"Đã
ngàn
năm
trôi
qua,
sao
dời
vật
đổi
mà
ta
vẫn
không
thể
nào
quên
tiếng
chuông
báo
tử
của
buổi
chiều
hôm
đó..."
(Hoàng
hậu
của
hai
vua
-
Lê
Duy
Hạnh).
Tiếng
của
ngàn
xưa
vọng
về,
lặn
vào
sóng
nước,
tỏa
khắp
trời
mây...
Phút
chốc,
đất
-
trời
-
người
như
chỉ
còn
là
một.
Vô
cùng.
Thinh
không.
Sĩ
Hoàng
đứng
một
góc
sau
tàng
tre,
như
thu
hết
cái
khung
cảnh,
cái
âm
thanh
huyền
diệu
kia
vào
trong
cảm
xúc
ngất
ngây
không
phải
chỉ
của
một
chàng
họa
sĩ
tài
hoa
mà
còn
bằng
trái
âm
mẫn
cảm,
tha
thiết
của
một
khán
giả.
Sáu
năm
về
trước,
cũng
hình
ảnh
này,
cũng
giai
điệu
này,
ngay
tại
hậu
cung
Diên
Thọ
(Huế),
Sĩ
Hoàng
như
mê
say
bởi
lần
diện
kiến
hai
mươi
phút
"thiết
triều"
của
Thái
hậu
Dương
Vân
Nga.
Sáu
năm
sau,
ngày
12-11-2011,
xúc
cảm
đó
đã
được
anh
nâng
niu,
thăng
hoa
ngay
trên
mảnh
đất
nhà
vườn
Long
Thuận
(Q.9
-
TPHCM)
của
mình.
Tiếng
vỗ
tay
kéo
dài,
lan
tỏa
khắp
mặt
hồ.
Thái
hậu
Dương
Vân
Nga
"bãi
triều”,
lui
về
"hậu
cung”.
Trút
bỏ
xiêm
y,
một
vệt
băng
trắng
bó
chặt
bờ
vai
còn
nặng
mùi
thuốc
nam.
Quên
cả
đau,
"bà
Thái
hậu"
rạng
rỡ,
lâu
lắm
rồi
mới
được
một
đêm
như
thế
này...
Nghiệp
ca
cầm
Với
nghề,
Bạch
Tuyết
được
xem
là
Tổ
đãi.
Chạm
ngõ
năm
mười
sáu
tuổi.
Hai
năm
sau,
được
đệ
nhất
danh
ca
Út
Trà
Ôn
mời
về
đoàn
Thống
Nhất
để
rồi
cuối
năm
1963,
đoạt
ngay
giải
Thanh
Tâm
triển
vọng.
Hai
năm
sau,
đoạt
giai
Thanh
Tâm
xuất
sắc.
Một
đêm
tại
rạp
Quốc
Thanh,
sau
khi
xem
Bạch
Tuyết
diễn
Xe
cát
biển
Đông,
soạn
giả
Hoa
Phượng
đã
nói
với
soạn
giả
Kiên
Giang:
"Bạch
Tuyết
là
cải
lương
chi
bảo,
cô
này
có
biệt
tài
sáng
tạo
và
thông
minh,
còn
tiến
xa
nữa
nếu
diễn
những
vai
khó
hơn".
Tước
hiệu
cao
quý
đó
đã
ấn
chứng
một
vị
trí
Bạch
Tuyết
trong
làng
nghệ
thuật
cải
lương
từ
đó
mãi
về
sau.
Cải
lương
chi
bảo
Bạch
Tuyết
trong
vai
Thái
hậu
Dương
Vân
Nga.
Tranh:
Đào
Quang
Huy
Không
sắc
nước
hương
trời
như
Thanh
Nga
tiểu
chủ;
chẳng
là
giọng
ca
nhung
căng
lụa
trải
như
quái
kiệt
Ngọc
Giàu,
Bạch
Tuyết
vốn
có
làn
hơi
không
dài
nhưng
sang
cả
và...
quyến
rũ.
Cái
vóc
dáng
ngũ
đoản
lại
biết
tạo
nên
những
đường
nét
-
hình
thể
chuẩn
mực
trên
sân
khấu.
Sinh
thời,
trong
một
buổi
lên
lớp
tại
Trường
Nghệ
thuật
Sân
khấu
2,
NSND
Phùng
Há
đã
nhận
xét
nếu
để
xem
và
nghe
thì
đó
là
Thanh
Nga,
nếu
để
học
dứt
khoát
là
Bạch
Tuyết.
