
Tuy
nhiên,
Diệu
Hiền
đã
biết
học
mỗi
“Thầy”
một
chút,
và
biến
thành
cái
riêng
của
mình.
Diệu
Hiền
cho
biết
là
thường
theo
dõi,
học
hỏi
cách
ca
diễn
của
các
nam
nghệ
sĩ
nhiều
hơn
các
nữ
nghệ
sĩ
đi
trước.
Xem
kỹ
lại
cách
ca
diễn
của
Diệu
Hiền,
ta
thấy
cô
có
lối
ca
hơ
hơ
ngắt
hơi
ảnh
hưởng
của
nghệ
sĩ
Bảy
Cao,
nhưng
cô
không
ca
hơ
hơ
nguyên
xi
như
ông,
mà
chất
nữ
vốn
có
trong
giọng
ca
của
cô
đã
tạo
thành
lối
vuốt
nhẹ,
êm,
truyền
cảm
hơn,
tạo
được
nét
lạ
không
trùng
lắp.
Ta
cũng
thấy
ở
Diệu
Hiền
có
lối
ca
diễn
hùng
tráng,
uy
nghi
của
Vua
Xàng
Xê
Minh
Chí,
rồi
cách
vô
vọng
cổ
chồng
vút
lên
của
Út
Trà
ôn,
rồi
bộ
chân,
bộ
tay
thì
Diệu
Hiền
chịu
ảnh
hưởng
nhiều
của
nghệ
sĩ
Hoàng
Giang.
Như
vậy,
Diệu
Hiền
đã
biết
“rút
tỉa”
tinh
hoa
của
người
đi
trước,
và
đã
trui
luyện,
sáng
tạo,
bổ
sung
theo
cách
riêng
để
biến
thành
cái
riêng
của
mình,
tức
thành
cái
“rất
Diệu
Hiền”,
và
chỉ
có
thể
tìm
thấy
ở
Diệu
Hiền.
Có
lẽ
vì
cô
bị
ảnh
hưởng
nhiều
bởi
các
nam
nghệ
sĩ,
nên
phong
cách
ca
diễn
của
Diệu
Hiền
rất
mạnh
mẽ,
oai
phong,
phù
hợp
với
vai
đào
võ.
Thêm
vào
đó,
ta
thấy
có
một
điều
mà
có
lẽ
tổ
nghiệp
đã
sắp
đặt
ban
cho
cô
:
Diệu
Hiền
có
một
bộ
dạng
mạnh
mẽ
và
một
chất
giọng
bi
hùng
rất
phù
hợp
với
vai
đào
võ,
tức
là
chỉ
mới
nhìn
bộ
tướng,
chỉ
mới
nghe
tiếng
ca
là
người
ta
đã
thấy
cái
chất
võ
tướng
trong
đó
rồi.
Diệu
Hiền
đã
không
phụ
lòng
tổ
nghiệp
khi
đã
rất
thành
công
các
vai
đào
võ
trong
đó
có
hai
vai
để
đời
là
vai
Triệu
Thị
Trinh
trong
vở
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân,
và
vai
Bùi
Thị
Xuân
trong
vở
Nữ
Tướng
Cờ
Đào.
Vai
nữ
tướng
Bùi
Thị
Xuân
là
một
vai
khó
diễn,
khó
là
bởi
vì
dù
là
vai
nữ
chính,
nhưng
xem
kỹ
lại
thì
rõ
ràng
là
Bùi
Thị
Xuân
hầu
như
thiếu
đất
diễn.
Không
hề
có
một
cảnh
tình
bi
lụy
ướt
át
để
khiến
khán
giả
thương
hại,
hay
một
trường
đoạn
kết
hợp
nhiều
bài
ca
diễn
để
diễn
viên
có
dịp
trổ
tài.
Hơn
nữa,
đây
lại
là
một
tuồng
lịch
sử,
ca
ngợi
hai
danh
tướng
Bùi
Thị
Xuân
và
chồng
bà
là
tướng
Trần
Quang
Diệu,
hai
vị
đại
tướng
của
Hoàng
đế
Quang
Trung,
đã
chiến
đấu
đến
hơi
thở
cuối
cùng
sau
khi
Quang
Trung
mất,
và
cả
gia
đình
đã
bị
Nguyễn
Ánh
xử
tử
để
báo
thù.
