Soạn
giả
Năm
Nở
(Lê
Hoài
Nở)
sinh
năm
1909,
làng
Tân
Hưng,
huyện
Lai
Vung,
tỉnh
Sadec.
Thân
phụ
anh
là
Cai
tổng
Hoài,
địa
chủ,
có
mấy
chục
mẫu
tuộng,
vườn
cam,
quít
và
trại
nuôi
vịt
bầy,
vịt
hãng,
nên
khi
anh
thi
đậu
bằng
Tiểu
Học
(CEPCI)
ở
tỉnh
Sadec,
anh
được
cha
anh
cho
lên
Sài
gòn
học.
Anh
thi
rớt
bằng
Thành
Chung,
về
quê
nhà,
làm
thầy
giáo
trong
làng
năm
1930.
Là
công
tử
vườn,
thầy
giáo
Năm
Nở
ngoài
giờ
dạy
học,
anh
chơi
đá
banh,
đá
gà,
đá
cá
và
đờn
ca
tài
tử.
Anh
sử
dụng
thông
thạo
đờn
kìm,
đờn
cò.
Tiếng
đàn
và
giọng
ca
của
anh
mượt
mà,
sâu
lắng,
làm
rung
động
biết
bao
con
tim
của
các
cô
thôn
nữ
ở
những
nơi
mà
Ban
đờn
ca
tài
tử
của
anh
đến
diễn.
Cha
anh,
ông
Cai
Tổng
Hoài
thất
cử
Hội
đồng
nhiều
lần,
thất
chí,
sanh
bịnh
rồi
mất.
Lúc
đó
anh
mới
biết
cha
anh
vay
nợ
Chà
Chetty,
vung
tiền
mua
phiếu
tranh
cử.
Thất
cử,
tự
ái,
vay
nợ
tiếp
để
khóa
sau
tái
tranh
cử.
Nợ
Chà
nặng
lãi,
tiền
lời
trả
không
nổi,
chồng
lên
thành
nợ
mới,
cứ
vậy,
nhiều
năm
sau,
không
trả
nổi
nên
Chà
Chetty
kiện
ra
Tòa,
tịch
thu
ruộng
vườn
và
trại
vịt.
Năm
1938.
Lê
Hoài
Nở
rời
quê,
lên
Saigòn,
gia
nhập
gánh
hát
Nam
Hưng
của
ông
bầu
kiêm
vua
cờ
bạc
Sáu
Ngọ.
Nhờ
biết
đờn
ca
và
có
học
thức,
anh
Năm
Nở
nhanh
chóng
trở
thành
kép
chánh.
Năm
1940,
Năm
Nở
hợp
tác
với
anh
Năm
Châu
và
anh
Tám
Bang
(chủ
nhà
hàng
Bồng
Lai
–
Saigon)
lập
gánh
hát
cải
lương
Năm
Châu.
Dịp
này,
anh
dựng
trên
sân
khấu
Năm
Châu
nhiều
tuồng
của
anh
sáng
tác : “Những
Kẻ
Vứt
đi!”,
“Thử
yêu
chồng”,
“Hội
Yêu
Chồng”,
“Vó
Ngựa
Truy
Phong”,
“Khi
Người
Điên
Biết
Yêu”. Soạn
giả
Năm
Nở
nổi
danh
là
người
chuyên
sáng
tác
tuồng
cải
lương
xã
hội
trào
phúng.
Năm
1948,
Năm
Nở
và
các
nghệ
sĩ
tiền
phong
thành
lập
Hội
Nghệ
Sĩ
Ái
hữu
Tương
Tế,
anh
được
bầu
vô
Ban
Chấp
Hành.
Cũng
trong
năm
1948,
anh
lập
gánh
hát
cải
lương
Sống
Mới,
có
các
diễn
viên
Sáu
Nết,
Sáu
Ngọc
Sương,
Duy
Lân,
Duy
Chức,
Ba
Thâu.