Khi
Nhịp
đã
nằm
trong
máu,
Điệu
(thức)
trở
thành
hơi
thở,
Trình
thức
(vũ
đạo)
thiết
kế
cho
mọi
sự
chuyển
động
và
vận
động
thì
cái
còn
lại
-
nghệ
thuật
diễn
xuất
-
chứng
minh
một
nội
lực
sáng
tạo,
một
năng
lượng
phát
kiến
dồi
dào,
bất
tận
của
Bạch
Tuyết.
Trong
“thế
hệ
Vàng"
của
mình,
cùng
với
NSND
Diệp
Lang,
Bạch
Tuyết
đã
đạt
được
giá
trị
nghệ
thuật
bậc
thầy
của
sự
Diễn
trong
Ca
và
Ca
trong
Diễn.
Cái
khoảng
cách
từ
thoại
đến
nói
lối
gối
bài
ca
được
xử
lý
tinh
tế,
điêu
luyện.
Đặc
biệt,
sự
chủ
ý
khai
thác
các
dấu
huyền
-
nặng
trong
ca
lòng
bản
cộng
với
chất
giọng
quãng
tám
đã
mặc
sức
lên
cao
-
xuống
thấp,
tạo
nên
những
dấu
nhấn
trong
ca
rất...
Bạch
Tuyết.
Chính
điều
này
đã
giúp
Cải
lương
chi
bảo
độc
tôn
bài
Xế
xảng
-
thuộc
Bản
Oán
-
với
những
độ
thăng
giáng
bậc
cao.
Gia
sản
nghệ
thuật
của
Bạch
Tuyết
không
nhiều
về
số
lượng
mà
là
chất
lượng.
Những
vai
diễn,
những
vở
diễn
đã
trở
thành
“di
sản
sống"
của
nghệ
thuật
ca
kịch
cải
lương.
Một
Lê
Thị
Trường
An,
một
cô
Tần
rồi
đến
Kiều
Nguyệt
Nga,
Dương
Vân
Nga,
Thúy
Kiều,
cô
Lựu,
Hàn
Ni...
Có
thể
nói,
cho
đến
nay,
nhiều
vai
diễn
trong
số
vừa
kể
đã
trở
thành
những
"chuẩn
mực"
cho
các
nghệ
sĩ
kế
thừa.
Thầy
và
trò
trong
giờ
thị
phạm.
Ảnh:
Phùng
Huy
Một
trong
những
điểm
son
tạo
nên
cái
chuẩn
mực
ấy
chính
là
nghệ
thuật
xử
lý
thân
đoạn
tuyệt
vời
của
Bạch
Tuyết.
Trong
Thái
hậu
Dương
Vân
Nga,
cảnh
độc
thoại
cùng
hàng
gươm
giáo
là
một
minh
chứng.
Các
thủ
pháp
biểu
diễn
đều
có
sự
kết
nối,
liền
lạc
và
mang
tính
biểu
tượng
cao.
"Chém
núi.
Bạt
rừng.
Khơi
sông.
Ngăn
lũ
Đá
chuyển
mình
thành
dao
rựa
thô
sơ.
Kỷ
Văn
Lang
lớn
mạnh
đến
không
ngờ.
Đời
thịnh
trị
hai
ngàn
năm
phẳng
lặng”
(Thái
hậu
Dương
Vân
Nga
-
Hoa
Phượng
-
Trúc
Đường).
Cái
thần
toát
lên
từ
dáng
đứng,
bước
đi
chính
là
vì
trong
mỗi
động
tác
di
chuyển
là
sự
kết
hợp
giữa
trình
thức
ước
lệ
và
tâm
lý
nhân
vật
một
cách
nhuần
nhuyễn,
tài
hoa.
Về
sau,
khi
tiếp
tục
khai
thác
hình
tượng
nhân
vật
lịch
sử
này
trong
Hoàng
hậu
của
hai
vua,
lợi
thế
độc
diễn
đã
cho
phép
Bạch
Tuyết
mặc
sức
"vẫy
vùng"
trong
thế
giới
"diễn
kịch
một
mình".
