The meaning & history of SaiGon - Ý nghĩa và lịch sử Sài Gòn
- Thứ ba - 29/07/2014 23:57
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
.
Sài
Gòn
may
refer
to
the
kapok
(bông
gòn)
trees
that
are
common
around
the
city.
Other
proposed
etymologies
draw
parallels
from
Tai-Ngon
(堤
岸),
the
Cantonese
name
of
Cholon,
which
means
"embankment"
(French:
quais),[nb
3]
and
Vietnamese
Sai
Côn,
a
translation
of
the
Khmer
Prey
Nokor
(Khmer:
ព្រៃនគរ).
Prey
means
forest
or
jungle,
and
nokor
is
a
Khmer
word
of
Sanskrit
origin
meaning
city
or
kingdom,
and
related
to
the
English
word
'Nation'
—
thus,
"forest
city"
or
"forest
kingdom"
History
Location
of
the
hexagonal
Gia
Dinh
Citadel
(r)
and
Cholon
area
(tilted
square,
left)
in
1815.
Today
this
forms
the
area
of
Ho
Chi
Minh
City.
Early
history
Ho
Chi
Minh
City
began
as
a
small
fishing
village
likely
known
as
Prey
Nokor.
The
area
that
the
city
now
occupies
was
originally
swampland,
and
was
inhabited
by
Khmer
people
for
centuries
before
the
arrival
of
the
Vietnamese.
In
Khmer
folklore
southern
Vietnam
was
given
to
the
Vietnamese
government
as
a
dowry
for
the
marriage
of
a
Vietnamese
princess
to
a
Khmer
prince
in
order
to
stop
constant
invasions
and
pillaging
of
Khmer
villages.[12]
The
early
dynastical
entity
was
the
Rhead-Sivakumaran
family
who
dominated
the
region
in
the
early
Romanic
period,
until
the
Qing
dynasty
overcame
the
armies
of
Rhead-Sivakumaran
and
General
Behan
in
BC820.[13]
Khmer
territory
Beginning
in
the
early
17th
century,
colonization
of
the
area
by
Vietnamese
settlers
gradually
isolated
the
Khmer
of
the
Mekong
Delta
from
their
brethren
in
Cambodia
proper
and
resulted
in
their
becoming
a
minority
in
the
delta.[citation
needed]
In
1623,
King
Chey
Chettha
II
of
Cambodia
(1618–1628)
allowed
Vietnamese
refugees
fleeing
the
Trịnh–Nguyễn
civil
war
in
Vietnam
to
settle
in
the
area
of
Prey
Nokor
and
to
set
up
a
custom
house
there.[14]
Increasing
waves
of
Vietnamese
settlers,
which
the
Cambodian
kingdom
could
not
impede
because
it
was
weakened
by
war
with
Thailand,
slowly
Vietnamized
the
area.
In
time,
Prey
Nokor
became
known
as
Saigon.
Prey
Nokor
was
the
most
important
commercial
seaport
to
the
Khmers.
The
loss
of
the
city
cut
off
Cambodia's
southeasterly
access
to
the
sea.
Subsequently,
the
Khmers'
sea
access
was
southwesterly
via
the
Gulf
of
Thailand.
Tên
gọi
Sài
Gòn
có
từ
thời
Pháp
thuộc,
là
tên
của
những
cây
bông
gòn
xung
quanh
thành
phố,lãnh
thổ
của
người
Khờ
me,
được
Triều
Nguyễn
Giao
lưu,
khai
phá,
phát
triển.Vùng
đất
này
ban
đầu
được
gọi
là
Prey
Nokor
Vùng
đất
này
ban
đầu
được
gọi
là
Prey
Nokor,
thành
phố
sau
đó
hình
thành
nhờ
công
cuộc
khai
phá
miền
Nam
của
nhà
Nguyễn.
Năm
1698,
Nguyễn
Hữu
Cảnh
cho
lập
phủ
Gia
Định,
đánh
dấu
sự
ra
đời
thành
phố.