Thường
thì
các
tuồng
lịch
sử
thể
loại
như
thế
rất
bị
bó
buộc
về
nội
dung
nên
thiếu
chất
lãng
mạn,
lâu
lâu
mới
có
một
tuồng
lịch
sử
có
đủ
chất
“mùi”
của
cải
lương
như
Tiếng
Trống
Mê
Linh
hay
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân.
Còn
Nữ
Tướng
Cờ
Đào
thì
ngược
lại,
thiếu
hẳn
những
tình
tiết
trữ
tình,
mà
vận
hành
theo
những
tình
tiết
lịch
sử
có
vẻ
khô
khan.
Bề
ngoài
là
vậy,
nhưng
nếu
người
diễn
biết
đào
sâu
lịch
sử,
biết
nghiên
cứu
kỹ
tâm
lý
nhân
vật,
và
đặc
biệt
là
có
năng
lực
ca
diễn
thật
sự,
thì
những
vai
như
Bùi
Thị
Xuân
lại
chính
là
những
vai
dễ
lấy
lòng
công
chúng
bởi
đó
là
vai
của
một
nữ
tướng
được
xem
là
anh
hùng
dân
tộc.
Và
có
lẽ
là
tổ
nghiệp
đã
tạo
ra
một
nữ
nghệ
sĩ
Diệu
Hiền
để
cho
những
loại
vai
khó
diễn
như
Bùi
Thị
Xuân.
Với
phong
cách
diễn
oai
phong,
bộ
tịch
uy
nghi
tự
nhiên,
Diệu
Hiền
đã
không
bỏ
sót
một
chi
tiết
nào
dù
là
nhỏ
nhất
để
gửi
hết
tâm
hồn
vào
đó
và
đã
tạo
ra
một
nhân
vật
Bùi
Thị
Xuân
trên
sân
khấu
oai
phong
lẫm
liệt
và
hết
sức
tự
nhiên,
không
hề
thấy
có
sự
gượng
ép
hay
cố
gắng
tỏ
ra
oai
phong
nào
trong
cách
diễn.
Cái
oai
phong
ở
đây
được
tìm
thấy
từ
những
cái
phất
tay,
từ
ánh
mắt
nhìn,
và
đặc
biệt
từ
giọng
nói
trời
cho
đầy
sinh
lực.
Với
giọng
ca
oai
hùng
nhưng
man
mác
niềm
tâm
sự
đã
tạo
ra
nét
bi
hùng,
và
khi
cần
thiết,
Diệu
Hiền
đã
đẩy
mạnh
chất
bi
trong
giọng
ca
để
tạo
ra
một
Bùi
Thị
Xuân
đầy
tình
cảm
làm
rung
động
lòng
người.
Như
trong
lớp
diễn
Bùi
Thị
Xuân
một
mình
qua
sông
đến
trung
quân
của
tướng
Vũ
Văn
Dũng
khi
tướng
này
mang
quân
bao
vây
kinh
thành
Phú
Xuân
và
giết
chết
quan
Thái
Sư
Bùi
Đắc
Tuyên.
Đắc
Tuyên
vốn
là
cậu
ruột
của
vua
Cảnh
Thịnh
(Con
trai
vua
Quang
Trung),
và
là
chú
của
Bùi
Thị
Xuân.
Nên
khi
hay
tin
bà
đến,
võ
tướng
Vũ
Văn
Dũng
không
tin
là
bà
đến
để
giảng
hòa,
vì
ngại
bà
còn
giữ
trong
lòng
mối
thù
giết
chú.
Đây
là
lớp
diễn
thể
hiện
tài
diễn
xuất
thượng
thừa
của
Diệu
Hiền.
Trong
lớp
diễn
này,
Diệu
Hiền
đã
đẩy
mạnh
chất
bi
trong
giọng
ca
để
tạo
ra
một
cách
nói,
cách
ca
đầy
tâm
sự,
chan
chứa
tình
cảm,
với
mục
đích
là
để
cho
tướng
Vũ
Văn
Dũng
hiểu
được
tâm
ý
của
bà
là
vì
nghĩa
lớn
của
Tây
Sơn
mà
bỏ
qua
mọi
hiềm
khích,
tránh
chia
rẽ
để
cùng
nhau
đánh
dẹp
Nguyễn
Ánh.
