Chúng
tôi
được
xem
buổi
công
diễn
vở
cải
lương Vua
Phật do
Nhà
hát
Cải
lương
Việt
Nam
dàn
dựng,
tại
Trung
tâm
Nghệ
thuật
Âu
Cơ-
Hà
Nội.
Tác
giả
kịch
bản
Bùi
Hữu
Dược.
Đạo
diễn
NSUT
Triệu
Trung
Kiên.
Chuyển
thể
Cải
lương
NSUT
Triệu
Quang
Vinh.
Âm
nhạc,
nhạc
sĩ
Giáng
Son.
Cố
vấn
chương
trình:
Ban
Văn
hóa
Trung
ương
giáo
Hội
Phật
giáo
Việt
Nam.
Vở
Cải
lương Vua
Phật kể
chuyện
cuộc
đời
Phật
hoàng
Trần
Nhân
Tông
làm
Vua,
làm
Phật.
Phật
hoàng
Trần
Nhân
Tông (1258-
1308).
“Đức
Vua
Trần,
một
ông
vua
đã
khước
từ
tước
vị
cao
sang,
giã
biệt
chốn
phồn
hoa
đô
hội
lên
non
xanh
Yên
Tử
tu
hành
để
trở
thành
một
Đức
Phật
Đại
Hùng,
Đại
Lực,
Đại
Trí
và
Đại
Bi”.
Hơn
sáu
trăm
năm
nay.
Dòng
chảy
Thiền
Trúc
Lâm
Yên
Tử
do
Vua
Phật
sáng
lập,
luôn
hướng
Thiện
trong
mỗi
người
Việt
sống
có
Đạo.
Đạo
sáng
Đời.
Chọn
Nghệ
thuật
Cải
lương
là
ca
kịch để
biểu
hiện
Vua
Phật. Các
tác
giả
và
diễn
viên
dùng
vốn
dân
ca
nhạc
cổ
rất
phong
phú
của
Nam
Bộ.
Nghệ
thuật
Cải
lương
hòa
hợp
dàn
nhạc
cổ
và
dàn
nhạc
tân.
Dàn
nhạc
cổ
giữ
vai
trò
chủ
chốt,
là
linh
hồn
của
tuồng
Cải
lương.
Dàn
nhạc
trong
Cải
lương
không
chỉ
nâng
đỡ,
phụ
hoạ
cho
giọng
hát,
mà
còn
tô
điểm
cho
từng
giai
điệu,
làm
nổi
bật
chiều
sâu
tâm
lý
nhân
vật,
tạo
kịch
tính
cho
kịch
bản,
góp
phần
cho
sự
thành
công
của
tuồng
diễn.
Diễn
xuất
và
lời
ca
của
diễn
viên
vang
lên,
nhờ
dàn
nhạc,
bừng
tỏa
hào
khí
và
xúc
động
tới
người
xem
về
hình
tượng
Vua
Phật:
Rũ
bỏ
lợi
danh
thả
Tâm
nhàn
Trọn
đời
hạnh
nguyện
nước
non
an
Minh
quân
giữ
nước
ngời
sát
Thát
Sơ
Tổ
vì
dân
dựng
thảo
đàn
Trúc
Lâm
Thiền
phái
vang
Phật
Quốc
Cư
trần
lạc
Đạo
ngát
nhân
gian
Phản
quang
tự
kỷ
Tâm
Phật
sáng
Nết
dụng
sơn
lâm
đặng
Niết
Bàn
Trí
đức
viên
dung
hòa
hợp
thế
Nhật
Nguyệt
hùng
huy
tại
giang
san.
Lời
thoại
cất
cao
nhịp
điệu,
tiếng Vua
Phật vang
giữa
đời
này:
“Làm
vua
lúc
xã
tắc
thái
bình
tưởng
dễ
mà
khác
gì
chia
thịt
hổ.
Để
cho
người
đời
thấu
lý,
trên
dưới
thuận
tình,
pháp
trị
dầu
nghiêm,
nhưng
không
khỏi
lỗi
lầm
chính
trong
nội
thân
Hoàng
tộc.