Anh
viết
6
kịch
bản
cho
đoàn
Sống
Mới: Anh
Chị
Ăn
Mày,
Nỗi
Lòng
Chị
bếp,
Hăm
Ba
Đưa
Ông
Táo
Về
Trời,
Ông
Huyện
Hàm…Hàm,
Thử
Làm
Vợ
Bé,
Sở
Chữa
Lửa
Đụng
Hãng
Xăng
Dầu.
Đoàn
hát
Sống
Mới
lưu
diễn,
nhà
chức
trách
tỉnh
cấm
hát
vì
cho
là
tuồng
hát Ông
Huyện
Hàm
…Hàm,
Cưới
Vợ
Bé
Ăn
Tết… châm
biếm
các
quan
chức.
Vì
cứ
bị
cấm
hát,
đoàn
hát
thất
thu,
rã
gánh.
Năm
1954,
soạn
giả
Năm
Nở
về
ở
xóm
Bàn
Cờ,
rồi
đình
Phú
Thanh,
mở
quán
nhậu
với
bảng
hiệu
Năm
Nở
Nhậu
Chơi.
Năm
1962,
các
nghệ
sĩ
Năm
Nở,
Năm
Châu,
Duy
Lân,
Hoàng
Trọng
Miên,
Phùng
Há,
Ngọc
Ánh,
nhạc
sĩ
Hai
Khuê,
Nguyễn
Hữu
Ba
được
mời
làm
Giáo
sư
Trường
Quốc
Gia
Âm
Nhạc
&
Kịch
Nghệ
Saigon
do
ông
Nguyễn
Phụng
làm
Giám
Đốc.
Học
trò
tốt
nghiệp
khóa
đầu
tiên
(soạn
giả
Năm
Nở
góp
phần
đào
tạo)
có:
Tuyết
Sĩ
(hiện
ở
Santa
Ana,
Mai
Thành
(diễn
viên
kiêm
giáo
viên
kịch
nghệ
trường
Đại
Học
Sân
Khấu
Điện
Ảnh
Sài
gòn),
cô
Phương
Ánh,
Hương
Xuân,
Đỗ
Quyên,
đào
chánh
các
Đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga,
Dạ
Lý
Hương,
Thủ
Đô
(Ba
Bản).
Nhắc
tới
anh
Năm
Nở,
tôi
có
nhiều
kỷ
niệm
khó
quên.
Tôi
thường
đến
đình
Phú
Thạnh,
nơi
đó
tập
trung
nhiều
nghệ
sï:
Nam
Sơn
(biệt
danh
Năm
Thịt),
Chín
Viễn,
Hề
Bảy
Xê,
Xuân
Phát,
Thanh
Lựu,
Tám
Lắm,
hề
Phúc
Lai
và
anh
Năm
Nở.
Tôi
mời
nghệ
sĩ
tham
gia
chương
trình
cải
lương
trên
Ban
Phương
Nam
đài
Phát
Thanh
Sàigòn
mà
tôi
là
trưởng
Ban.
Lần
nào
đến
đình
Phú
Thạnh,
tôi
cũng
ghé
quán
Năm
Nở
Nhậu
Chơi
để
nhậu
lai
rai
và
nói
chuyện
chơi
với
các
bạn
nghệ
sĩ
và
ông
chủ
quán
Năm
Nở.
Có
lần
tôi
ngỏ
ý
xin
bái
anh
làm
sư
phụ
để
học
viết
tuồng
trào
phúng.
Anh
từ
chối
và
nói
là
anh
có
học
trường
lớp
nào
đâu,
làm
sao
biết
cách
để
truyền
nghề.
Tôi
hỏi
anh
có
đọc
hài
kịch
của
Molière
không
và
anh
viết
tuồng
trào
phúng
như
thế
nào?
Tại
sao
chọn
trào
phúng,
châm
biếm
mà
không
viết
tuồng
Tàu
hay
tuồng
xã
hội
như
các
bạn
soạn
giả
đồng
thời
với
anh?