Diệu
Hiền
có
một
giọng
cười
rất
đặc
biệt,
và
khi
ca
diễn
ba
điều
trách
cứ
đối
với
Vũ
Văn
Dũng,
ta
thấy
Diệu
Hiền
đã
kết
hợp
nhuần
nhuyễn
chất
oai
hùng
để
thể
hiện
sự
dứt
khoát
trong
cách
suy
nghĩ,
sự
chan
chứa
thâm
tình
để
thể
hiện
tình
đồng
đội
dưới
lá
cờ
Tây
Sơn.
Diệu
Hiền
đã
làm
cho
vai
diễn
thêm
phần
sống
động
với
những
tiếng
cười
rất
bi
hùng
và
rất
“Diệu
Hiền”.
Tất
cả
đã
khiến
cho
tướng
Vũ
Văn
Dũng
không
thể
nào
không
bị
thuyết
phục
cho
được.
Qua
phân
tích
bên
trên,
ta
thấy
rằng,
Diệu
Hiền
đã
thể
hiện
xuất
sắc
điều
mà
tác
giả
gửi
gấm
trong
vai
Bùi
Thị
Xuân,
một
cách
diễn
“rất
Diệu
Hiền”.
Người
dàn
dựng
tuồng
này
trong
những
năm
1980
là
nghệ
sĩ
Thanh
Tòng
đã
nhận
định:
“Bùi
Thị
Xuân
là
một
vai
bình
thường,
nhưng
khi
vào
tay
Diệu
Hiền
thì
nó
không
còn
bình
thường
nữa”.
Đến
với
vai
Triệu
Thị
Trinh
trong
vở
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân,
có
thể
nói
rằng,
đây
là
vai
khẳng
định
vị
trí
số
một
của
Diệu
Hiền
trong
nghệ
thuật
ca
diễn
vai
đào
võ.
Tất
cả
những
cái
gì
đặc
trưng
của
“phong
cách
ca
diễn
Diệu
Hiền”
đều
được
tìm
thấy
trong
vai
diễn
này.
Đoạn
hay
nhất
trong
vở
tuồng
này
được
người
mộ
điệu
ngày
nay
yêu
cầu
Diệu
Hiền
diễn
đi
diễn
lại
là
đoạn
Triệu
Thị
Trinh
khóc
thương
và
tuyên
thề
tiếp
tục
chiến
đấu
bảo
vệ
quê
hương
trước
thi
thể
của
người
bạn
cũng
là
thuộc
tướng
tên
là
Lê
Minh.
Vai
Lê
Minh
diễn
ăn
ý
nhất
với
Diệu
Hiền
là
nam
diễn
viên
Hoài
Thanh.
Trước
thi
thể
của
Lê
Minh,
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân
–
Diệu
Hiền
đã
ca
hai
câu
vọng
cổ
một
cách
đặc
sắc.
Trước
tiên,
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân-Diệu
Hiền
lạy
ba
lạy
và
sau
đó
là
thề
tiếp
tục
chiến
đấu.
Diệu
Hiền
diễn
lúc
này
không
bi
lụy,
mà
trái
lại
từng
ánh
mắt,
từng
điệu
bộ,
từng
cái
vẫy
tay,
từng
cái
lạy
…
tất
cả
điều
rất
oai
phong
và
uy
nghi,
nói
chung
là
rất
“đào
võ”.
Bên
cạnh
sự
oai
phong
đó,
Diệu
Hiền
đã
thể
hiện
nỗi
niềm
tiếc
thương
vô
hạn
đối
với
tướng
Lê
Minh
bằng
một
giọng
ca
được
phát
huy
tối
đa
chất
bi
hùng,
bằng
một
giọng
cười
đầy
uất
hận.
Có
thể
nói,
đây
là
cách
cười
độc
nhất
vô
nhị
của
Diệu
Hiền.