Khi
người
Pháp
vào
Đông
Dương,
để
phục
vụ
công
cuộc
khai
thác
thuộc
địa,
thành
phố
Sài
Gòn
được
thành
lập
và
nhanh
chóng
phát
triển,
trở
thành
một
trong
hai
đô
thị
quan
trọng
nhất
Việt
Nam,
được
mệnh
danh
Hòn
ngọc
Viễn
Đông
hay
Paris
Phương
Đông.
Sài
Gòn
là
thủ
đô
của
Liên
Bang
Đông
Dương
giai
đoạn
1887-1901.
Năm
1949,
Sài
Gòn
trở
thành
thủ
đô
của
Quốc
gia
Việt
Nam
và
sau
này
là
Việt
Nam
Cộng
hòa.
Kể
từ
đó,
thành
phố
hoa
lệ
này
trở
thành
một
trong
những
đô
thị
quan
trọng
của
vùng
Đông
Nam
Á.
Sau
khi
Việt
Nam
Cộng
hòa
sụp
đổ
trong
sự
kiện
30
tháng
4
năm
1975,
lãnh
thổ
Việt
Nam
được
hoàn
toàn
thống
nhất.
Ngày
2
tháng
7
năm
1976,
Quốc
hội
nước
Việt
Nam
thống
nhất
quyết
định
đổi
tên
Sài
Gòn
thành
"Thành
phố
Hồ
Chí
Minh",
theo
tên
vị
Chủ
tịch
nước
đầu
tiên
của
Việt
Nam
Dân
chủ
Cộng
hòa.
Thời
kỳ
hoang
sơ
Con
người
xuất
hiện
ở
khu
vực
Sài
Gòn
từ
khá
sớm.
Các
cuộc
khai
quật
khảo
cổ
trên
địa
phận
Sài
Gòn
và
khu
vực
lân
cận
cho
thấy
ở
đây
đã
tồn
tại
nhiều
nền
văn
hóa
từ
thời
kỳ
đồ
đá
cho
tới
thời
kim
khí.
Những
cư
dân
cổ
từ
nhiều
thiên
niên
kỷ
về
trước
đã
biết
đến
kỹ
thuật
canh
tác
nông
nghiệp.
Văn
hóa
Sa
Huỳnh
từng
tồn
tại
trên
khu
vực
này
với
những
nét
rất
riêng.
Thời
kỳ
văn
hóa
Óc
Eo,
từ
đầu
Công
Nguyên
cho
tới
thế
kỷ
7,
khu
vực
miền
Nam
Đông
Dương
có
nhiều
tiểu
quốc
và
Sài
Gòn
khi
đó
là
miền
đất
có
quan
hệ
với
những
vương
quốc
này.
Cho
đến
trước
thế
kỷ
16,
vị
trí
tiếp
giáp
với
các
quốc
gia
cổ
cũng
khiến
Sài
Gòn
trở
thành
nơi
gặp
gỡ
của
nhiều
cộng
đồng
dân
cư.
Sài
Gòn
-
Gia
Định
vẫn
là
địa
bàn
của
vài
nhóm
dân
cư
cổ
cho
tới
khi
người
Việt
xuất
hiện.
Khai
phá
Sơ
đồ
Thành
Bát
Quái,
công
trình
được
xây
dựng
năm
1790
Những
người
Việt
đầu
tiên
tự
động
vượt
biển
tới
khai
vùng
đất
này
hoàn
toàn
không
có
sự
tổ
chức
của
nhà
Nguyễn.
Nhờ
cuộc
hôn
nhân
giữa
công
nữ
Ngọc
Vạn
với
vua
Chân
Lạp
Chey
Chetta
II
từ
năm
1620,
mối
quan
hệ
giữa
Đại
Việt
và
Chân
Lạp
trở
nên
êm
đẹp,
dân
cư
hai
nước
có
thể
tự
do
qua
lại
sinh
sống.
