Nguyễn Tri Khương với vở cải lương Giọt lệ chung tình
- Chủ nhật - 18/05/2014 12:59
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
NS Minh Cảnh vang danh với bài tân cổ Võ Đông Sơ
Năm 1927, vở cải lương Giọt lệ chung tình của nhạc sĩ và thầy tuồng Nguyễn Tri Khương ra đời. Ông viết tuồng cho gánh hát Đồng Nữ Ban do bà Trần Ngọc Viện thành lập (tức bà Trần Ngọc Viện, giảng viên Khoa Gia chánh Trường Nữ Học Đường - nay là Trường Nguyễn Thị Minh Khai).
Gánh
hát
không
có
kép
nam,
toàn
là
nữ
diễn
viên.
Nữ
không
phải
toàn
là
“đàn
bà”
mà
toàn
là
“con
gái”
của
các
gia
đình
nông
dân,
điền
chủ
trong
làng
Vĩnh
Kim
và
các
làng
lân
cận:
Đông
Hòa,
Rạch
Gầm,
Kim
Sơn,
Long
Hưng…
(Châu
Thành,
Tiền
Giang),
được
cô
Ba
Viện
tuyển
lựa
vào
gánh
hát.
Khi
gánh
Đồng
Nữ
Ban
được
thành
lập,
thầy
tuồng
Nguyễn
Tri
Khương
cho
bà
Năm
Viện
cất
trên
đất
của
ông
một
căn
nhà
lá
rộng
rãi
để
làm
nơi
tập
tuồng.
Nguyễn
Tri
Khương
(1890
-
1962)
nổi
danh
là
ông
Cả
Năm
thổi
sáo,
em
ông
Bái
Lạc
ở
làng
Vĩnh
Kim
và
là
con
ông
Hội
đồng
Nguyễn
Tri
Túc,
cháu
nội
ông
Nguyễn
Tri
Phương
(vị
đại
thần
triều
Nguyễn),
là
anh
của
bà
Nguyễn
Thị
Dành,
Bí
thư
Chi
bộ
xã
Vĩnh
Kim,
huyện
Châu
Thành
năm
1930.
Đến
ấp
Thới,
xã
Đông
Hòa,
huyện
Châu
Thành
(gần
chợ
Vĩnh
Kim),
hỏi
thăm
dân
trong
vùng,
ai
cũng
biết
nhà
thờ
họ
Nguyễn
Tri.
Có
dịp
tôi
ghé
thăm,
được
ông
Nguyễn
Tri
Triết,
là
cháu
đời
thứ
5
của
Nguyễn
Tri
Phương,
đã
cho
tôi
xem
gia
phả
dòng
họ
Nguyễn
Tri
và
quyển
tập
giấy
kẻ
ngang
viết
vở
cải
lương
Giọt
lệ
chung
tình.
Trang
đầu
tiên
là
bài
Madelon,
bài
hát
mở
đầu
đào
kép
đứng
hết
trên
sân
khấu
đồng
ca,
góc
phải
cuối
trang
là
mấy
dòng
ngắn
gọn
của
Giáo
sư
-
Tiến
sĩ
Trần
Văn
Khê
xác
nhận
bản
thảo
đó
là
bút
tích
của
cậu
Năm
tôi,
tức
ông
Nguyễn
Tri
Khương.
Vở
cải
lương
Giọt
lệ
chung
tình
phỏng
theo
tiểu
thuyết
dã
sử
“Giọt
máu
chung
tình”
của
nhà
văn
Nguyễn
Hữu
Ngởi,
tức
Tân
Dân
Tử.