Chỉ
có
Đức
Phật
khiến
lẽ
Lục
hòa
thấu
tỏ,
để
trên
dưới
nhất
tâm
xây
xã
tắc
trường
tồn”.
Vua
Phật
Đại
Hùng,
Đại
Trí,
Đại
Bi
Với
cách
kể
chuyện
chương
hồi
theo
hành
trình
cuộc
đời.
Vở
Cải
lương Vua
Phật làm
nổi
bật
hình
bóng,
nhân
cách,
tư
tưởng,
tình
yêu
thương,
Đức,
Trí,
Dũng
của
Phật
Hoàng
lúc
là
Thái
tử
Trần
Khâm,
đến
khi
làm
vua,
rồi
thành
Phật.
Năm
16
tuổi
(1274).
Ngài
được
lập
làm
Đông
cung
Thái
tử.
Ngài
kết
duyên
cùng
công
chúa
Quyên
Thánh,
con
gái
Hưng
Đạo
Đại
Vương.
Vua
Trần
Thánh
Tông
đã
mời
các
bậc
lão
thông
Nho
giáo, Tứ
thư,
Ngũ
kinh dạy
cho
Ngài
như
Lê
Phụ
Trần,
Nguyễn
Thánh
Huấn,
Nguyễn
Sĩ
Cố.
Chính
vua
cha
đã
soạn Di
hậu
lục dạy
Thái
tử
cách
xử
thế,
chuẩn
bị
làm
vua.
Về
Phật
pháp.
Thái
tử
học
đạo
với
Tuệ
Trung
Thượng
Sĩ.
Thượng
Sĩ
hết
lòng
hướng
dẫn
những
yếu
nghĩa
Thiền
tông.
Ngài
tâm
đắc
câu: “Phản
quan
tự
kỷ
bổn
phận
sự,
bất
tùng
tha
đắc” (Quan
sát
lại
chính
mình
đó
là
bổn
phận,
không
do
người
khác
làm
được)
và
tôn
Tuệ
Trung
Thượng
Sĩ
làm
Thầy.
Ngài
thường
tới
chùa
Tư
Phúc
trong
kinh
thành
để
tụng
kinh,
tọa
Thiền,
lễ
bái
Tam
bảo.
Cư
trần
lạc
Đạo
ngát
nhân
gian
Năm
21
tuổi
(1279).
Ngài
được
Trần
Thánh
Tông
truyền
ngôi
vua
Đại
Việt.
Ngài
lấy
Đức
trị
dân,
an
cư,
lạc
nghiệp.
Ngài
không
ham
hố
ghế
vua.
Trong
triều,
Ngài
thường
chay
tịnh.
Hướng
Tâm
về
Phật
pháp.
Thế
giới
nội
tâm
của
Ngài
hiện
về
trong
cảnh
diễn
Ngài
không
mặn
nồng
cùng
cung
tần,
mỹ
nữ
và
Hoàng
hậu
con
gái
Hưng
Đạo
Vương.
Duyên
kỳ
ngộ.
Ngài
gặp
cung
nữ
Ứng
Thụy,
con
gái
Lý
Chiêu
Hoàng.
Khối
tình
hẹn
từ
kiếp
trước
của
nhà
Lý
với
nhà
Trần.
Khối
tình
tri
âm.
Cao
cả.
Ứng
Thụy
đã
thức
tỉnh
Ngài
làm
vua
an
dân,
và
đánh
giặc.
Khi
đã
ngồi
trên
ghế
vua.
Phải
hiến
dâng
hết
mình
cho
lợi
ích
của
Dân,
Nước.
Nàng
được
Ngài
phong
Hoàng
phi,
yêu
trọng.
Họ
truyền
sức
mạnh
Tình
yêu,
hóa
giải
mối
hận
thù
giữa
nhà
Lý
và
nhà
Trần.
Khối
tình
định
mệnh
lớn
này,
đã
làm
đau
lòng
Hoàng
hậu
và
Trần
Hưng
Đạo.