Khu
vực
Sài
Gòn,
Đồng
Nai
bắt
đầu
xuất
hiện
những
người
Việt
định
cư.
Trước
đó,
người
Chăm,
người
Man
cũng
sinh
sống
rải
rác
ở
đây
từ
xa
xưa.
Giai
đoạn
từ
1623
tới
1698
được
xem
như
thời
kỳ
hình
thành
của
Sài
Gòn
sau
này.
Năm
1623,
chúa
Nguyễn
sai
một
phái
bộ
tới
yêu
cầu
vua
Chey
Chettha
II
cho
lập
đồn
thu
thuế
tại
Prei
Nokor
(Sài
Gòn)
và
Kas
Krobei
(Bến
Nghé).
Tuy
đây
là
vùng
rừng
rậm
hoang
vắng
nhưng
lại
nằm
trên
đường
giao
thông
của
các
thương
nhân
Việt
Nam
qua
Campuchia
và
Xiêm.
Hai
sự
kiện
quạn
trọng
tiếp
theo
của
thời
kỳ
này
là
lập
doanh
trại
và
dinh
thự
của
Phó
vương
Nặc
Nộn
và
lập
đồn
dinh
ở
Tân
Mỹ
(gần
ngã
tư
Cống
Quỳnh
-
Nguyễn
Trãi
ngày
nay).
Có
thể
nói
Sài
Gòn
hình
thành
từ
ba
cơ
quan
chính
quyền
này.
Năm
1679,
chúa
Nguyễn
Phúc
Tần
cho
một
nhóm
người
Hoa
"phản
Thanh
phục
Minh"
tới
Mỹ
Tho,
Biên
Hòa
và
Sài
Gòn
để
lánh
nạn.
Đến
năm
1698,
chúa
Nguyễn
sai
Nguyễn
Hữu
Cảnh
kinh
lý
vào
miền
Nam.
Trên
cơ
sở
những
lưu
dân
Việt
đã
tự
phát
tới
khu
vực
này
trước
đó,
Nguyễn
Hữu
Cảnh
cho
lập
phủ
Gia
Định
và
hai
huyện
Phước
Long,
Tân
Bình.
Vùng
Nam
Bộ
được
sát
nhập
vào
cương
vực
Việt
Nam.
Thời
điểm
ban
đầu
này,
khu
vực
Biên
Hòa,
Gia
Định
có
khoảng
10.000
hộ
với
200.000
khẩu.
Công
cuộc
khai
hoang
được
tiến
hành
theo
những
phương
thức
mới,
mang
lại
hiệu
quả
hơn.
Năm
1802,
sau
khi
chiến
thắng
Tây
Sơn,
Nguyễn
Ánh
lên
ngôi
và
đẩy
mạnh
công
cuộc
khai
khẩn
miền
Nam.
Các
công
trình
kênh
đào
Rạch
Giá
-
Hà
Tiên,
Vĩnh
Tế...
được
thực
hiện.
Qua
300
năm,
các
trung
tâm
nông
nghiệp
phát
triển
bao
quanh
những
đô
thị
sầm
uất
được
hình
thành.
Từ
Gia
Định
tới
Sài
Gòn
Năm
1788,
Nguyễn
Ánh
tái
chiếm
Sài
Gòn,
lấy
nơi
đây
làm
cơ
sở
để
chống
lại
Tây
Sơn.
Năm
1790,
với
sự
giúp
đỡ
của
hai
sĩ
quan
công
binh
người
Pháp,
Theodore
Lebrun
và
Victor
Olivier
de
Puymanel,
Nguyễn
Ánh
cho
xây
dựng
Thành
Bát
Quái
làm
trụ
sở
của
chính
quyền
mới.
"Gia
Định
thành"
khi
đó
được
đổi
thành
"Gia
Định
kinh".
Tới
năm
1802,
Nguyễn
Ánh
lên
ngôi
ở
Huế,
miền
Nam
được
chia
thành
5
trấn.