Trong
lời
tựa
tác
phẩm
“Giọt
máu
chung
tình”
của
mình
xuất
bản
năm
1926,
Tân
Dân
Tử
viết:
“Những
nhà
đại
gia
văn
chương
trong
xứ
ta
khi
trước
hay
dùng
sự
tích
sử
truyện
Tàu
mà
diễn
ra
Quốc
văn
của
ta
và
cũng
chưa
thấy
tiểu
thuyết
nào
làm
ra
một
sự
tích
của
bậc
anh
hùng
hào
kiệt
và
trang
liệt
nữ
thuyền
quyên
trong
xứ
ta
đặng
mà
bia
truyền
cho
dân
rõ
biết.
Như
vậy
thì
trong
xứ
ta
chỉ
biết
khen
ngợi,
sùng
bái
người
anh
hùng
liệt
nữ
xứ
khác
mà
chôn
lấp
cái
danh
giá
của
người
anh
hùng
liệt
nữ
xứ
mình,
chỉ
biết
xưng
tụng
cái
oai
phong
của
người
ngoại
ban,
mà
vùi
lấp
cho
lu
mờ
cái
tinh
thần
của
người
bản
quốc”.
Trên
tinh
thần
đó,
ông
đã
viết
nên
tiểu
thuyết
“Giọt
máu
chung
tình”
để
rồi
2
tư
tưởng
lớn
gặp
nhau.
Phỏng
theo
tiểu
thuyết
dã
sử
đó,
ông
cả
Năm
thổi
sáo
đã
soạn
ra
vở
cải
lương
Giọt
lệ
chung
tình,
nhắc
lại
chuyện
tình
trắc
trở
của
Võ
Đông
Sơ
và
Bạch
Thu
Hà.
Vở
cải
lương
ra
đời
trong
hoàn
cảnh
phong
trào
cách
mạng
ở
xã
Vĩnh
Kim
dâng
cao,
với
sự
hỗ
trợ
của
em
gái
và
sự
hợp
tác
chặt
chẽ
với
chị
chồng
của
em
gái,
tức
bà
Trần
Ngọc
Viện,
vở
cải
lương
đã
ra
mắt
khán
giả.
Đây
là
vở
diễn
chủ
lực
của
gánh
cải
lương
Đồng
Nữ
Ban,
là
vở
tuồng
dã
sử.
Khác
với
“Ngoại
sử,
dã
sử”,
ngoài
việc
lấy
sử
Việt
Nam
làm
bối
cảnh
chính,
các
nhân
vật
chính
cũng
phải
là
nhân
vật
có
thực
trong
lịch
sử
Việt
Nam
thể
hiện
trong
bài:
Kim
tiền
vắn
có
đoạn
Võ
Đông
Sơ
tự
giới
thiệu
với
Bạch
Thu
Hà
rằng:
Khai
Quốc
công
tước
làm
hậu
quân
Tên
Võ
Tánh
vốn
thiệt
chung
đường
Tước
công
chúa
hiệu
là
Ngọc
Du
Ấy
là
mẫu
thân
Trên
song
đường
vui
cảnh
hạt
đã
xa
dời
Tên
tiểu
tử
ấy
tên
là
Đông
Sơ….
Theo
thúc
thân
nương
ngụ…
Trong
tuồng,
các
câu
nói
lối
Xuân,
lối
Ai
đều
viết
theo
lối
văn
biền
ngẫu,
nội
dung
nhiều
đoạn
rất
mạnh,
nói
lên
tâm
tư
của
dân
tộc
Việt
Nam
lúc
đó
đang
có
tinh
thần
chống
chính
sách
đô
hộ
thuộc
địa,
như
đoạn
Võ
Đông
Sơ
đánh
bại
gian
nhơn
rồi
thì
khi
đạp
trên
mình
gian
nhơn
(kẻ
cướp)
đã
chỉ
mặt
nó
mà
hỏi:
Ơ
tên
kia!…
Đem
cường
quyền
hòng
xâm
lấn
Mượn
áp
chế
dốc
tung
hoành
Phạm
tự
do,
xã
hội
dám
hy
sanh
Đạp
công
lý
quốc
dân
đành
xả
mạng…
Ngoài
những
nhân
vật
lịch
sử,
về
nghệ
thuật,
vở
cải
lương
có
đầy
đủ
các
bản
nhạc
theo
các
điệu,
hơi
Bắc,
Quảng,
Hạ,
Xuân,
Ai
đảo,
Hành
vân,
Văn
Thiên
Tường,
Kim
tiền
vắn,
Lưu
thủy
trường,
Bình
bán
vắn,
Tứ
đại
oán,
Bài
hạ,
Lưu
thủy
đoản,
Kim
tiền
ngự
giả,
Khổng
Minh
tạ
lầu,...
