|
TS Mai Mỹ Duyên: Bản sắc văn hóa Nam bộ biểu hiện rõ nhất trong cải lương Cải lương hình thành trên cơ sở lối ca ra bộ của nhạc tài tử, hát bội, dân ca và văn học Việt Nam. Tuy nhiên, cải lương không dừng lại ở các bài bản tổ, mà trên nền tảng hơi - điệu đó, các nhạc sĩ, nghệ nhân đi trước không ngừng cải tiến, sáng tạo nên một nhạc mục phong phú với hàng trăm bản lớn nhỏ, đáp ứng mọi trạng thái tâm lý của nhân vật, mọi tình huống trên sân khấu… Sân khấu cải lương ra đời như một tất yếu của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa Đông - Tây ở Nam bộ mà nền tảng vững chắc chính là nhu cầu hưởng thụ đa dạng và luôn tìm tòi sáng tạo ra giá trị văn hóa tinh thần của các tầng lớp trong xã hội. Có lẽ, không ngoa khi nói rằng: Bản sắc văn hóa Nam bộ biểu hiện rõ nhất trong cải lương. Vì nó thể hiện sức mạnh tư duy, ý chí, tình cảm của con người Nam bộ, luôn tiếp thu, cải tiến, sáng tạo không ngừng để tồn tại và phát triển. Nhà báo Đỗ Quốc Dũng, giảng viên ĐH KHXH-NV TPHCM: Cải lương về làng như “phụng hoàng về miễu” Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, còn nhiều khó khăn từ hậu quả của chiến tranh, nhưng các đơn vị nghệ thuật nói chung, với khí thế hừng hực nên hầu hết sân khấu đều sáng đèn trên toàn quốc. Các tác giả của giai đoạn trước năm 1975 vẫn giữ vững tư thế của mình để tiếp tục phát huy thành tựu đã đạt được, tạo nền tảng cho đội ngũ tác giả kế thừa cùng xây dựng cục diện cải lương mới trong khung cảnh đất nước hòa bình, thống nhất. Từ TPHCM đến các tỉnh đều có mặt đội ngũ tác giả các thế hệ, cùng tập thể các đơn vị nghệ thuật tạo nên “gương mặt mới” cho cải lương lúc này. Một bộ phận công luận ở Nam bộ cho rằng, “cải lương là đế vương”, cải lương về làng như “phụng hoàng về miễu”. Tên tuổi các tác giả gắn liền với vở diễn, các diễn viên thì gắn liền với nhân vật. Các rạp hát ở thành phố, thị xã, thị trấn đều do cải lương chiếm lĩnh, suất diễn nào khán giả cũng đầy rạp. Nhiều rạp hát ở TPHCM có lúc cao điểm diễn cả suất ban ngày. Ở miệt tỉnh, nhiều sân vận động, nhà lồng chợ, sân trường học là “bãi hát” của cải lương, mỗi suất diễn vài ngàn người xem là chuyện bình thường vào thời điểm đó. |
Cải Lương Rực Rỡ Thời Vàng Son
- Thứ sáu - 28/12/2018 15:59
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
HP - TN

Vở
cải
lương
Bên
cầu
dệt
lụa,
được
đông
đảo
khán
giả
mộ
điệu
yêu
mến.
Ảnh:
TƯ
LIỆU
Năm 2018 kỷ niệm 100 năm sân khấu cải lương hình thành, phát triển và trải qua bao thăng trầm của một lĩnh vực nghệ thuật truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa Nam bộ. Cải lương hiện nay không chỉ là “đặc sản nghệ thuật” của Nam bộ mà còn là di sản văn hóa của cả nước. Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật cải lương đến nay vẫn chưa đồng bộ với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục. Thực trạng của cải lương khiến nhiều người suy tư, trăn trở…
Thời
hoàng
kim,
cải
lương
đi
vào
đời
sống
người
dân
bằng
sức
sống
mạnh
mẽ,
lan
tỏa
rộng
khắp
làng
xóm,
phố
phường,
làm
sinh
động
không
gian
sinh
hoạt
văn
hóa
nghệ
thuật
từ
thành
thị
đến
nông
thôn.
Từ
sân
khấu
cải
lương
đã
tạo
nên
những
lớp
nghệ
sĩ
tài
danh
mà
tên
tuổi
sống
mãi
với
thời
gian.