Người
xem
cũng
cảm
thấy
con
tim
quặn
thắt
cùng
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân
–
Diệu
Hiền
trên
sân
khấu,
nhưng
người
xem
đồng
thời
cũng
được
Nhụy
Kiều
Tướng
Quân
–
Diệu
Hiền
truyền
sang
một
ngọn
lửa
sôi
sụt
câm
thù
chống
ngoại
xâm.
Ở
đây
ta
thấy
có
một
sự
trùng
hợp
rất
thú
vị,
đó
là
Triệu
Thị
Trinh
và
Bùi
Thị
Xuân
cả
hai
đều
là
nhân
vật
nữ
lịch
sử
nổi
tiếng
của
Việt
Nam,
hai
vai
này
lại
“lọt
vào
tay”
của
cô
đào
diễn
vai
đào
võ
xuất
sắc
nhất
của
làng
sân
khấu
cải
lương
là
nghệ
sĩ
Diệu
Hiền,
bởi
vậy
mà
hình
ảnh
đầy
thiện
cảm
của
hai
vị
nữ
tướng
đã
giúp
cho
Diệu
Hiền
dễ
dàng
lấy
cảm
tình
của
khán
giả,
nhưng
hai
nhân
vật
quá
được
lòng
dân
này
cũng
gây
khó
khăn
cho
Diệu
Hiền
bởi
ca
diễn
mà
không
cẩn
thận
chẳng
những
không
tròn
vai
diễn,
mà
còn
dễ
gây
phản
cảm
đối
với
khán
giả.
Thế
nhưng,
bằng
tài
năng
ca
diễn
đặc
biệt
của
mình,
Diệu
Hiền
đã
thật
sự
trở
nên
rất
“Diệu
Dữ”
khi
đã
biến
hai
vai
diễn
nói
trên
thành
vai
diễn
để
đời.
Có
thể
nói
rằng,
hai
nhân
vật
lịch
sử
Triệu
Thị
Trinh
và
Bùi
Thị
Xuân
đã
làm
bất
tử
Diệu
Hiền
trong
lòng
người
mộ
điệu,
và
chính
Diệu
Hiền
đã
làm
bất
tử
hai
vai
diễn
về
hai
vị
nữ
tướng
này
trên
sân
khấu
cải
lương.
Một
giọng
ca
“lạ”
và
“Trường
phái
Diệu
Hiền”
Bàn
về
giọng
ca
của
Diệu
Hiền,
ta
thấy
rằng
đây
là
một
giọng
ca
“lạ”.
Ông
vua
viết
lời
vọng
cổ
Viễn
Châu
cho
rằng:
“Khi
khen
một
giọng
ca,
người
ta
thường
khen
là
giọng
ca
mùi,
ca
hay,
ca
ngọt
ngào,
ca
truyền
cảm,
nhưng
đối
với
Diệu
Hiền
thì
đây
là
một
giọng
ca
lạ.
Cô
ca
có
vẻ
ẩn
ức,
uất
nghẹn,
cô
đóng
rất
đạt
các
vai
võ
tướng”.
Soạn
giả
Viễn
Châu
đã
rất
chính
xác
khi
dùng
từ
“lạ”,
bởi
không
chỉ
đến
thời
điểm
1960,
mà
ngay
cả
đến
hiện
tại,
giọng
ca
của
Diệu
Hiền
vẫn
là
độc
nhất
vô
nhị.
Đó
là
một
giọng
ca
cao
vút
trong
trẻo,
ca
như
tiếng
nấc,
tiếng
khóc
bật
ra
từ
đáy
lòng,
những
dấu
nhấn
sắc,
hỏi,
ngã
được
Diệu
Hiền
ca
vút
lên
thật
ngọt,
thật
chín,
đặc
biệt
là
những
đoạn
ngân
cuối
câu
Diệu
Hiền
hơ
hơ
một
cách
“đứt
mà
không
đứt”
nghe
rất
lạ,
tạo
thành
sắc
thái
riêng
của
Diệu
Hiền.
Trong
giọng
ca
Diệu
Hiền,
có
mấy
điểm
sau
đây
cần
nhấn
mạnh.