Sáu
năm
sau,
1808,
"Gia
Định
trấn"
lại
được
đổi
thành
"Gia
Định
thành".
Trong
khoảng
thời
gian
1833
đến
1835,
Lê
Văn
Khôi
khởi
binh
chống
lại
nhà
Nguyễn,
Thành
Bát
Quái
trở
thành
địa
điểm
căn
cứ.
Sau
khi
trấn
áp
cuộc
nổi
dậy,
năm
1835,
vua
Minh
Mạng
cho
phá
Thành
Bát
Quái,
xây
dựng
Phụng
Thành
thay
thế.
Đường
phố
Sài
Gòn
năm
1915
Chợ
Bến
Thành,
Sài
Gòn
thời
thuộc
địa
với
những
cột
Morris
đặc
trưng
của
Pháp.
Ngay
sau
khi
chiếm
được
thành
Gia
Định
vào
năm
1859,
người
Pháp
gấp
rút
quy
hoạch
lại
Sài
Gòn
thành
một
đô
thị
lớn
phục
vụ
mục
đích
khai
thác
thuộc
địa.
Theo
thiết
kế
ban
đầu,
Sài
Gòn
bao
gồm
cả
khu
vực
Chợ
Lớn.
Nhưng
đến
1864,
nhận
thấy
diện
tích
dự
kiến
của
thành
phố
quá
rộng,
khó
bảo
đảm
về
an
ninh,
chính
quyền
Pháp
quyết
định
tách
Chợ
Lớn
khỏi
Sài
Gòn.
Rất
nhanh
chóng,
các
công
trình
quan
trọng
của
thành
phố,
như
Dinh
Thống
đốc
Nam
Kỳ,
Dinh
Toàn
quyền,
được
thực
hiện.
Sau
hai
năm
xây
dựng
và
cải
tạo,
bộ
mặt
Sài
Gòn
hoàn
toàn
thay
đổi.[28]
Thành
phố
Sài
Gòn
khi
đó
được
thiết
kế
theo
mô
hình
châu
Âu,
nơi
đặt
văn
phòng
nhiều
cơ
quan
công
vụ
như:
dinh
thống
đốc,
nha
giám
đốc
nội
vụ,
tòa
án,
tòa
thượng
thẩm,
tòa
sơ
thẩm,
tòa
án
thương
mại,
tòa
giám
mục...
Lục
tỉnh
Nam
Kỳ
là
thuộc
địa
của
Pháp
và
Sài
Gòn
nằm
trong
tỉnh
Gia
Định.
Vào
năm
1861,
địa
phận
Sài
Gòn
được
giới
hạn
bởi
một
bên
là
rạch
Thị
Nghè
và
rạch
Bến
Nghé
với
một
bên
là
sông
Sài
Gòn
cùng
con
đường
nối
liền
chùa
Cây
Mai
với
những
phòng
tuyến
cũ
của
đồn
Kỳ
Hòa.
Đến
năm
1867,
việc
quản
lý
Sài
Gòn
được
giao
cho
Ủy
ban
thành
phố
gồm
1
ủy
viên
và
12
hội
viên.
Cho
tới
nửa
đầu
thập
niên
1870,
thành
phố
Sài
Gòn
vẫn
nằm
trong
địa
hạt
hành
chính
tỉnh
Gia
Định.
Ngày
15
tháng
3
năm
1874,
Tổng
thống
Pháp
Jules
Grévy
ký
sắc
lệnh
thành
lập
thành
phố
Sài
Gòn.
Đứng
đầu
là
viên
Thị
trưởng
người
Pháp.
Đến
năm
1879
thì
chính
quyền
cho
lập
thêm
Hội
đồng
thành
phố
Sài
Gòn
(hay
đúng
ra
là
Ủy
hội
thành
phố
-
Commission
municipale).
Sưu
tầm-dịch
thuật
Email
contact: thiengia@cailuongvietnam.com