Bữa
nhậu
đó
có
Kiên
Giang,
anh
Năm
Nở
cầm
ly
rượu
đế,
nhấp
môi,
trầm
ngâm…
gắp
tôm
khô
củ
kiệu…
lại
uống
rượu,
mắt
nhìn
xa
xôi
như
hồi
tưởng
lại
chuyện
ngày
xưa
Chúng
tôi
cũng
uống
rượu,
im
lặng
chờ
đợi.
Bỗng
anh
Năm
buông
thỏng
mấy
tiếng: “Tôi
viết
tuồng
diễu…
Tại
cái
hột
vịt
.”
Tôi
và
Kiên
Giang
bật
cười
tới
té
sặc.“Cái
gì?
Tại
cái
hột
vịt
mà
anh
viết
tuồng
diễu
à?”
Kiên
Giang
vói
tay
lấy
một
cái
hột
vịt
bắc
thảo,
mồi
nhậu
của
quán
Năm
Nở
Nhậu
Chơi,
ngắm
nghía,
lật
qua
lật
lại.
Anh
Năm
Nở
nói: “Mày lột cái
hột vịt bắc thảo
đó
rồi ngậm
trong
miệng,
tao
giọng
một cái
mạnh
cho
nó
tọt vô
họng.
Khi
nào
mày
mắc
cổ,
trợn
tṛòng
trợn
trắng
thì
mới
biết
được
cái
lý lẽ để
viết
tuồng
diễu“.
Kiên
Giang
đập
vỏ,
lột
hột
vịt,
cái
trứng
vịt
bắc
thảo
đen
xanh,
mềm
nhũn.
Kiên
Giang
làm
như
muốn
nuốt
trọng.
Anh
Năm
vội
ngăn:
“Cái
thằng
ông
nội,
tao
nói
chơi,
mày
tưởng
thiệt,
nuốt
cho
mắc
cổ,
tao
ở
tù
sao?”.
Kiên
Giang
cười,
nói:
“Tôi
nhìn
cái
hột
vịt
đen
xì,
tính
làm
vài
câu
thơ
chơi,
nhưng
không
rặn
ra
được
câu
nào.
Còn
anh,
nhìn
hột
vịt,
làm
sao
mà
anh
viết
diễu
được?”.
Anh
Năm
giải
thích,
nhắc
lại
lúc
anh
còn
nhỏ,
ba
anh
có
trại
vịt.
Anh
muốn
ăn
chè
hột
vịt,
ba
anh
bảo:
“Mày
lựa
hột
nào
có
trống
thì
để
qua
một
bên
để
ấp,
còn
hột
vịt
thường
thì
lấy
mà
nấu
chè.”
Anh
xuống
trại
vịt,
đứng
bên
thúng
đựng
trứng
vịt,
nhìn
hoài,
không
biết
trứng
nào
có
trống,
trứng
nào
không,
bèn
hỏi
chị
hai
Mánh,
người
làm
công
trong
trại.
Chị
hai
Mánh
lãng
tai,
nghe
hỏi
hột
vịt
có
trống,
chị
nghe
được
mấy
tiếng
“vịt
trống“,
nên
trả
lời:
“Trống
thì
nó
kêu
cạp
cạp,
còn
mái
thì
nó
kêu
cáp
cáp.”
Anh
bèn
cầm
hột
vịt,
kê
sát
lỗ
tai,
ráng
nghe
coi
nó
kêu
cáp
cáp
hay
cạp
cạp…
Hột
vịt
chưa
kêu
cáp
cáp
hay
cạp
cạp
mà
anh
đã
bị
cú
vô
đầu
nghe
cóc
cóc
đau
điếng.
Đổ
quạu,
tưởng
chị
Mánh
cú,
anh
tính
loi
lại
trả
đũa,
không
ngờ
người
cú
đầu
là
ba
anh.
Ông
nói:
“Sao
mày
ngu
quá
cỡ
thợ
mộc
vậy,
hột
vịt
nào
mà
kêu
cho
mày
nghe?
Muốn
kiếm
hột
vịt
có
trống
thì
đốt
đèn,
nhìn
ngược
ánh
sáng,
thấy
tròng
đỏ
có
tim
là
hột
vịt
trống.
