Toàn
là
con
gái
Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
cho
biết,
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
do
bà
Ba
Viện
(Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
gọi
là
cô
ruột,
tên
thật
của
bà
là
Trần
Ngọc
Viện)
sáng
lập.
Bà
Ba
Viện
là
người
làng
Vĩnh
Kim,
huyện
Châu
Thành,
Tiền
Giang
ngày
nay.
Nói
một
chút
về
cuộc
đời
bà
Ba
Viện.
Bà
có
chồng
là
con
một
ông
Phán
nhưng
mất
sớm.
Bà
sống
chung
tình
cho
tới
khi
qua
đời.
Đến
khoảng
năm
1915
-
1916,
được
một
người
bạn
giới
thiệu,
bà
lên
Sài
Gòn
và
dạy
học.
Bà
Ba
Viện
được
nhận
vào
trường
Nữ
Học
Đường
(hay
còn
gọi
là
trường
áo
Tím,
sau
này
là
trường
Gia
Long
và
trường
Nguyễn
Thị
Minh
Khai
ngày
nay)
dạy
môn
đàn
của
khoa
Gia
Chánh.
Vốn
là
một
người
biết
nhiều
điệu
hát,
lại
biết
sử
dụng
nhiều
loại
nhạc
cụ
dân
tộc,
điêu
luyện
nhất
là
đàn
thập
lục
(hay
còn
gọi
là
đàn
tranh
như
bây
giờ)
và
đàn
tỳ
bà
nên
bà
rất
được
coi
trọng
tại
trường.
Ngoài
ra,
người
ta
còn
biết
đến
bà
Ba
Viện
với
nhiều
tài
khác
như
may
vá,
thêu
thùa.

Gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
giờ
chỉ
còn
lại
trong
tiềm
thức
của
một
số
người
Khi
giảng
dạy
tại
trường
Nữ
Học
Đường
bà
đọc
nhiều
sách
báo
tiến
bộ,
được
biết
đến
nhiều
nhà
yêu
nước
thời
ấy.
Chính
vì
vậy,
bà
bị
tình
nghi
là
theo
cách
mạng
cùng
với
em
rể
mình,
tức
ông
Nguyễn
Văn
Bá,
chủ
bút
tờ
báo
Thần
Chung.
Tuy
nhiên,
đó
cũng
chỉ
mới
là
sự
nghi
ngờ.
Đến
năm
1926,
sau
khi
dự
đám
tang
cụ
Phan
Chu
Trinh,
một
nhà
yêu
nước
chống
Pháp,
bà
bị
trường
Nữ
Học
Đường
sa
thải.
Kể
từ
đó,
trường
áo
Tím
cũng
không
còn
môn
dạy
đaần
nữa.
Về
lại
quê
nhà,
bà
tiếp
tục
các
hoạt
động
của
mình.
Đến
năm
1927,
bà
đứng
ra
thành
lập
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
quy
tụ
những
cô
gái
trong
vùng.
Đồng
Nữ
Ban
không
phải
là
đàn
bà
mà
là
các
cô
gái
ở
làng
Vĩnh
Kim
và
các
làng
lân
cận
như:
Bình
Hòa
Đông
(Đông
Hòa
ngày
nay),
Rạch
Gầm,
Kim
Sơn,
Đông
Hưng.
Các
cô
gái
này
xuất
thân
trong
các
hoàn
cảnh
gia
đình
khác
nhau,
đa
phần
là
nông
dân,
thậm
chí
có
cả
con
nhà
địa
chủ.
Họ
chưa
đi
hát
lần
nào.
Tuy
nhiên,
không
phải
ai
cũng
được
vào
gánh
hát
này
mà
phải
qua
buổi
thử
giọng
và
diễn
thử
do
cô
Ba
tuyển
lựa.
Khi
được
chọn
lựa,
các
diễn
viên
sẽ
được
cô
Ba
đưa
về
tại
làng
Đông
Hòa
để
đào
tạo.
Tại
đây,
các
cô
gái
được
học
về
nghệ
thuật,
văn
hóa
và
cả
võ
thuật.
Họ
học
như
những
nữ
sinh
nội
trú
bây
giờ.
Ngoài
giờ
học
hát,
học
diễn
thì
còn
có
lịch
học
văn
hóa,
may
vá,
thêu
thùa,
nữ
công
gia
chánh.
Lịch
học
được
sắp
xếp
theo
một
trình
tự
nhất
định
trong
cả
tuần
và
có
quy
định
nghiêm
ngặt
cho
việc
thực
hiện.
Riêng
cách
ăn
nói,
đi
đứng,
trang
phục
luôn
phải
nhẹ
nhàng,
khéo
léo,
kín
đáo
và
nghiêm
túc.