Đặc
biệt,
bài
Vọng
cổ
Hoài
Lang
nhịp
2
xuất
hiện
gắn
liền
với
tuồng
Giọt
lệ
chung
tình
vào
năm
1927.
Vọng
cổ
Hoài
Lang
nhịp
2
có
đoạn
(có
nhiều
bài,
tôi
xin
trích
1
đoạn):
…Chàng
ôi
vốn
đây
nữ
liệt
Dễ
đâu
làm
trở
gót
hùng
anh
Vì
thương
chàng
bể
dâu
cam
đành
Tuyết
sương
tên
đạn
vẫy
vùng…
Đoạn
này
ca
ngợi
sự
trung
trinh,
tiết
liệt
của
Bạch
Thu
Hà
dù
bị
gia
đình
ép
gả
nhưng
nàng
một
mực
chung
tình.
Và
lần
đầu
tiên,
ông
đã
sáng
tạo
ra
nhiều
bài
bản
mới
(có
nhiều
bài
bản
mới,
tôi
xin
trích
mỗi
loại
1
bài):
Yến
tước
tranh
ngôn
(Chim
én
và
chim
sẻ
tranh
lời)
Hôm
nay
ngày
Cậy
người
đem
lời
mai
ước
Mà
chẳng
rõ
Chẳng
rõ
khúc
nỗi
duyên
do…
Phong
xi
trịch
liễu
(cơn
gió
làm
nghiêng
cây
liễu)
theo
hơi
Xuân
nữ,
nhưng
nhịp
dồn
dập
như
bài
Nam
tẩu
trong
Hát
Bội:
Việc
cô
tôi
liều
mình
Việc
cô
tôi
liều
mình
Nhơn
vì
đau
lòng
nợ
duyên…
Tới
ngày
nay,
không
thấy
soạn
giả
nào
sử
dụng
các
bài
này
trong
cải
lương,
trong
đó
có
bài
Phong
xi
trịch
liễu
mà
GS-TS
Trần
Văn
Khê
có
thu
vào
dĩa
hát
bên
Pháp
vào
năm
1959.
Với
vở
chủ
lực
Giọt
lệ
chung
tình,
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
dùng
sân
khấu
làm
nơi
tập
hợp,
giáo
dục
quần
chúng,
giáo
dục
tinh
thần
yêu
nước
và
gây
quỹ
tài
chính
cho
tổ
chức
Hội
Việt
Nam
Cách
mạng
Thanh
niên
tỉnh
Mỹ
Tho.
Đến
năm
1928,
lấy
lý
do
gánh
Đồng
Nữ
Ban
hoạt
động
quốc
sự,
nhà
cầm
quyền
Pháp
ở
Nam
kỳ
ra
lệnh
giải
tán.
Tuy
chỉ
tồn
tại
trong
một
thời
gian
ngắn,
nhưng
gánh
Đồng
Nữ
Ban
là
niềm
tự
hào
của
nữ
giới
Tiền
Giang
trong
công
cuộc
vận
động
giải
phóng
dân
tộc
và
góp
thêm
sự
đa
dạng
của
sân
khấu
cải
lương
trong
những
năm
20
của
thế
kỷ
trước.

Tác giả bài viết: meoxu
Nguồn tin: Ấp Bắc