Không
đốt
đèn
thì
đứng
trong
tối,
dùng
bàn
tay
che quanh
trứng,
nhìn
ngược
ra
ánh
sáng,
thì
biết,
thì
thấy“.
Đêm
đó
ăn
chè
hột
vịt,
ba
anh
nói
thêm: “Ở
đời
nhìn
bề
ngoài
thì
thấy
không
hết
đâu,
muốn
nhìn
bề
trong
thì
phải
nhìn
ngược
lại
cái
thông
thường
của
nó,
nhiỉn
trái
sáng
thì
mới
thấy
được
cái
chân
tướng “.
Do
thiên
tư,
anh
Năm
Nở
nghiệm
ra
rằng:
“Nhìn
Cái
Nghịch
Lý”,
thì
mới
tìm
ra
khía
cạnh
khác
của
sự
việc,
giống
như
bề
trái
của
chiếc
mề
đay,
có
khi
không
danh
dự,
không
thơm
tho
như
chiếc
mề
đay
nhận
thưởng.
Anh
nghĩ
cái
gì
đối
lập
nhau,
dễ
tìm
ra
sự
thật,
dễ
gây
ấn
tượng
và
theo
quan
điểm
của
người
nhìn,
có
thể
tìm
ra
được
sự
đáng
tức
cười
của
sự
đối
lập
đó
như
“mập”
với
“ốm”
(Laurel
và
Hardy),
như
chuyện
cảnh
sát
rượt
Charlot,
cảnh
sát
oai
quyền,
mạnh
bạo
vậy
mà
rượt
theo
một
kẻ
ốm
đói
như
Charlot
mà
bắt
không
được,
lại
té
lên
té
xuống,
dở
khóc
dở
cười…
Nghịch
lý
như
dốt
hay
nói
chữ,
điên
mà
biết
yêu,
thử
làm
vợ
bé,
ông
Huyện
hàm…
hàm!
Anh
Năm
Nở
có
biệt
tài
sử
dụng
ngôn
ngữ
hài,
chọc
cười
khán
giả
một
cách
tỉnh
bơ.
Một
lần
khác,
cô
Phương
Ánh,
Chí
Hiếu
và
tôi,
sau
khi
thu
dĩa
hãng
Continental
về,
trời
sụp
tối,
chúng
tôi
ghé
quán
Năm
Nở
Nhậu
Chơi.
Gần
đó
có
bán
cháo
trắng,
hột
vịt
muối.
Anh
Năm
Nở
thấy
chúng
tôi,
vẻ
mặt
quạu
đeo.
Chị
Ngọc
Trai,
vợ
anh,
mặt
ngơ
ngác,
tỏ
ra
không
hiểu
tại
sao
bỗng
nhiên
anh
Năm
nổi
giận.
Tôi
hỏi:
“Anh
Năm,
hôm
trước
anh
hẹn
nói
tiếp
chuyện
viết
tuồng
diễu,
bữa
nay
anh
có
hứng
không?
”
Anh
Năm
nói
xụi
lơ:
“Hứng
gì
nổi,
mất
mẹ
nó
cái
cà
rá
hột
xoàn
5
ly,
mới
rớt
xuống
đất
đó,
kiếm
hoài
hông
thấy.”
Phương
Ánh
vội
hỏi:
“Rớt
ở
đâu?
Sao
thầy
làm
rớt
vậy”
Năm
Nở:
“Thì
lấy
ra
chùi,
đánh
bóng
,
túng
quá,
tính
đi
cầm.”
Phương
Ánh
sốt
sắng:
“Để
tụi
con
kiếm
dùm
cho“.
Cô
ta
lom
khom,
nhìn
kỹ
từng
viên
gạch.
Chí
Hiếu
chạy
qua
nhà
Bảy
Xê,
mượn
đèn
pile
qua
rọi,
thế
là
tiếng
đồn
tới
Bảy
Xê.
Bảy
Xê
đi
rủ
Chín
Viễn,
Xuân
Phát,
Năm
Thịt
cùng
kéo
tới.