Và
ngay
khi
người
ta
tưởng
Bạch
Tuyết
(và
nhiều
nghệ
sĩ
cùng
thế
hệ)
đã
an
vị
trong
lâu
đài
nghệ
thuật
của
mình
thì
bất
ngờ,
Cải
lương
chi
bảo
thoát
khỏi
những
cung
điện,
thành
quách
lộng
lẫy
kia,
phiêu
lưu
và
thách
đố
trên
sân
khấu
cải
lương
thử
nghiệm.
Không
lâu
trước
ngày
đi
xa,
trong
một
dịp
trò
chuyện
thân
tình,
soạn
giả
Hoa
Phượng
đã
nhắn
gửi
mấy
lời
với
tác
giả
Lê
Duy
Hạnh,
cả
tôi
và
ông,
xem
chừng
phải
viết
hay
làm
một
điều
gì
đó
để
có
chỗ
cho
Bạch
Tuyết
vẫy
vùng
chứ
không
thì...
Cặp
kính
cận
ấy
nửa
đăm
chiêu
nửa
ưu
tư.
Những
nhân
vật
mà
ông
trao
tặng
cho
Bạch
Tuyết
đã
sừng
sững
trong
lòng
công
chúng,
há
chưa
đủ
để
ông
thỏa
mãn
khi
nhìn
nhận
một
tài
năng?
Và
Lê
Duy
Hạnh
đã
giữ
lời
với
bạn.
Những
tác
phẩm
Hoàng
hậu
của
hai
vua,
Diễn
kịch
một
mình,
Độc
thoại
đêm,
Trần
Nhân
Tông...
liên
tục
ra
đời.
Cũng
từ
dạo
ấy,
Lê
Duy
Hạnh
không
còn
cô
độc
trên
hành
trình
thử
nghiệm.
Cũng
từ
khởi
nguồn
đó,
Bạch
Tuyết
-
một
cõi
đi
về
-
thỏa
sức
vẫy
vùng
trong
thế
giới
độc
diễn.
Một
giờ
mười
lăm
phút
-
Hoàng
hậu
của
hai
vua.
Một
tiếng
mười
phút
-
Diễn
kịch
một
mình...
sàn
diễn
chỉ
là
mặt
nạ,
lồng
sắt,
sân
khấu
là
hai
đỉnh
đồng
và
một
dải
lụa
trắng.
Không
cực
đoan
bài
xích
thế
giới
vật
chất
như
những
nhà
sân
khấu
phản
kịch
(Anti
-
theater),
nhưng
sự
tiết
chế,
giản
lược
các
đạo
cụ,
đưa
không
gian
tả
thực
về
không
gian
tả
ý
với
việc
khai
thác
ưu
thế
ngôn
ngữ
ước
lệ
đã
thật
sự
vẽ
nên
một
xu
thế
biểu
diễn
hiện
đại
mà
truyền
thống.
Trên
nền
tảng
của
sân
khấu
ca
kịch
dân
tộc,
tính
chất
tâm
lý
trữ
tình
của
hệ
Stanhilapski
và
tính
gián
cách
của
B.Brech
đã
thật
sự
hài
hòa
và
uyển
chuyển
trong
thế
giới
kịch
nghệ
mang
tên
Bạch
Tuyết
-
Lê
Duy
Hạnh.
“Một
dấu
son
trong
đời
làm
nghề
của
bà,
đó
sẽ
là...?”.
Bạch
Tuyết
khoát
tay,
bật
dậy,
thần
thái
toát
lên
từ
dáng
đi,
giọng
nói:
“Ta
đứng
đây
đã
thấy
ngã
ba
sông.
Chảy
trong
óc
trong
tim
trong
trang
sử
tiên
rồng.
Thuyền
xã
tắc
phân
vân
bề
tiến
thoái.
Đất
nước
hỏi
ai
xứng
là
gạch
nối
đế
gắn
liền
hãnh
diện
giữa
xưa
-
sau.
Để
cho
ta
trang
trọng
khoác
long
bào.
Ngôi
cửu
ngũ
từ
nay
đà
có
chủ..."
(Thái
hậu
Dương
Vân
Nga).
Phút
chốc,
không
gian
nhỏ
bé
này
như
tan
đi,
thời
gian
đang
tất
bật
này
bỗng
vỡ
ra,
còn
lại
một
thể
phách,
một
tinh
anh
luôn
thao
thức,
luôn
mãnh
liệt
vì
nghề,
hơn
thế
là
nghiệp
và
cao
nhất,
ấy
là
đạo.