Ví
như,
đi
chợ,
đi
hát
thì
các
cô
gái
bắt
buộc
phải
mặc
áo
dài
tím
(giống
như
những
nữ
sinh
trường
áo
Tím),
tóc
phải
bỏ
xõa,
kẹp
sau
lưng
và
sắp
hàng
hai.
Còn
ở
nhà,
các
cô
gái
thường
mặc
áo
bà
ba.
Sau
khi
lĩnh
hội
được
những
kiến
thức
căn
bản
và
biết
diễn
xuất
thì
gánh
đi
diễn.
Họ
di
chuyển,
ăn
ở
trên
ghe
lớn,
loại
dành
cho
50,
60
người
sinh
hoạt.

Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
cũng
từng
được
cô
Ba
Viện
nuôi
dạy
khi
còn
bé
Đoản
mệnh
Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
cho
biết,
các
vở
diễn,
cô
Ba
đều
lấy
trong
tiểu
thuyết
giả
sử
Giọt
lệ
chung
tình
của
Nguyễn
Hữu
Ngỡi
(hay
còn
gọi
là
Nghĩa).
Cô
không
bao
giờ
lấy
các
điển
tích
hay
chuyện
trong
lịch
sử
Trung
Quốc
như
một
số
các
gánh
hát
thời
ấy
vẫn
thường
làm.
Thầy
tuồng
là
Ông
Nguyễn
Tri
Khương
(giáo
sư
Trần
Văn
Khê
gọi
bằng
cậu
Năm),
sắp
lớp,
đặt
tuồng
và
đổi
tên
tuồng
là
Giọt
lệ
chung
tình.
Lời
văn
theo
thể
biền
ngẫu,
có
vần
điệu
và
đối
đáp.
Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
kể
lại
câu
chuyện
về
Võ
Đông
Sơ
và
Bạch
Thu
Hà
mà
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
thời
ấy
diễn
rất
thành
công:
"Vào
một
buổi
chiều,
Bạch
Thu
Hà
lên
chùa
lễ
phật,
thấy
cảnh
vắng
vẻ,
một
tên
côn
đồ
đã
dùng
vũ
lực
để
cướp
nữ
trang.
Trước
cảnh
bất
bình,
Võ
Đông
Sơ
ra
tay
nghĩa
hiệp,
đánh
tên
côn
đồ
chạy
mất
vía
và
trả
lại
nữ
trang
cho
cô
gái.
Sau
khi
tìm
hiểu,
Bạch
Thu
Hà
thấy
chàng
trai
không
chỉ
ăn
nói
có
duyên,
tuấn
tú
mà
còn
biết,
chàng
là
người
có
văn
võ
song
toàn,
học
rộng
tài
cao
nên
đem
lòng
yêu
mến.
Hai
người
như
gặp
nhau
từ
thuở
nào,
Bạch
Thu
Hà
trao
chiếc
trâm
cài
và
thề
non
hẹn
bể
với
chàng
trai
Võ
Đông
Sơ.
Đến
kì
thi
võ
trạng
nguyên,
có
môn
thi
bắn
cung,
Võ
Đông
Sơ
bắn
trúng
đích
3
mũi
liên
tục
còn
người
cạnh
tranh
với
chàng
là
Bạch
Thiên
Hương
(anh
ruột
Bạch
Thu
Hà)
lại
chỉ
trúng
2
mũi.
Thế
là
võ
trạng
nguyên
thuộc
về
Võ
Đông
Sơ.
Tức
vì
thua
cuộc,
Bạch
Thiên
Hương
yêu
cầu
đấu
với
với
Võ
Đông
Sơ
để
phân
tài
cao
thấp,
nhưng
các
quan
khảo
thí
đã
không
cho
phép
và
công
nhận
tân
võ
trạng
nguyên
là
Võ
Đông
Sơ.
Tức
chuyện
thua
cuộc,
Bạch
Thiên
Hương
về
nhà,
lấy
quyền
huynh
thế
phụ
(vì
cha
mất
sớm)
gả
Bạch
Thu
Hà
cho
một
công
tử
bột
giàu
có,
tên
Vương
Bích.
Không
đồng
ý,
Bạch
Thu
Hà
viện
lý
do
là
chưa
mãn
tang
cha
nhưng
vẫn
bị
ép
buộc.
Nàng
trốn
khỏi
nhà
để
trọn
tình
với
Võ
Đông
Sơ.
Trên
đường
lang
thang,
Bạch
Thu
Hà
suýt
mất
mạng
vì
gặp
phải
cọp
nhưng
rồi
cũng
qua
hoạn
nạn.
Thế
nhưng
khi
gặp
phải
một
bọn
cướp
thì
nàng
không
thể
thoát
thân.
Trại
chủ
của
bọn
cướp
thấy
Bạch
Thu
Hà
xinh
đẹp,
ngỏ
ý
muốn
cưới
là
trại
phu
nhân.