Nhưng
mọi
người
đều
biết
ứng
xử
nhân
ái.
Không
ghen
ghét,
thù
hận
vì
nghĩa
Nước,
tình
Nhà.
Minh
quân
giữ
nước
ngời
sát
Thát
Màn
kịch
Cải
lương
này,
người
đóng
vai
Trần
Nhân
Tông
được
thay,
để
thể
hiện
một
minh
quân
Đại
Hùng.
Trước
thảm
họa
ngoại
xâm.
Quân
Nguyên
Mông
chuẩn
bị
đánh
Đại
Việt.
Thượng
hoàng
Trần
Thánh
Tông,
cùng
vua
Trần
Nhân
Tông,
Trần
Hưng
Đạo
cấp
tốc
bàn
đánh
giặc.
Tâm
trạng
các
ngài
đầy
kịch
tính.
Thương
dân.
Không
muốn
chiến
tranh
giết
người
tàn
bạo.
Nhưng
nước
mất,
nhà
tan.
Phải
cứu
nước.
Cứu
dân.
Phải
đánh
giặc.
Triều
đình
phải
lựa
chọn.
Chủ
hòa?
Hay
quyết
chiến?
Hùng
khí
non
sông
bừng
dậy
trên
sân
khấu.
Lịch
sử
Hào
khí
Đông
A
hiện
về.
Trần
Nhân
Tông
mở
hội
nghị
Bình
Than
năm
1282.
Những
anh
hùng,
hào
kiệt
vang
lời
quyết
chiến.
Trần
Hưng
Đạo,
Trần
Quang
Khải,
Trần
Nhật
Duật…
dâng
kế
sách
diệt
giặc
Nguyên.
Có
bộ
mặt
và
ánh
mắt
tà
gian
của
Trần
Ích
Tắc.
Hội
nghị
Bình
Than
là
hội
nghị
quân
sự
do
vua
Trần
Nhân
Tông
triệu
tập.
Tìm
phương
cách
chiến
đấu
khi
quân
Nguyên
Mông
sang.
Hội
nghị
Bình
Than
tổ
chức
ở
làng
Bình
Than,
tổng
Vạn
Ti,
vùng
đất
nay
là
Gia
Bình-
Bắc
Ninh.
Nơi
họp
bí
mật,
tránh
tai
mắt
bọn
giặc
gián
điệp.
Trước
khi
cuộc
chiến
diễn
ra.
Trần
Nhân
Tông
cùng
Thượng
hoàng
Trần
Thánh
Tông
chủ
trì
Hội
nghị
Diên
Hồng,
trước
thềm
điện
Diên
Hồng,
tháng
chạp
năm
1284. Hỏi
ý
kiến
các
vị
bô
lão
cả
nước
về
chủ
trương
hòa
hay
chiến
khi
quân
Nguyên
Mông
sang
cướp
Đại
Việt
lần
thứ
hai.
Khi
vua
hỏi
các
bô
lão
nên
HÒA
hay
ĐÁNH?
Sân
khấu
vang
tiếng
già,
trẻ,
gái
trai,
một
lòng
hô
quyết
ĐÁNH.
Vở
Cải
lương Vua
Phật.
Nhờ
kỹ
thuật
phối
cảnh,
ánh
sáng,
âm
thanh,
âm
nhạc…
hiện
đại,
đã
hiện
rõ
cảnh
đánh
giặc
Nguyên
Mông
năm
1285.
Khói
lửa
mịt
mù.
Đao
kiếm.
Tiếng
hò
hét
vang
dậy.
Trần
Nhân
Tông
đã
lãnh
đạo
quân
dân
chiến
thắng
cuộc
xâm
lược
Nguyên
Mông
lần
thứ
nhất.
Và
cảnh
đánh
giặc
Nguyên
lần
thứ
hai.
Quân
Nguyên
tiếp
tục
chiếm
Đại
Việt
lần
thứ
hai.