Nghề
truyền
nghề
Năm
2011,
ở
tuổi
sáu
mươi
sáu,
NSƯT
-
tiến
sĩ
nghệ
thuật
Bạch
Tuyết
chính
thức
làm
thầy,
bà
nhận
lời
giảng
dạy
cho
lớp
Cải
lương
K30,
hệ
trung
cấp,
Trường
Cao
đẳng
Văn
hóa
TPHCM.
Nhiều
năm
qua,
xen
kẽ
giữa
lịch
biểu
diễn
là
những
chuyến
tập
huấn,
nâng
cao
nghề
nghiệp
cho
các
diễn
viên
chuyên
nghiệp
trên
toàn
quốc.
Họ
tíu
tít
gọi
bà
là
thầy
nhưng
bà
không
chịu
nhận.
“Hồi
trước,
người
ta
sắp
xếp
thời
gian
thuận
tiện
nhất
cho
mình
để
mình
đến
nói
đôi
điều
ba
chuyện
về
nghề.
Vậy
thôi!
Bây
giờ
thì,
ngoại
trừ
hè
và
nghỉ
Tết,
còn
lại
thầy
trò
miệt
mài
ba
buổi
trong
tuần.
Rất
công
chức.
Thiệt
tình
thì
tôi
cũng...
bắt
chước
má
Bảy
Phùng
Há
thôi,
dạy
là
học,
với
nghệ
thuật
thì
biết
thế
nào
là
đủ!".
Diễn
kịch
một
mình
cho
cả
cõi
nhân
sinh.
Ảnh:
M.
Châu
NSƯT
Bạch
Tuyết
và
NS
Tấn
Tài.
Ảnh:
Huỳnh
Công
Minh
Còn
nhớ,
ngày
đầu
tiên
nhận
lớp,
bà
được
giáo
viên
chủ
nhiệm
“đặt
hàng"
phải
nghiêm
khắc
với
học
trò,
cấm
nghe
điện
thoại
trong
lớp,
cấm
trễ
giờ,
cấm
đi
sô...
Bà
cũng
được
yêu
cầu
trình
giáo
án
giảng
dạy
cho
nhà
trường.
Giờ
học
đầu
tiên,
bà
để
học
trò
viết
về
bản
thân,
về
nguyện
vọng
học
nghề,
theo
nghề,
viết
về
những
nghệ
sĩ
tiền
bối
mà
bà
gọi
là
những
Tổ
nghề.
Đêm
đầu
tiên
làm
thầy,
bà
mất
ngủ.
Những
nét
chữ
nguệch
ngoạc,
đầy
lỗi
chính
tả
nhưng
lại
cố
gắng
nắn
nót
viết
hoa
những
cái
tên
Năm
Châu,
Tư
Trang,
Phùng
Há,
Kim
Cúc,
Ba
Vân,
Tám
Danh,
Tám
Vân,
Thanh
Nga...
Những
trang
giấy
học
trò
chở
theo
bao
nỗi
nhọc
nhằn,
cơ
cực
lại
luôn
lóe
lên
tia
sáng
mê
nghề,
quyết
tâm
học
để
được
ca,
được
diễn.
Thế
là
gác
hết
những
chuyến
lưu
diễn,
du
lịch
dài
ngày,
bỏ
luôn
cả
cái
thói
quen
ngủ
trễ
để
dậy
sớm
và
chen
chân
giữa
dòng
xe
cộ
mỗi
sáng,
mỗi
chiều.
Những
buổi
trưa,
bà
đặt
luôn
hai
mươi
phần
cơm
cho
học
trò,
dặn
thêm
cá,
thêm
thịt,
trò
ăn
xong
còn
tranh
thủ
ngủ
trưa
tại
lớp
để
có
sức
mà
giữ
trường
lực
trong
ca
trong
diễn.
Tiền
lương
dạy
học
của
thầy
cũng
vừa
đủ
cho
bữa
ăn
tập
thể
của
trò.
Bà
đưa
ra
một
loạt
“yêu
sách”
với
Nhà
hát
Cải
lương
Trần
Hữu
Trang,
đơn
vị
phối
hợp
đào
tạo:
Lắp
đặt
một
"bức
tường"
bằng
kính
để
sinh
viên
được
thấy
mình,
thấy
bạn
trong
giờ
học
vũ
đạo
mà
kịp
thời
uốn
nắn,
điều
chỉnh;
sắm
một
dàn
âm
thanh
để
sinh
viên
"nghe"
được
tiếng
mình
trong
tiếng
đờn,
dàn
đờn
mà
đếm
nhịp,
giữ
nhịp
làm
chủ
nhịp
và
hơi;
mọi
suất
hát,
biểu
diễn
của
nhà
hát
nên
dành
một
vài
vị
trí
cho
sinh
viên
để
các
bạn
cọ
xát
sàn
diễn,
làm
quen
với
công
chúng...