Thứ
nhất,
ta
thấy
nét
dễ
nhận
ra
nhất
trong
lối
ca
của
Diệu
Hiền
chính
là
cách
ca
ngắt
chữ
trong
cách
ngân,
cách
vuốt
“đứt
dây
đờn”
những
chữ
mang
dấu
sắc,
hỏi,
nặng,
và
chính
cách
ca
đánh
mạnh
vào
các
dấu
này
đã
tạo
nên
một
cung
bậc
bổng
trầm
rõ
rệt,
nghe
thật
du
dương
và
rất
êm
tai.
Muốn
ca
như
Diệu
Hiền
là
rất
khó,
đòi
hỏi
phải
có
giọng
cao,
hơi
khỏe
và
ca
ngọt,
mùi,
đặc
biệt
là
phải
chắc
nhịp.
Về
điểm
này,
ta
thấy
Diệu
Hiền
có
cách
sắp
chữ
rất
đều
và
chắc
nhịp.
Thứ
hai,
ta
thấy
rằng,
Diệu
Hiền
vuốt
chữ
mang
dấu
nặng
khi
xuống
vọng
cổ
rất
tuyệt.
Không
phải
chỉ
có
Diệu
Hiền
mới
vuốt
dấu
nặng
khi
vô
vọng
cổ,
mà
vì
cô
có
chất
giọng
mạnh
mẽ,
lạ,
nên
cô
vuốt
dấu
nặng
khi
xuống
giọng
cổ
nghe
cũng
rất
lạ,
rất
hay,
nghe
rồi
không
mê
là
không
được.
Chẳng
hạn
như,
trong
bài
vọng
cổ
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn,
khi
vô
vọng
cổ
câu
4,
Diệu
Hiền
vuốt
chữ
“bạn”
rất
hay:
“La
Thành
ơi,
anh
trách
em
ở
ăn
chi
quá
nghiệt,
nỡ
vun
gươm
giết
thác
bạn
(vuốt)…anh
hùng”.
Một
điểm
đáng
chú
ý
nữa
là
lối
vô
vọng
cổ
rất
“lạ”
của
Diệu
Hiền.
Như
Diệu
Hiền
đã
nói
là
học
cách
vô
vọng
cổ
của
nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn,
thế
nhưng
ta
thấy
với
giọng
ca
mạnh
mẽ,
và
lối
ca
nhấn
dấu,
Diệu
Hiền
đã
tạo
được
một
trường
phái
riêng
của
mình,
đó
là
vô
vọng
cổ
tưởng
không
ngọt
mà
rất
ngọt.
Tức
là,
khi
nghe
Diệu
Hiền
vô
vọng
cổ,
ta
có
cảm
giác
sợ
cô
bị
nghẽn
không
xuống
ngọt
được
câu
vọng
cổ,
thế
nhưng
cô
đã
điều
hơi
một
cách
thần
sầu
và
xuống
vọng
cổ
một
cách
ngọt
như
mía
lùi.
Trường
phái
ca
nhấn
nhá
dấu
đặc
biệt
này,
lối
xuống
vọng
cổ
đặc
biệt
này
ta
thấy
hậu
duệ
của
Diệu
Hiền
đến
hiện
tại
có
hai
người
:
Trước
có
Hà
Mỹ
Xuân,
sau
có
Vũ
Linh.
Nữ
nghệ
sĩ
Hà
Mỹ
Xuân
trong
những
ngày
chập
chững
vào
nghề
đã
được
sự
chỉ
dẫn
của
nghệ
sĩ
Diệu
Hiền,
và
Hà
Mỹ
Xuân
cũng
có
lối
ca
mạnh
mẽ
nhấn
dấu
rất
lạ.
Còn
Vũ
Linh
cũng
đã
được
Diệu
Hiền
dìu
dắt
vào
nghề,
và
anh
đã
chịu
ảnh
hưởng
nhiều
của
Diệu
Hiền
trong
cách
vuốt
những
dấu
sắc,
hỏi,
nặng
rất
tuyệt.
Càng
về
sau,
ta
thấy
Vũ
Linh
càng
áp
dụng
cách
vuốt
“đứt
dây
đờn”
này
khi
ca
diễn.