Trần
Nhân
Tông
lại
một
lần
nữa
chỉ
huy
cuộc
chiến
tranh
vệ
quốc
vĩ
đại.
Ngài
đã
chiến
thắng
quân
Nguyên
Mông
lần
thứ
hai
năm
1288.
Với
sự
đoàn
kết
dân
tộc
vua
tôi
một
lòng.
Quân
dân
Đại
Việt
đã
đánh
tan
50
vạn
quân
Nguyên
Mông
từ
phía
bắc
tiến
xuống,
do
Thoát
Hoan
cầm
đầu.
20
vạn
quân
Nguyên
Mông
do
Ô
Mã
Nhi
dẫn
từ
biển
phía
nam
vào.
Thoát
Hoan,
hoàng
tử
nhà
Nguyên
trấn
nam
vương,
phải
chui
vào
ống
đồng
chạy
về
nước.
Câu
thơ
Trần
Nhân
Tông
vọng
núi
sông,
biển,
đảo:
“Xã
tắc
hai
phen
chồn
ngựa
đá
Non
sông
muôn
thuở
vững
âu
vàng”
Đất
nước
hết
giặc.
Trần
Nhân
Tông
củng
cố
triều
đình.
Chiêu
hiền,
đãi
sĩ.
Đoàn
kết
toàn
dân.
Cùng
dân
xây
dựng
và
phát
triển
đất
nước
sau
cuộc
chiến.
Ngài
đã
bỏ
qua
những
lỗi
lầm
của
quần
thần
và
thân
tộc
như
bọn
Trần
Ích
Tắc..
Sơ
Tổ
vì
dân
dựng
thảo
đàn
Vua
Phật với
những
màn
diễn
thể
hiện
Phật
pháp
thâm
sâu
và
tâm
tình
tĩnh
lặng
của
Trần
Nhân
Tông
khi
Ngài
làm
Phật.
Phật
pháp
siêu
phàm.
Vua
Trần
Nhân
Tông
nhìn
kiếp
người
u
mê.
Trôi
lăn
mờ
mịt.
Không
biết
mình
sinh
ra
từ
đâu?
Khi
chết
đi
về
đâu?
Xã
hội
phân
chia
hỗn
loạn.
Kẻ
nghèo
đói.
Buồn
đau.
Bệnh
ốm.
Không
lối
thoát.
Kẻ
chém
giết.
Thù
hận.
Một
số
kẻ
ranh
ma
coi
Quyền/
Tiền
là
mục
đích
sống.
Tham
Ác
không
có
điểm
dừng.
Vơ
vét
vật
chất,
tiền,
vàng,
đổi
chác,
bán
mua,
hưởng
lạc
trên
xương
máu
người
ngã
xuống,
trong
thảm
họa
giặc
xâm
lăng
vây
bủa…
Trần
Nhân
Tông
đi
tìm
Tuệ
Trung
Thượng
sĩ.
Tiếng
Thượng
sĩ
rung
chuyển
sân
khấu:
“Tu
hành
để
làm
gì?
Tu
để
gánh
vác
sơn
hà
qua
cuộc
bể
dâu.
Hòa
vào
đời
để
giáo
hóa
chúng
sinh
hiểu
con
đường
tự
sửa
mình.
Giảm
tham,
sân,
si
mà
giải
thoát.
Phật
tại
Tâm.
Mượn
Đạo
tạo
Đời.
Lấy
Tâm
Đạo
hòa
quy
xã
tắc.
Minh
quân
Đạo
Đời
sáng
tỏ,
sống
cùng
sử
xanh”.
Trúc
Lâm
Thiền
phái
vang
Phật
Quốc
Với Vua
Phật các
tác
giả
kịch
bản
và
nghệ
sĩ
sân
khấu
đã
tôn
kính
từng
chi
tiết,
từng
bước
chân
gậy
trúc
trong
cuộc
hành
trình
làm
Vua
đến
làm
Phật
của
Phật
Hoàng
Trần
Nhân
Tông.
Không
một
ai
dám
xưng
danh
nghệ
thuật
để
hư
cấu,
bịa
đặt.