Thời
may,
ông
giám
đốc
nhà
hát
gật
đầu
cái
rụp.
"Dạy
làm
sao
để
các
em
quên
nghe
điện
thoại,
nhắn
tin;
dạy
làm
sao
mà
các
em
háo
hức
đến
lớp,
đó
là
công
việc
của
các
thầy
cô
chúng
tôi.
Còn
chạy
sô
ngoài
giờ
học
hay
một
vài
buổi
trong
giờ
học
vì
sự
chẳng
đặng
đừng
thì
cũng
phải
chấp
nhận,
vì
đó
là
nguồn
nuôi
sống
của
các
em.
Không
có
tiền
thì
mọi
ước
mơ,
đam
mê
đều
khốn
khổ!”.
Câu
trả
lời
ngay
trong
ngày
đầu
nhận
lớp,
Bạch
Tuyết
đã
thực
hiện
được.
Và
đó
là
những
buổi
học
không
nhẹ
nhàng.
Chẳng
có
những
lời
ngọt
ngào,
những
câu
ve
vuốt.
Mọi
sáng
tạo
nghệ
thuật
đều
được
dưỡng
nuôi
từ
một
trái
tim
mẫn
cảm,
chân
thành
và...
tỉnh
táo.
Nghệ
thuật
ca
kịch
cải
lương
-
qua
Bạch
Tuyết
đã
mang
theo
cái
hiểu
biết
lịch
lãm
của
NSND
Nguyễn
Thành
Châu;
nét
tài
hoa
quyến
rũ
của
NSND
Phùng
Há;
vẻ
nghiêm
cẩn,
mô
phạm
của
NSƯT
Kim
Cúc;
tính
mực
thước
mà
bay
bổng
của
nghệ
sĩ
Tám
Vân
và
những
người
thầy
đã
“chinh
chiến"
cùng
bà
qua
mỗi
giai
đoạn
học
nghề
-
làm
nghề
từ
soạn
giả
Hoa
Phượng,
đạo
diễn
Lưu
Chi
Lăng
đến
tác
giả
Lê
Duy
Hạnh,
họa
sĩ
-
NSND
Lương
Đống,
nhạc
sĩ
-
NSƯT
Thanh
Hải...
để
mỗi
ngày,
mỗi
buổi
thấm
vào
hồn
vía,
cốt
cách
của
lớp
nghệ
sĩ
hậu
sinh.
Cộng
thêm
những
tri
thức
góp
nhặt
qua
bốn
năm
dùi
mài
ở
Học
viện
Kịch
nghệ
Hoàng
gia
London
(nơi
NSƯT
Bạch
Tuyết
bảo
vệ
luận
án
tiến
sĩ),
kết
hợp
thành
một
phương
pháp
truyền
nghề
-
sư
phạm
giá
trị,
hiệu
quả.
Chưa
kể,
bà
ôm
trọn
những
câu
chuyện
nghề
của
một
thời
vàng
son
với
Thanh
Hương,
Thanh
Nga,
Ngọc
Giàu,
Thành
Được,
Hùng
Cường,
Diệp
Lang,
Thanh
Sang,
Diệu
Hiền,
Lệ
Thủy,
Minh
Vương,
Thanh
Tuấn...
mà
thị
phạm
trên
sàn
tập.
Thị
phạm
ca,
thị
phạm
diễn,
thị
phạm
trình
thức,
một
buổi
dạy
bằng
ba
buổi
diễn
bởi
nói,
hát,
múa,
(chưa
kể
la
mắng
đập
bàn!)
và
đào
sâu
thế
giới
nội
tâm,
tính
cách
nhân
vật
để
học
trò
nắm
bắt
đường
dây,
tuyến
kịch...
Giáo
trình
đứng
lớp
của
bà
chính
là
năm
mươi
năm
trên
sàn
diễn
với
bao
tâm
huyết,
bao
nỗi
niềm,
bao
vinh
quang
lẫn
nhọc
nhằn;
bà
truyền
lửa,
tiếp
sức
cho
hai
mươi
gương
mặt
tươi
trẻ,
háo
hức...