Chấn
động
làng
cổ
nhạc
với
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
và
Trụ
Vương
Thiêu
Mình
Mấy
năm
nay,
giọng
ca
Diệu
Hiền
lại
gây
chấn
động
trong
làng
cổ
nhạc
với
hai
bài
vọng
cổ
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
và
Trụ
Vương
Thiêu
Mình
của
soạn
giả
Viễn
Châu.
Bài
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
thì
kể
lại
việc
Đơn
Hùng
Tín
đi
hành
thích
vua
nhà
Đường
là
Lý
Thế
Dân,
bị
bắt
và
xử
tử
bởi
chính
những
người
anh
em
kết
nghĩa
mà
ông
đã
từng
một
thuở
cưu
mang.
Người
trực
tiếp
chém
đầu
Đơn
Hùng
Tín
lại
là
võ
tướng
La
Thành,
người
mà
trước
đây
họ
Đơn
phải
vất
vả
cưu
mang
nhiều
nhất.
Lúc
chém
Đơn
Hùng
Tín,
thì
một
trong
số
những
người
anh
em
kết
nghĩa
là
Tần
Quỳnh
có
việc
công
cán
ở
xa,
nên
khi
trở
về
thì
Đơn
Hùng
Tín
đã
bị
giết
rồi.
Viễn
Châu
viết
bài
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
là
để
bày
tỏ
tâm
tình
của
Tần
Quỳnh
trước
cái
chết
của
Đơn
Hùng
Tín.
Đây
là
một
bài
ca
hay,
dù
lấy
đề
tài
cổ
xưa
nhưng
rất
được
yêu
thích
bởi
nó
chạm
đến
một
đề
tài
muôn
thuở
đó
là
tình
bằng
hữu,
thêm
vào
đó
là
cách
hành
văn,
sắp
chữ
rất
dễ
hiểu,
dễ
ca.
Trong
bài
ca
này
có
hai
câu
mà
soạn
giả
Viễn
Châu
và
người
mộ
điệu
rất
tâm
đắc,
đó
là:
“Dù
không
thương
cũng
đừng
nên
hạ
thủ,
giết
kẻ
thù
chớ
giết
bạn
đành
sao?”.
Còn
bài
Trụ
Vương
Thiêu
Mình
thì
đề
cập
đến
việc
Trụ
Vương
hoan
dâm
vô
đạo
mê
đắm
Đắc
Kỷ
dẫn
đến
họa
diệt
vong.
Viễn
Châu
nói
về
tâm
tình
của
vua
Trụ
khi
bị
quân
khởi
nghĩa
tứ
phía
bao
vây
và
phải
tự
thiêu
ở
Trích
Tinh
Lầu.
Cũng
như
Viễn
Châu
xác
nhận,
là
hai
bài
ca
này
được
ông
viết
để
cho
những
giọng
ca
nam.
Mà
dù
là
giọng
ca
nam
đi
nữa,
thì
thật
sự
mà
nói
cần
phải
có
một
giọng
có
đủ
chất
bi
hùng.
Ở
đây,
ta
nhấn
mạnh
từ
“có
đủ”,
bởi
dư
một
chút
“bi”
cũng
không
được,
mà
thừa
một
chút
“hùng”
cũng
chẳng
hay.
Một
cái
khó
khác
là
hai
bài
ca
này
bàn
đến
một
câu
chuyện
quá
xa
xưa,
mà
thường
thì
những
đề
tài
cổ
hay
được
soạn
giả
chọn
cho
những
từ
ngữ
và
điển
tích
cổ,
rất
khó
thu
hút
người
nghe,
nhất
là
giới
trẻ.
Đối
với
Diệu
Hiền,
khi
thể
hiện
hai
bài
ca
này,
cô
chẳng
những
gặp
những
cái
khó
nêu
trên,
mà
cô
còn
chịu
một
thử
thách
khác
cũng
rất
hóc
búa,
đó
là
bài
Trụ
Vương
Thiêu
Mình
là
bài
ruột
của
Vua
ca
vọng
cổ
Út
Trà
Ôn,
còn
bài
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
là
bài
ruột
của
danh
ca
Thanh
Hải.