Khán
giả
rồng
rắn
xếp
hàng
chờ
mua
vé
Có
câu
hỏi
đặt
ra:
“Đâu
là
thời
kỳ
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương
Nam
bộ?”.
Với
nhiều
nhà
nghiên
cứu,
nghệ
sĩ,
giai
đoạn
đó
là
từ
năm
1955
-
1975.
Theo
NSƯT,
đạo
diễn
Trần
Minh
Ngọc:
“Đó
là
giai
đoạn
cải
lương
đạt
được
mọi
tiêu
chí
của
nghệ
thuật
trình
diễn
như:
kịch
bản
có
nội
dung
tốt,
được
viết
bởi
những
tác
giả
giỏi;
diễn
viên
hát
hay
do
được
ban
nhạc
tài
hoa
hỗ
trợ
và
khán
giả
say
mê,
ủng
hộ
nghệ
sĩ
hết
mình”.
Còn
theo
nghiên
cứu
của
TS
Mai
Mỹ
Duyên,
giai
đoạn
này
vừa
giữ
được
đội
ngũ
sáng
tạo
“đàn
anh”
đang
vào
độ
chín
muồi
như
nghệ
sĩ
Năm
Châu,
Mộng
Vân,
Tư
Chơi…
vừa
xuất
hiện
thêm
một
lực
lượng
đông
đảo
soạn
giả
trẻ
tuổi,
nhiệt
huyết
và
dồi
dào
bút
lực
như:
Viễn
Châu,
Kiên
Giang,
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng…
“Nếu
như
giai
đoạn
trước
đó,
các
soạn
giả
tập
trung
khai
thác
chất
liệu
văn
học
Việt
Nam,
Trung
Hoa
và
Pháp
vào
tác
phẩm
của
mình,
thì
đến
giai
đoạn
này,
nội
dung
đã
mở
rộng
đến
mức
không
ngờ,
đẩy
nghệ
thuật
văn
chương
của
cải
lương
lên
đỉnh
cao
của
sự
sáng
tạo,
hình
thành
nhiều
thể
tài
của
sân
khấu
cải
lương
như:
hương
xa,
kiếm
hiệp,
dã
sử,
tâm
lý
xã
hội…”,
TS
Mai
Mỹ
Duyên
cho
biết.
Ở
thập
niên
1960,
tại
miền
Nam,
cải
lương
hưng
thịnh
lấn
át
cả
tân
nhạc.
Lúc
bấy
giờ,
Sài
Gòn,
Chợ
Lớn,
Gia
Định
có
đến
hơn
39
rạp
hát
cải
lương
và
hầu
hết
các
sân
khấu
đều
sáng
đèn
mỗi
ngày
để
phục
vụ
nhu
cầu
giải
trí
của
rất
đông
khán
giả.
Cũng
nhờ
vậy
mà
đời
sống
của
các
soạn
giả
và
nghệ
sĩ
khá
sung
túc.
Những
soạn
giả
tuồng
nổi
tiếng
như:
Năm
Châu,
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng,
Bảy
Cao,
Thiếu
Linh,
Thu
An,
Viễn
Châu, Loan Thảo,
Quy
Sắc,
Yên
Lang,
Trần
Hữu
Trang,
Kiên
Giang,
Thế
Châu,
Thạch
Tuyền…
đã
cho
ra
đời
hàng
loạt
tác
phẩm
kinh
điển,
đậm
chất
văn
học
nghệ
thuật,
được
các
ông
bầu
đầu
tư
dàn
dựng,
dàn
nghệ
sĩ
ca
diễn
đặc
sắc,
kịp
thời
đáp
ứng
thị
hiếu
của
khán
giả,
lại
vừa
thể
hiện
những
vấn
đề
nóng
của
xã
hội.
Bằng
ngòi
bút
sắc
bén
của
mình,
các
soạn
giả
sáng
tạo
nên
những
đứa
con
tinh
thần,
thể
hiện
chính
kiến,
bày
tỏ
quan
điểm
với
thời
cuộc.
Sau
ngày
miền
Nam
hoàn
toàn
giải
phóng,
cũng
là
thời
hưng
thịnh
của
nghệ
thuật
cải
lương.