Kẻ
rọi
đèn,
người
bò,
mò
theo
kẹt
vách.
Anh
Năm
Nở
bó
gối,
thở
dài:
“Thôi,
kệ
mẹ
nó
đi!
Cái
số
mình
ăn
mày
thì
có
của
gì
cũng
mất”.
Chín
Viễn
ráng
kiếm,
miệng
lầm
bầm:
” ]Có
cà
rá
hột
xoàn
mà
mình
túng
quá,
mượn
tiền
ảnh,
ảnh
nói
ảnh
nghèo
kiết
xác!
Hiểm
hén
…Hiểm
hén.”
Chợt
Xuân
Phát
đứng
lên,
nói
lớn: ”
Kệ
đi,
anh
Năm
mất
chiếc
cà
rá
xoàn
này,
còn
chiếc
khác,
còn dây
chuyền
vàng,
còn
cẩm
thạch…”
Năm
Nở
vội
la
lên:
“Đừng
nói
giỡn
mày!
Tao
thề
nếu
tao
có
nhiều
vàng,
hột
xoàn
vậy
cho… Chị
Năm
vội
ngăn: “Anh
Năm
đừng
có
thề…
đừng
có
thề!”
ôi
ra
về,
nửa
tin,
nửa
ngờ.
Sáng
hôm
sau,
tôi
tới
đình
Phú
Thạnh,
hỏi
anh
Nam
Sơn:
“Sao?
anh
Năm
Nở
kiếm
thấy
chiếc
cà
rá
xoàn
không?
Anh
Nam
Sơn
cằn
nhằn: “Báo
hại
cả
xóm,
đêm
rồi
không
ngủ
được,
ăn
trộm
rình
nhà
Năm
Nở
rồi
quanh
quẩn
suốt
đêm.
Tụi
tui
cũng
sợ
lây,
đi
rõn,
canh
chừng
hoài.
Cái
mững
này,
ăn
trộm
ăn
cắp
sẽ không
bỏ
qua
đâu.
Cái
thằng
Xuân
Phát
ác
miệng
nói
anh
Năm
Nở
có
nhiều
xuyến
vàng,
ngọc
thạch,
tụi
trộm
không
chộp
được
cái
này,
nó
sẽ
quơ
thứ
khác”.
Tôi
bước
vô
quán
nhậu
của
anh
Năm
Nở,
thấy
tôi,
anh
cười
hề
hề:
“Sao?
Nguyễn
Phương
thấy
sao?
Nguyễn
Phương
muốn
viết
tuồng
diễu
thì
cái
tình
huống
“Năm
Nở
mất
cà
rá
xoàn”
đã
làm
động
cả
xóm,
đánh
thức
lòng
tham
của
mấy
tên
trộm
và
làm
khổ
cả
vợ
chồng
Năm
Nở
này
vì
Hội
Nghệ
Sĩ vừa
định
giúp
vợ
chồng
tôi
một
ngàn
đồng
để
trị
bịnh,
nay
nghe
tôi
có
hột
xoàn
5
ly
và
Xuân
Phát
nói
tôi
còn
nhiều
vòng
vàng
nên
Ban
Chấp
Hành
rút
ý
định
trợ
cấp
cho
tôi.
Cười
ra
nước
mắt
đó
à
nghen!”. Chưa
hết
đâu,
chủ
nợ
nghe
nói
anh
có
hột
xoàn,
vòng
vàng,
họ
kéo
nhau
tới
đòi
nợ.
Năm
Nở
cười
trừ,
chị
Năm
kêu
trời
như
bọng.
Thì
ra
anh
Năm
muốn
dạy
tôi
cách
tạo
ra
tình
huống
kịch
để
từ
đó
phát
triển
thành
một
chuỗi
hành
động
kịch,
tạo
cười
bằng
chuyện
“Nghịch
Lý”.
(Nghèo
kiết
xác
mà
có
hột
xoàn,
vậy
mà
người
ta
cũng
tin)
Từ
chuyện
này
có
thể
viết
thành
bi
kịch,
mà
cũng
có
thể
viết
thành
hài
kịch.