Hai
cái
bóng
này
quả
thật
quá
lớn
để
khán
giả
có
thể
mở
lòng
chấp
nhận
một
giọng
ca
khác.
Ấy
thế
mà
Diệu
Hiền
đã
làm
được.
Với
bộ
nhịp
chắc
chắn,
với
lối
ca
điêu
luyện,
với
giọng
ca
và
cách
ca
“lạ”
oai
hùng
mà
chứa
chan
tình
cảm,
Diệu
Hiền
đã
thể
hiện
thành
công
hai
bài
ca
nói
trên,
được
người
mộ
điệu
hoan
nghênh
nhiệt
liệt.
Như
đã
nói,
trong
bài
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn,
chỉ
nghe
Diệu
Hiền
vuốt
chữ
“bạn”
khi
xuống
vọng
cổ
câu
4
là
người
nghe
đủ
“lạnh
xương
sống”.
Hay
như
khi
xuống
vọng
cổ
câu
1
của
bài
Trụ
Vương
Thiêu
Mình,
Diệu
Hiền
cũng
vuốt
“đứt
dây
đờn”
chữ
“vội”:
“Trời
ơi
đám
tôi
trung
đã
phản
trụ
đầu
Châu,
kéo
binh
về
đây
vấn
tội.
Trong
khi
Hoàng
hậu
Tô
Nương
đã
bỏ
ta
mà
vội
(vuốt)
bôn….đào”.
Đặc
biệt,
trong
hai
bài
ca,
Diệu
Hiền
đã
sử
dụng
rất
thành
công
giọng
cười
bi
hùng
rất
riêng
của
cô.
Có
thể
nói,
trong
làng
sân
khấu
cải
lương,
chưa
thấy
có
cô
đào
nào
có
một
kiểu
cười
và
giọng
cười
đầy
chất
bi
hùng
đến
như
vậy.
Đến
hiện
tại,
sau
Út
Trà
Ôn
và
Thanh
Hải,
Diệu
Hiền
không
phải
là
nghệ
sĩ
duy
nhất
thể
hiện
hai
bài
ca
này.
Ấy
thế
nhưng,
để
đạt
được
độ
bi
hùng
già
dặn
trong
giọng
ca
và
điệu
bộ
thể
hiện
oai
phong
như
Diệu
Hiền
thì
chưa
thấy
ai.
Nhiều
giọng
ca
khác
cũng
đã
chọn
ca
bài
này,
nhưng
không
phải
là
họ
ca
không
hay,
mà
là
có
người
thì
ca
diễn
buồn
quá
khiến
cho
người
nghe
có
cảm
giác
bi
lụy,
có
người
thì
oai
hùng
quá
mức
làm
mất
chất
bi
trong
bài
ca.
Với
Diệu
Hiền
thì
khác,
hai
bài
ca
đã
được
thê
hiện
một
cách
bi
mà
không
lụy,
oai
phong
mà
tình
cảm.
Và
hiện
tại,
đối
với
khán
giả,
mà
đặc
biệt
là
giới
trẻ,
hễ
nhắc
đến
hai
bài
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
và
Trụ
Vương
Thiêu
Mình
là
nghĩ
ngay
đến
Diệu
Hiền,
mà
hễ
nhắc
đến
giọng
ca
Diệu
Hiền
thì
nghĩ
ngay
đến
Trụ
Vương
Thiêu
Mình
và
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn.
Chia
sẻ
về
thành
công
này
của
Diệu
Hiền,
soạn
giả
Viễn
Châu
cho
biết:
“Tôi
phục
tài
nghệ
của
Diệu
Hiền
khi
cô
thể
hiện
2
bài
ca
cổ
Tần
Quỳnh
Khóc
Bạn
và
Trụ
Vương
Thiêu
Mình.
Thật
ra,
2
bài
này
tôi
viết
cho
kép
ca.
Thanh
Hải
và
anh
Mười
Út
Trà
Ôn
là
hai
nghệ
sĩ
thể
hiện
xuất
sắc
tâm
can
bài
này.
Song
một
ngày,
tôi
nghe
điện
thoại
của
Diệu
Hiền:
“Thưa
thầy,
con
xin
được
ca
2
bài
đó”.
