Điều kỳ diệu của bài vọng cổ
- Thứ tư - 08/08/2012 09:24
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Từ
cuộc
tình
chung
thủy
đến
bản
Dạ
cổ
hoài
lang
Bài
tổ
của
bản
vọng
cổ
chính
là
bài
Dạ
cổ
hoài
lang
của
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu.
Sự
ra
đời
của
bài
ca
này
gắn
với
một
cuộc
tình
son
sắt.
Nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu
(tức
Sáu
Lầu)
sinh
năm
1892
tại
rạch
Cây
Cui,
thôn
Thuận
Lễ,
tổng
Thạnh
Hội
Hạ,
phủ
Tân
An,
tỉnh
Gia
Định,
bây
giờ
là
Mỹ
Thuận,
Tân
An,
Long
An.
Năm
lên
6
tuổi,
gia
đình
của
cậu
bé
Sáu
Lầu
cùng
với
19
gia
đình
khác
dắt
dìu
nhau
về
lập
nghiệp
tại
Gia
Hội,
Bạc
Liêu.
Ở
đó,
cậu
bé
Sáu
Lầu
đã
thọ
giáo
với
nhạc
sĩ
Hai
Khị,
một
nhạc
sĩ
đàn
ca
tài
tử
có
tiếng
khắp
lục
tỉnh
Nam
Kì
lúc
bấy
giờ.
Năm
21
tuổi,
chàng
thanh
niên
Sáu
Lầu
được
mai
mối
kết
hôn
với
cô
Trần
Thị
Tấn.
Dù
trong
cảnh
nghèo
khó,
nhưng
đôi
vợ
chồng
son
vẫn
yêu
thương
nhau
rất
mực.
Số
phận
trớ
trêu,
tám
năm
ân
ái
mà
họ
vẫn
chưa
có
được
mụn
con
nào.
Theo
đúng
truyền
thống
phong
kiến
“Tam
niên
vô
tử
bất
thành
thê”
(cưới
nhau
đã
ba
năm
mà
không
thể
sinh
con
thì
không
được
xem
là
vợ
nữa),
mẹ
ông
đã
buộc
ông
phải
trả
vợ.
Nếu
phải
chìu
lòng
thân
mẫu
vì
cái
câu
ác
nghiệt
“Tam
niên
vô
tử”,
thì
chàng
thanh
niên
Sáu
Lầu
cũng
hiểu
rõ
cái
câu
“Nhất
nhật
phu
thê
bá
dạ
ân”
(Một
ngày
là
vợ
chồng
thì
trăm
năm
ân
nghĩa).
Bởi
thế,
Sáu
Lầu
ngày
đêm
thương
nhớ
vợ
hiền,
mong
mỏi
ngày
đoàn
tụ.
Trong
tâm
trí,
ông
nghĩ
rằng
vợ
ông
chắc
cũng
đang
chịu
cảnh
sầu
thảm
nhớ
nhung
giống
như
ông.
Cám
cảnh
thay
cho
người
vợ
tuổi
mới
đôi
mươi
buộc
phải
xa
chồng,
chịu
bao
tiếng
đời
ác
nghiệt,
để
rồi
đêm
đêm
mong
ngống
chồng
mòn
mõi
như
thiếu
phụ
trông
ngóng
chinh
phu
ngoài
vạn
lý
xa
xôi.
Tức
cảnh
sinh
tình,
người
chồng
Sáu
Lầu
đã
viết
nên
một
bài
ca
mang
tên
là
“Hoài
Lang”
(Trông
chồng),
như
để
nói
dùm
nổi
lòng
của
người
vợ
tào
khang.
Sau
đó
ông
Bảy
Kiên
đề
nghị
thêm
vào
chữ
“Dạ
cổ”
(Tiếng
trống
đêm
khuya).
Và
thế
là
bài
“Dạ
cổ
hoài
lang”
(Đêm
nghe
tiếng
trống
nhớ
thương
chồng)
đã
ra
đời.
Nỗi
lòng
ông
đã
được
người
mẹ
vợ
cảm
thông
nên
bà
âm
thầm
tạo
điều
kiện
cho
hai
người
được
bí
mật
gặp
nhau.
Trời
như
thương
kẻ
có
lòng,
chính
những
lần
gặp
gỡ
âm
thầm
đó,
vợ
ông
đã
có
mang.
Gia
đình
ông
Sáu
Lầu
vui
mừng
đến
đón
dâu
trở
lại.
Vợ
chồng
đoàn
tụ
trong
niềm
hân
hoan.
Sau
đó
bà
sinh
cho
ông
đứa
con
trai
đầu
lòng
trong
tổng
số
bảy
người
con,
năm
trai,
hai
gái
sau
này.
Ông
Sáu
Lầu
mất
ngày
13
tháng
8
năm
1976
tại
Bạc
Liêu.
Mộ
hai
vợ
chồng
ông
hiện
được
đặt
cạnh
nhau
như
một
minh
chứng
cho
cuộc
tình
thủy
chung
gắn
bó
của
đôi
vợ
chồng
nghèo
dẫn
đến
sự
ra
đời
một
bài
bản
bất
hủ
của
sân
khấu
cải
lương
Nam
Bộ.