Một
lần
nữa,
nàng
định
trốn
thoát
nhưng
không
được
vì
bị
canh
giữ
hết
sức
cẩn
mật.
Trước
tình
thế
đó,
nàng
có
ý
định
sẽ
quyên
sinh.
Trong
khi
đó,
Võ
Đông
Sơ
đã
đậu
trang
nguyên
và
đi
tuần
thú
gặp
trại
chủ
của
băng
cướp
là
Triệu
Dõng,
một
người
bạn
tri
kỷ.
Khi
biết
câu
chuyện
tình
của
bạn
mình,
Triệu
Dõng
đã
bỏ
ý
định
cưới
Bạch
Thu
Hà
và
trả
lại
người
yêu,
cho
trai
tài
gái
sắc
được
gặp
nhau.
Vở
tuồng
đến
đây
là
kết
thúc,
theo
kiểu
kết
có
hậu,
nhân
dân
ai
nấy
xem
đều
vỗ
tay
hồi
lâu
không
ngớt.
Cũng
vì
những
vở
diễn
mang
tính
nhân
văn
cao,
kết
thúc
có
hậu
và
bênh
vực
những
kẻ
thấp
cổ
bé
họng,
yếu
thế
trong
thời
cuộc
nên
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
đã
bị
rút
giấy
phép,
khi
ra
đời
mới
hơn
một
năm.
Hơn
thế
nữa,
nhiều
đoạn,
nhiều
vở,
chất
cổ
súy
cho
cách
mạng
thấy
rõ
nên
gánh
hát
đã
bị
theo
dõi
liên
tục.
Ví
như
đoạn
Võ
Đông
Sơ
đánh
bại
tên
cướp
và
dẫm
chân
lên
tên
tướng
cướp
hỏi:
"Sao
nhà
ngươi
đem
cường
quyền
đạp
công
lý,
mượn
võ
lực
dốc
tung
hoành.
Nhà
ngươi
có
biết,
phạm
tự
do
thì
xã
hội
dám
hy
sinh.
Đạp
công
lý
quốc
dân
đành
xả
mạng”.
Tên
cướp
ngụy
biện
trả
lời:
"Nước
non
cũng
vẫn
nước
non,
kẻ
lầu
son
kẻ
sao
phận
bạc.
Thân
trâu
ngựa
nên
tâm
hồn
cũng
trâu
ngựa”.
Võ
Đông
Sơ
ngắt
lời
và
nói:
"Nhà
ngươi
nên
nhớ,
lấy
bạc
tiền
làm
nô
lệ
cho
thân
hình,
chớ
nhà
ngươi
đừng
để,
vì
tiền
bạc
mà
thân
hình
làm
nô
lệ.
Ôi
tệ
ôi
rất
tệ”.
Riêng
vở
Giọt
lệ
chung
tình
thì
diễn
chưa
được
một
năm,
mới
có
một
vài
buổi
ở
Vĩnh
Kim,
vài
buổi
ở
Sài
Gòn.
Nghe
tin
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
bị
thu
giấy
phép
hoạt
động,
nhiều
người
thời
ấy
chỉ
biết
tiếc
nuối.
Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
cũng
cho
biết
thêm,
thời
ấy,
mỗi
khi
diễn,
sân
khấu
cũng
được
cô
Ba
và
cậu
Năm
bố
trí
sắp
xếp
hết
sức
khoa
học.
Mỗi
màn,
họa
sỹ
phải
nắm
được
nội
dung
và
có
cách
thể
hiện
phông
sân
khấu
cho
phù
hợp.
Thêm
vào
đó,
giữa
mỗi
màn
đều
có
một
tấm
ri
đô
màu
đỏ
kéo
ngang.
Trong
lúc
chờ
đợi,
khán
giả
sẽ
được
nghe
các
làn
điệu
nhạc
dân
tộc,
chứ
không
có
nhạc
Tây
như
một
số
gánh
hát
khác
thực
hiện.
Diễn
viên
phải
có
võ
Gánh
hát
này
toàn
là
con
gái
vốn
chân
yếu
tay
mềm
nhưng
khi
diễn
các
lớp,
đoạn
có
võ
thì
bắt
buộc
phải
học
võ.
Họ
được
thầy
Hai,
một
võ
sư
dòng
võ
Bình
Định
dạy
các
đường
quyền,
đường
roi,
thế
tấn
và
diễn
với
binh
khí
thật,
chứ
không
phải
các
đạo
cụ
như
ngày
nay.
Cái
khó
nhất,
là
đánh
giá
nhưng
làm
sao
cho
người
xem
thấy
các
nhân
vật
đánh
thật.
Chính
vì
thế,
gánh
hát
này
đã
tạo
được
ấn
tượng
mạnh
với
công
chúng
thời
ấy.
Trung
Nghĩa
Ý kiến bạn đọc