Tôi
hỏi:
“Cô
có
kham
nổi
không?”.
Diệu
Hiền
quả
quyết:
“Con
sẽ
ráng”.
Quả
nhiên,
sự
mạnh
mẽ
của
Diệu
Hiền
đã
làm
tôi
kinh
ngạc
khi
nghe
những
trường
độ,
cao
độ
mà
cô
sắp
xếp
để
nhả
chữ,
lấy
hơi
và
đưa
khí
tiết
dũng
mãnh
vào
từng
câu
hò,
câu
xề
của
bài
vọng
cổ”.
Trao
gửi
nghiệp
cầm
ca
Tóm
lại,
nói
về
Diệu
Hiền,
ta
có
thể
khẳng
định
rằng,
cô
là
“Đệ
nhất
đào
võ”
của
sân
khấu
cải
lương.
Chữ
“Đào
võ”
ở
đây
không
hạn
chế
trong
việc
đóng
vai
nữ
tướng
trên
sân
khấu,
mà
ở
Diệu
Hiền
còn
được
thể
hiện
qua
bộ
tướng
và
giọng
ca.
Có
thể
nói
rằng,
trong
hình
dáng
của
cô
và
giọng
ca
của
cô
đã
có
đầy
đủ
tố
chất
nữ
võ
tướng.
Đặc
biệt
là
giọng
ca
được
cho
là
“lạ”
của
cô.
Hơn
50
“ăn
cơm
tổ”,
và
đến
hiện
tại
Diệu
Hiền
cũng
vẫn
còn
tiếp
tục
“ăn
cơm
tổ”
khi
thường
xuyên
tham
gia
ca
hát
ở
nhiều
địa
điểm
mà
không
ngại
xa
xôi.
Trong
hơn
nửa
thế
kỷ
đó,
đóng
góp
của
Diệu
Hiền
cho
sân
khấu
cải
lương
là
vô
cùng
to
lớn,
trong
đó
có
hai
điểm
cần
nhấn
mạnh:
Thứ
nhất,
Diệu
Hiền
đã
tạo
một
trường
phái
riêng
góp
phần
làm
phong
phú
cho
sân
khấu
cải
lương,
trường
phái
xin
được
gọi
là
“Trường
phái
Diệu
Hiền”,
một
trường
phái
rất
riêng
về
giọng
ca
và
cách
ca
nhấn
dấu
bổng
trầm
độc
đáo;
Thứ
hai,
đó
là
Diệu
Hiền
đã
thể
hiện
được
tinh
thần
“Tre
tàn
măng
mọc”
khi
luôn
có
ý
thức
đào
tạo
thế
hệ
kế
thừa,
mà
trong
đó
hai
“đệ
tử”
thành
công
nhất
của
Diệu
Hiền,
đó
là
nữ
nghệ
sĩ
Hà
Mỹ
Xuân
và
nam
nghệ
sĩ
Vũ
Linh.
Tấm
lòng
này
của
Diệu
Hiền
rất
đáng
được
trân
trọng
bởi
nó
cần
thiết
hiện
diện
ở
tất
cả
nghệ
sĩ
xưa
cũng
như
nay
trong
việc
trao
truyền
nghiệp
cầm
ca.
Tinh
thần
đó
của
Diệu
Hiền
có
thể
được
tóm
lược
qua
lời
tâm
sự
của
một
nhân
vật
mà
Diệu
Hiền
thủ
diễn
trong
vở
cải
lương
Người
Đưa
Đò
của
soạn
giả
Hoàng
Song
Việt:
“Cha
mẹ
cho
hình
hài,
những
bậc
thầy
bậc
anh
bậc
chị
mỗi
người
cho
một
chút
nghề
là
để
phục
vụ
cho
khán
giả.
Chứ
đó
không
phải
là
tài
sản
của
riêng
người
nghệ
sĩ
mà
muốn
hủy
diệt
khi
nào
thì
hủy
diệt”.
Lê
Phước
-
RFI
Tác
giả
bài
viết:
tuyetmai
&
meoxu
Nguồn
tin:
RFI
Ý kiến bạn đọc