Báo
hại
hôm
đó
chúng
tôi
phải
chia
nhau
đến
từng
nhà
trong
xóm
để
đính
chánh
là
Năm
Nở
không
có
cà
rá
xoàn
để
các
anh
ăn
trộm
đừng
mất
công
rình
mò
nữa.
Nhưng
càng
đính
chánh,
người
ta
càng
tin
là
Năm
Nở
có
hột
xoàn
thiệt.
Có
bà
nhiều
chuyện,
thừa
lúc
anh
Năm
đi
dạy
ở
trường
Quốc
Gia
Âm
Nhạc,
tới
nhỏ
to
với
chị
Năm,
hỏng
chừng
ổng
có
mèo,
cô
nào
đó
giàu
lắm,
mê
tuồng
của
ổng
nên
tặng
cho
cà
rá
xoàn,
họ
rủ
chị
Năm
đi
bắt
ghen.
Tất
nhiên
là
chị
Năm
không
tin,
thuật
lại
cho
chúng
tôi
nghe,
lại
thêm
một
số
sự
kiện
có
thể
tạo
cười
.
Trên
đây
là
một
trong
vô
vàn
kỷ
niệm
thân
thương
mà
anh
Năm
Nở
gieo
vào
lòng
đàn
em
nghệ
sĩ.
Điều
mà
chúng
tôi
học
được
ở
anh
Năm
Nở
là
trước
bất
cứ
tình
huống
nào,
trước
bất
cứ
áp
lực
nào,
anh
cũng
không
bẻ
cong
ng̣òi
bút,
viết
a
dua,
nịnh
bợ.
Thấy
trái
tai,
gai
mắt
là
viết
móc
lò,
trêu
cợt
để
mọi
người
cùng
cười
cái
rổm
đời,
cười
cái
xấu,
chê
cái
ác.
Năm
1967,
con
trai
của
anh
du
học
ở
Pháp,
xin
cho
anh
chị
sang
Pháp
trị
bịnh.
Chiến
cuộc
Việt
Nam
ngày
càng
lan
rộng,
anh
chị
Năm
Nở
kéo
dài
thời
gian
trị
bịnh
ở
Pháp.
Để
giải
quyết
vấn
đề
sinh
sống,
anh
Năm
Nở
mở
nhà
hàng
ở
khu
Montmartre
(Restaurant
Sào
Nam.
Sào
Nam
lấy
ý
từ
“Chim
Việt
Cành
Nam”).
Năm
1976,
anh
chị
Năm
Nở
về
Việt
Nam
thăm
nhà
rồi
ở
lại
luôn.
Anh
Lê
Hoài
Nở
không
ngờ
gặp
rắc
rối
với
chánh
quyền
C.S.
Họ
bảo
anh
là
Việt
Kiều,
là
dân
của
nước
Pháp
nên
khi
quá
thời
hạn
lưu
trú
ở
Việt
Nam
thì
họ
trục
xuất
về
Pháp.
Anh
Năm
Nở
làm
đơn
khiếu
nại,
nói
lúc
anh
rời
Việt
Nam
là
với
lý
do
đi
trị
bịnh,
anh
không
hềxin
“Di
Dân”,
không
phải
“Vượt
Biên”,
không
vô
Quốc
Tịch
Pháp,
chưa
từ
bỏ
Quốc
Tịch
Việt
Nam
và
cũng
không
có
án
tiết
gì
để
bị
truất
quốc
tịch
Việt
Nam,
vậy
tại
sao
anh
không
được
ở
Việt
Nam?
Ở
Pháp,
anh
chưa
hềđược
công
nhận
là
công
dân
của
nước
Pháp.
Giấy
thông
hành
do
chánh
phủ
Cộng
Hòa
cấp
năm
1974
vẫn
còn
hiệu
lực.
Anh
Năm
Nở
quên
cái
”
thủ
tục
đầu
tiên”
(Tiền
đâu?),
nên
đơn
khiếu
nại
của
anh
không
được
cứu
xét.