Năm
41
tuổi
(1293).
Trần
Nhân
Tông
nhường
ngôi
cho
con
là
Trần
Anh
Tông
lên
làm
Thái
Thượng
Hoàng.
Năm
1299.
Ngài
trở
lại
thăm
Kinh
sư
lần
cuối,
rồi
đi
thẳng
lên
núi
Yên
Tử-
Uông
Bí-
Quảng
Ninh
tu
hành
khổ
hạnh,
tham
thiền
nhập
định,
lấy
tên
là
“Hương
Vân
Đại
Đầu
Đà”.
Ngài
độ
Đồng
Kiên
Cương
làm
đệ
tử,
ban
pháp
hiệu
Pháp
Loa.
Năm
1301.
Phật
hoàng
hạ
sơn.
Đi
thăm
nước
Chiêm
Thành.
Tạo
lập
mối
quan
hệ
hợp
tác,
hòa
bình,
hữu
nghị
với
các
nước
lân
bang.
Ngài
về
chùa
Phổ
Minh
phủ
Thiên
Trường
(Nam
Định)
giảng
kinh,
thuyết
pháp.
Mở
hội
đại
thí
vô
lượng
cho
nhân
dân.
Năm
1304.
Ngài
chống
gậy
trúc
dạo
khắp
nước
Đại
Việt.
Khuyến
khích
muôn
dân
giữ
năm
giới.
Tu
hành
Thập
thiện.
Dẹp
bỏ
những
nơi
thờ
cúng
không
đúng
Chính
pháp.
Loại
trừ
mê
tín,
dị
đoan…
Ngài
đến
Bố
Chánh-
Quảng
Bình
lập
am
Tri
Kiến
và
lưu
lại
đây
một
thời
gian.
Sau
đó,
vua
Trần
Anh
Tông
thỉnh
Ngài
vào
nội
cung,
truyền
giới
Bồ
Tát
cho
bá
quan
văn
võ,
quần
thần.
Chuyến
thăm
hữu
nghị
Chiêm
Thành
năm
1301.
Ngài
hứa
gả
Công
chúa
Huyền
Trân
cho
Chế
Mân,
vua
Chiêm.
Năm
1305.
Vua
Chiêm
sai
Chế
Bồ
Đài
và
phái
đoàn
ngoại
giao
mang
vàng,
bạc…
sính
lễ
cầu
hôn.
Năm
1306.
Ngài
đứng
ra
chứng
minh
hôn
lễ
giữa
Công
chúa
Huyền
Trân
và
vua
Chiêm
Thành,
Chế
Mân.
Vua
Chiêm
đã
dâng
Châu
Ô,
Châu
Rí
cho
Đại
Việt
làm
quà
sính
lễ.
Nước
Đại
Việt
mở
rộng
bờ
cõi
về
phương
Nam
là
Thuận
Hóa
(Huế).
Năm
1307
Ngài
truyền
Y
Bát
cho
Tôn
giả
Pháp
Loa,
lên
làm
Sơ
Tổ
Trúc
Lâm.
Pháp
Loa
là
Tổ
thứ
hai
của
Thiền
phái
Trúc
Lâm.
Ngài
thường
lui
tới
chùa
Báo
Ân
Siêu
Loại,
Sùng
Nghiêm,
Hải
Duơng,
Vĩnh
Nghiêm,
Lạng
Giang
(nay
là
Bắc
Giang)
chùa
Từ
Lâm,
chùa
Quỳnh
Lâm,
Đông
Triều-
Quảng
Ninh
để
giảng
kinh,
thuyết
pháp
và
chứng
minh
các
lễ
hội…
Nết
dụng
sơn
lâm
đặng
Niết
Bàn
Sau
khi
truyền
Y
Bát
cho
Tôn
giả
Pháp
Loa,
Ngài
tập
trung
biên
soạn
Kinh
sách
và
Ngữ
lục.