Khán
giả
đều
đặn
đến
rạp
vào
những
tối
cuối
tuần;
quây
kín
những
điểm
diễn
ở
khu
vực
vùng
ven,
ngoại
thành.
Với
nhiều
vở
diễn
đặc
sắc,
khán
giả
phải
rồng
rắn
xếp
hàng
chờ
mua
vé.
Khi
quầy
bên
trong
hết
vé,
khán
giả
chấp
nhận
mua
vé
chợ
đen
để
được
vào
rạp
xem
hát
với
chỗ
ngồi
tốt,
nghe
cải
lương
và
ngắm
các
nghệ
sĩ
thần
tượng.
Sự
hâm
mộ
nghệ
sĩ
được
bày
tỏ
cuồng
nhiệt
đến
nỗi,
sau
mỗi
suất
diễn,
nhiều
khán
giả
nán
lại
và
chen
chân
khu
vực
cửa
sau
rạp
hát
để
chờ
được
nhìn
tận
mặt
vẻ
đẹp
đời
thường
của
nghệ
sĩ
mình
yêu
thích.
Tất
cả
những
hào
quang
lung
linh
của
sàn
diễn
thưở
ấy
chứng
tỏ
sức
hấp
dẫn
khó
cưỡng
của
sân
khấu
cải
lương
và
nghệ
sĩ
cải
lương
mà
không
có
loại
hình
nghệ
thuật
nào
bì
kịp.
Lúc
này,
TPHCM
-
cái
nôi
của
sân
khấu
cải
lương
có
rất
nhiều
sân
khấu,
nhiều
phong
cách
vở
diễn
khác
nhau,
tạo
điều
kiện
cho
khán
giả
mộ
điệu
có
nhiều
cơ
hội
chọn
lựa
để
giải
trí.
Nghề
rèn
ngọc
Theo
hành
trình
phát
triển
sân
khấu
cải
lương,
lĩnh
vực
nghệ
thuật
đặc
sắc
này
xuất
hiện
ngày
càng
nhiều
nghệ
sĩ
tài
danh,
hình
thành
một
thế
hệ
vàng
những
nghệ
sĩ
nổi
tiếng
đi
vào
lòng
khán
giả
mộ
điệu
sân
khấu
bao
thế
hệ
như:
Phùng
Há,
Bạch
Mai,
Út
Trà
Ôn,
Út
Bạch
Lan,
Năm
Châu,
Diệp
Lang,
Bảy
Nam,
Minh
Vương,
Mỹ
Châu,
Thanh
Sang,
Ngọc
Giàu,
Bạch
Tuyết,
Lệ
Thủy,
Phương
Liên,
Hồng
Nga,
Kim
Ngọc,
Minh
Phụng,
Diệu
Hiền,
Ngọc
Hương,
Minh
Cảnh,
Thanh
Nga,
Thanh
Kim
Huệ,
Thanh
Hương,
Thanh
Tú,
Năm
Phỉ,
Ba
Vân,
Tám
Danh,
Vũ
Linh,
Thanh
Tuấn,
Thanh
Hải,
Thanh
Thế…
Lăn
xả
với
nghề,
mỗi
nghệ
sĩ
đều
cố
gắng
dốc
hết
sức
để
kiến
tạo
nên
những
dấu
ấn
rất
riêng,
xây
dựng
phong
cách
ca
diễn
cuốn
hút
mang
những
đặc
trưng
không
thể
lẫn
lộn.
Những
giọng
ca
của
Thanh
Nga,
Thanh
Sang,
Thanh
Tuấn,
Minh
Vương…
muồi,
lạ
đến
mức
không
cần
nhìn
hình,
không
cần
trực
tiếp
xem
sân
khấu,
mà
khán
giả
mộ
điệu
vẫn
biết
rõ
giọng
ca
đó
là
của
nghệ
sĩ
nào.
Khán
giả
Nguyễn
Anh
(68
tuổi,
ngụ
quận
10,
TPHCM)
nhớ
lại:
“Từ
trước
năm
1975,
chúng
tôi
đã
là
những
người
trẻ
mê
mải
cải
lương.
Hồi
đó,
làm
gì
có
nhiều
trò
giải
trí
để
lựa
chọn
nên
cải
lương
có
chỗ
đứng
vững
chắc.