Trước
nhứt,
anh
không
có
hộ
khẩu
ở
Sài
gòn
(hay
bất
cứ
ở
tỉnh
nào,
huyện
nào
của
Việt
Nam),
thứ
hai
là
anh
không
có
quyền
làm
chủ
căn
nhà
cũ
của
anh,
anh
không
có
thẻ
căn
cước
do
chánh
quyền
mới
cấp,
vậy
nên
anh
không
có
quyền
công
dân.
Dân
Việt
Nam
“chánh
cống”
mà
sống
trên
đất
nước
Việt
Nam
lại
phải
sống
như
một
người
ở
“lậu”,
đó
là
một
chuyện
nghịch
lý
khó
tin!
Anh
Lê
Hoài
Nở
chuyên
viết
tuồng
cải
lương
trào
phúng,
đưa
ra
những
chuyện
nghịch
lý
ở
đời
để
cười
chơi,
vậy
mà
khi
chính
cuộc
đời
của
anh
gặp
chuyện
nghịch
lý,
anh
“cười”
không
nổi!
Anh
định
chấm
dứt
câu
chuyện
“Thủ
Tục
Giấy
Tờ
”
nghịch
lý
đó
bằng
cách
tự
vận
chết
đi
cho
rồi,
nhưng
các
bạn
Hội
Nghệ
Sĩ
Ái
Hữu
hay
được,
vận
động
cho
anh
chị
được
ở
lại
Sài
gòn,
nhưng
không
có
hộ
khẩu.
Ở
lại
Việt
Nam,
từ
năm
1976
đến
ngày
anh
mất,
25
tháng
5
năm
2000,
qua
24
năm
dài
đăng
đẳng,
soạn
giả
tài
danh
Lê
Hoài
Nở
không
sáng
tác
được
một
tác
phẩm
nào
(nhà
cầm
quyền
Sở
VHTT
cũng
không
cho
anh
quyền
sáng
tác),
không
thấy
anh
xuất
hiện
ở
những
nơi
như
rạp
hát,
Hội
Sân
Khấu,
Hội
Nghệ
Sĩ
Ái
Hữu
Tương
Tế.
Chúng
tôi
có
đến
thăm
vợ
chồng
anh,
hỏi
qua
về
đời
sống
và
việc
sáng
tác
của
anh
thì
anh
cười:
“Không
hộ
khẩu,
lo
chạy
mua
gạo,
mua
nhu
yếu
phẩm,
hầu
hạ,
chầu
chực
ở
các
hợp
tác
xã,
mất
không
biết
bao
nhiêu
là
thời
giờ,
lại
còn
bị
đuổi
nhà,
nhà
bị
giải
tỏa,
ở
không
yên,
sống
chật
vật,
làm
sao
mà
có
tâm
trí
nào
để
sáng
tác
tuồng
tích?
Viết
gì
đây?
Dám
phê
phán
ai,
dám
cười
cợt
ai?
Viết
rồi
tuồng
cũng
không
kiểm
duyệt
được,
không
có
đoàn
nào
dám
hát,
vậy
thì
viết
sao
được
mà
viết?
Bẻ
cong
ng̣òi
bút,
tôi
không
làm
được.
Viết
theo
mệnh
lệnh,
tôi
cũng
không
làm
được.
Có
một
chuyện
tôi
làm
được:
“đó
là
làm
thinh!”.
Anh
quyết
tâm
trở
về
quê
hương
sau
khi
chiến
tranh
chấm
dứt,
lúc
mới
vềthì
mang
nhiều
hoài
bão,
nhưng
càng
ở
lâu
thì
càng
thắm
thía,
ngậm
đắng
nuốt
cay,
im
hơi
lặng
tiếng
cho
tới
ngày
chết.
Đó
là
cái
kết
quả
mà
anh
phải
nhận
lấy
khi
quyết
định
trở
về
Việt
Nam
sau
năm
1975.