Ngài
để
lại
cho
hậu
thế
kinh
sách
quý
báu: Trần
Nhân
Tôn
thi
tập,
Đại
Hương
Hải
Ấn
thi
tập,
Tăng
Già
Toái
Sự,
Thạch
Thất
Mỵ
Ngữ,
Trung
hưng
Thực
Lục,
Truyền
Đăng
Lục….Trước
khi
nhập
diệt.
Ngài
đọc
bài
kệ Pháp
Thân
Thường
Trụ cho
thị
giả
Bảo
Sát,
hầu
cận
bên
Ngài:
“Tất
cả
pháp
không
sinh.
Tất
cả
pháp
không
diệt.
Ai
hiểu
được
như
vầy.
Thì
chư
Phật
hiện
tiền.
Nào
có
đến
có
đi”
(Nhất
thiết
pháp
bất
sinh.
Nhất
thiết
pháp
bất
diệt.
Nhược
năng
như
thị
giải.
Chư
Phật
thường
tại
tiền.
Hà
khứ
lai
chi
hữu).
Theo
sử
sách.
Ngài
an
nhiên,
thị
tịch
ngày
1/11/Mậu
Thân
(1308).
Thọ
thế
51
năm
tại
am
Ngọa
Vân-
Đông
Triều-
Quảng
Ninh.
Vua
Trần
Anh
Tông
cung
thỉnh
nhục
thân
Ngài
về
kinh
đô
Thăng
Long
cử
hành
Quốc
tang
trong
hai
tuần.
Vua
quan,
quần
thần,
văn
võ
bá
quan,
đệ
tử
Pháp
Loa,
Bảo
Sát
và
chúng
Tăng
trong
nước
cử
hành
Lễ
Trà
tỳ.
Phật
hoàng
để
lại
Xá
lợi.
Xá
lợi
chia
làm
hai
phần.
Một
phần
xây
tháp
thờ
ở
Lăng
Quý
Đức
phủ
Long
Hưng-
Thái
Bình.
Một
phần
xây
tháp
tôn
thờ
tại
chùa
Vân
Yên-
Yên
Tử-
Uông
Bí-
Quảng
Ninh,
lấy
hiệu
là
Huệ
Quang
Kim
Tháp.
Dâng
Thánh
hiệu:
Đại
Thánh
Trần
Triều,
Trúc
Lâm
Đầu
Đà,
Tịnh
Tuệ
Giác
Hoàng
Điều
Ngự
Phật
Tổ.
Ca
kịch
Cải
lương Vua
Phật khép
lại
trong
màn
diễn
linh
thiêng.
Xúc
động.
Phật
Hoàng
bỏ
ngai
vàng.
Bỏ
cuộc
sống
giàu
sang,
đô
hội,
lẫn
vào
Rừng
Thiền
Yên
Tử.
Sương
trắng
giăng
mờ,
trập
trùng
đại
ngàn.
Tiếng
chim
ca.
Tiếng
hổ
gầm.
Tiếng
vua
Trần
Anh
Tông
khóc
thất
thanh
gọi Phụ
Hoàng! Tiếng
các
cung
nữ
khóc
than.
Và
hình
ảnh
các
nàng
trầm
mình
nơi
Suối
Giải
Oan
dưới
chân
Yên
Tử,
giữ
tình
với
Ngài
trọn
vẹn.
Khán
giả
lặng
im.
Xúc
động
dâng
trào.
Một
cuộc
chia
ly
vật
đổi
sao
dời.
Cuộc
chia
ly
tạc
Hồn
thiêng
sông
núi.
Cuộc
chia
ly
phi
phàm.
Cuộc
chia
ly
kết
nối
cõi
Người
về
cõi
Phật.
Tiếng
Vua
Phật
hát
ru
muôn
đời
con
cháu
Việt:
Số
đời
một
hơi
thở
Lòng
người
hai
biển
vàng
Cung
ma
dồn
quá
lắm
Cõi
Phật
nào
vui
hơn
(Thiền
sư
Thích
Thanh
Từ
dịch)
Mai
Thục
Ý kiến bạn đọc