Tôi
nhớ,
hôm
nào
mà
mua
được
vé
vô
rạp
là
niềm
vui
lớn
nhứt.
Còn
không
thì
nghe
ké.
Lạ
là
không
cần
coi
trực
tiếp
vẫn
mê
nghệ
sĩ
như
điếu
đổ.
Ai
mà
cất
giọng
là
cả
đám
coi
ké
đều
thuộc
làu
tên.
Cải
lương
ngấm
vô
máu
thịt
dân
Nam
bộ
như
vậy
đó”.
Để
có
được
một
chất
giọng
lạ,
phong
cách
diễn
xuất
sắc
sảo,
ngoài
vốn
trời
cho
là
giọng
ca,
từng
nghệ
sĩ
tài
danh
đã
phải
trải
qua
không
ít
sự
trui
rèn
vất
vả.
NSƯT
Thanh
Tuấn
nhớ
lại:
“Thời
hoàng
kim,
mỗi
nghệ
sĩ
chúng
tôi
muốn
có
được
một
chỗ
đứng
vững
chắc
trên
sân
khấu,
được
khán
giả
nhìn
nhận,
yêu
mến
đều
phải
khổ
luyện.
Phải
rất
khó,
rất
khổ
mới
được
thành
danh
vì
không
dễ
mà
khán
giả
biết
đến
tên
tuổi
mình.
Chúng
tôi
cật
lực
tự
học,
tự
rèn
luyện
mà
không
hề
được
kinh
qua
trường
lớp
đào
tạo
bài
bản.
Mỗi
sáng,
tôi
lại
tự
rèn
thanh,
rồi
tự
rút
kinh
nghiệm
cho
bản
thân
qua
từng
vai
diễn.
Ngày
đó,
sự
hỗ
trợ
về
quảng
bá
tên
tuổi,
thông
tin
truyền
thông
đến
công
chúng
như
báo,
đài,
truyền
hình
cũng
rất
hiếm
hoi.
Tôi
đi
thu
đài
cũng
vất
vả
lắm.
Vào
phòng
thu,
thu
3
câu
vọng
cổ,
mình
ca
hư
một
chữ
thôi
là
phải
ca
lại
từ
đầu.
Những
bạn
có
nghề
nghiệp
yếu,
có
lúc
thu
đi
thu
lại
5
lần
7
lượt
cả
một
bài
vọng
cổ
chứ
chẳng
phải
chơi”.
Không
có
quá
nhiều
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng,
báo
chí,
truyền
thanh,
truyền
hình
hỗ
trợ
quảng
bá
tên
tuổi,
mỗi
nghệ
sĩ
được
ghi
nhận
năng
lực
bằng
chính
những
vai
diễn
dưới
ánh
đèn
màu
mỗi
đêm,
lăn
xả,
bám
trụ
theo
các
đoàn
hát.
Để
ghi
nhận
sức
sáng
tạo
và
sự
đóng
góp
của
những
nghệ
sĩ
sân
khấu
cải
lương,
giai
đoạn
trước
giải
phóng
có
giải
thưởng
nổi
tiếng
và
uy
tín
là
Giải
Thanh
Tâm,
do
ký
giả
Thanh
Tâm
(tên
thật
là
Trần
Tấn
Quốc)
thành
lập,
hoạt
động
từ
năm
1958
-
1968.
Người
nhận
Giải
Thanh
Tâm
đầu
tiên
là
nữ
nghệ
sĩ
Thanh
Nga
và
liên
tiếp
mỗi
năm
sau
đó,
giải
thưởng
này
trao
huy
chương
và
khen
thưởng
cho
những
nam,
nữ
nghệ
sĩ
trẻ
có
triển
vọng
nhất
trong
năm…
Cải
lương
có
thời
hoàng
kim,
vậy
sau
thời
hoàng
kim
là
gì?
Làm
sao
để
cải
lương
tồn
tại
và
phát
triển?
Nói
như
TS
Mai
Mỹ
Duyên
là
“chưa
có
giải
pháp
khả
thi
để
ngăn
chặn
cơn
“thoái
trào”
và
làm
sống
lại
giai
đoạn
hoàng
kim
của
sân
khấu
cải
lương”.
Câu
nói
ấy,
đau
-
nhưng
là
sự
thật!