Anh
Lê
Hoài
Nở
mất
ngày
25
tháng
5
năm
2000,
tức
24
tháng
4
âm
lịch
Canh
Thìn,
tại
nhà
ở
bờ
sông
Nhiêu
Lộc
(tên
cũ
sông
Thị
Nghè
Saigon),
thượng
hưởng
92
tuổi.

Lúc
anh
mất,
tôi
không
về
Việt
Nam
được
để
tiễn
đưa
anh
và
cũng
không
đến
chùa
nghệ
sĩ
thắp
nén
nhang
cầu
nguyện
cho
anh
sớm
được
siêu
thoát,
tôi
có
mấy
dòng
thơ
tưởng
niệm
người
thầy
quá
cố:
Hơn
chín
phần
mười,
gần
thế
kỷ
Một
thời
sân
khấu
đẹp
nguồn
cơn
Cùng
Năm
Châu,
Tư
Trang,
Phùng
Há
Rực
rỡ
màn
nhung
nét
phấn
son
.
Dù
khép
màn
nhung,
đèn
đã
tắt
“ANH
CHỊ
ĂN
MÀY”
không
thở
than
“VÓ
NGỰA
TRUY
PHONG”
ai
đuổi
kịp
Lấy
con
tim
xóa
kiếp
phong
trần.
Mái
đình
Phú
Thạnh,
những
tâm
hồn
lớn
Tìm
gặp
nhau
tiếng
hát
tiếng
đờn.
Người
tứ
xứ
bỗng
thành
thân
thuộc
Đứng
quán
nghèo
anh
Chín
Viễn,
Nam
Sơn
.
Đổi
mới
cuộc
đời,
tình
đổi
khác
Bóng
xế
hoàng
hôn
nắng
đã
tan
Bạn
bè
chung
diễn
đều
xa
khuất
Chỉ
còn
trong
ký
ức
xa
xăm.
Cửa
nhà
như
cá
nằm
trên
thớt
Nay
đuổi
mai
dời
lúc
anh
ốm
đau
Nước
đổ
lá
môn,
nhiều
thư
khiếu
nại
Đợi
mỏi
mòn
nào
khác
chuyện
biển
dâu
Anh
nằm
xuống
lòng
còn
trăn
trở
Lo
gần
xa
hiền
phụ
sẽ
long
đong
Chưa
đoạn
kết
vở
kịch
buồn
Nhiêu
Lộc
Nước
đục
cứ
ròng,
ai
lắng
trong
Thuở
thanh
xuân
tâm
hồn
phóng
khoáng
Cởi
mở
vẫn
lọc
lừa,
trắng
khác
đen
Đặt
đúng
chỗ
người
tốt
kẻ
hèn
Bút
trào
phúng
vừa
là
tơ
vừa
là
thép
Ngày
xế
bóng
sống
mòn
trong
đạm
bạc
Giữ
lòng
ngay
trước
tâm
địa
quanh
co
Không
luồn
cúi
khum
lưng
và
bẻ
bút
Vẫn
yêu
đời
dù
nước
mắt
đã
khô.
Chào
Sa
Đéc,
Tân
Hưng
làng
quê
cũ
Chào
mái
đình
Phú
Thạnh
thuở
hàn
vi
Vïnh
biệt
nước
ao
tù
vùng
Nhiêu
Lộc
Đây
đất
buồn,
Lê
Hoài
Nở
ra
đi!
Mượn
lửa
hỏa
thiêu
soi
đường
siêu
thoát
Chiếu
sáng
ngời
sân
khấu
khác
cuộc
đời
Lửa
hoá
xe
mây
nhẹ
nâng
cánh
hạc
Đưa
hồn
anh
về
tận
cõi
trời!
Đành
thôi…
thôi
đã
hết
rồi
Ngậm
ngùi
nhìn
lửa
tiễn
người
lên
tiên
Vượt
xa
cát
bụi
thị
thiền
Đưa
hồn
tinh
đẩu
lên
miền
sao
Khuê.
Cẩn
bút
để
nhớ
ơn
và
tưởng
niệm
người
thầy
quá
cố.
Soạn
giả
Nguyễn
Phương