Từ
tác
phẩm
cá
nhân
trở
thành
sáng
tác
tập
thể
Bài
“Dạ
cổ
hoài
lang”
được
nhạc
sĩ
Sáu
Lầu
viết
vào
năm
1919.
Khi
ấy
bài
này
có
22
câu
nhịp
đôi.
Theo
soạn
giả
Viễn
Châu-danh
cầm
Bảy
Bá,
ông
Sáu
Lầu
đã
bỏ
hai
câu
cuối
để
còn
20
câu
nhịp
đôi.
Từ
nhịp
đôi
lúc
mới
vừa
được
sáng
tác,
bài
“Dạ
cổ
hoài
lang”
dần
phát
triển
theo
thời
đại
để
đáp
ứng
nhu
cầu
sáng
tạo
và
thưởng
thức
của
khán
giả.
Theo
giáo
sư
Trần
Văn
Khê,
năm
1922,
ông
Phạm
Công
Bình
đặt
vở
tuồng
“Tối
độc
phụ
nhân
tâm”
trong
đó
có
bài
“Dạ
cổ
hoài
lang”
nhịp
hai.
Năm
1925,
ông
Huỳnh
Thủ
Trung,
tức
Tư
Chơi,
sáng
tác
lời
ca
cho
bài
“Vọng
cổ”
nhịp
tư
mang
tên
“Tiếng
nhạn
kêu
sương”
trong
đó
có
đoạn:
“Nhạn
đành
kêu
sương
nơi
biển
Bắc
Én
cam
khóc
hận
dưới
trời
Nam”.
Đến
năm
1935,
ông
Lư
Hòa
Nghĩa,
tức
nghệ
sĩ
Năm
Nghĩa,
ca
bài
“Văng
Vẳng
tiếng
chuông
chùa”
vọng
cổ
nhịp
8.
Năm
1938,
nhạc
sĩ
Vĩnh
Bảo
đàn
cho
cô
năm
Cần
Thơ
ca
vọng
cổ
nhịp
16.
Đĩa
Beka
thâu
vọng
cổ
nhịp
8,
nhịp
16.
Khoảng
đầu
thập
niên
50
của
thế
kỷ
trước.
Đệ
nhất
danh
ca
Út
Trà
Ôn
đã
khởi
đầu
ca
bài
vọng
cổ
nhịp
32
mà
đa
số
nghệ
sĩ
cải
lương
hiện
nay
vẫn
còn
hát.
Vọng
cổ
nhịp
64
và
128
cũng
bắt
đầu
phát
triển,
nhưng
không
mấy
phổ
biến.
Đi
vào
chi
tiết
về
ngày
tháng,
tên
họ
của
các
nhạc
sĩ,
nghệ
sĩ
góp
phần
phát
triển
cho
bản
vọng
cổ
từ
nhịp
2
đến
nhịp
128,
hiện
còn
khá
nhiều
điểm
chưa
tương
đồng
giữa
các
nhà
nghiên
cứu
cổ
nhạc.
Thế
nhưng,
có
một
điều
chắc
chắn
là,
bản
“Dạ
cổ
hoài
lang”
của
cụ
Sáu
Lầu
ngày
ấy
đã
không
ngừng
lớn
lên
theo
năm
tháng,
đặc
biệt
là
có
biết
bao
nhạc
sĩ,
nghệ
sĩ
đã
đóng
góp
cho
việc
định
hình
một
bài
vọng
cổ
nhịp
32
hoàn
hảo
cho
người
mộ
điệu
thưởng
thức
như
ngày
nay.
Bài
ca
vua
của
sân
khấu
cải
lương
Bản
vọng
cổ
được
xem
là
“Bài
ca
vua”
của
sân
khấu
cải
lương.
Có
nhiều
lí
do
để
giải
thích
cho
“cái
vị
thế”
đó.
Trước
tiên,
bài
vọng
cổ
được
xem
là
thước
đo
chính
để
khán
giả
đánh
giá
nghệ
sĩ,
các
nghệ
sĩ
muốn
được
nổi
tiếng
và
thành
công
thì
phải
hát
thật
mùi
bài
vọng
cổ.
Nó
giống
như
cái
dáng
vẻ
bên
ngoài
của
một
con
người,
dù
chưa
biết
tâm
tính
thế
nào,
lòng
dạ
ra
sao,
nhưng
nếu
có
dáng
vẻ
bên
ngoài
dễ
nhìn,
thì
tất
nhiên
đó
là
một
lợi
thế
để
lấy
được
thiện
cảm
của
người
khác.
Đối
với
nghệ
sĩ,
nếu
ca
vọng
cổ
mà
khán
giả
nghe
mùi,
thì
nghệ
sĩ
sẽ
dễ
dàng
chiếm
được
cảm
tình
của
khán
giả.
Nếu
ca
vọng
cổ
mà
được
khán
giả
chấp
nhận,
thì
tức
là
người
nghệ
sĩ
đã
có
được
một
giấy
thông
hành
loại
ưu
tiên
để
tiếp
tục
con
đường
chinh
phục
trái
tim
người
mộ
điệu.
Bởi
vậy
mà
tất
cả
các
đào
kép
chánh
đều
buộc
phải
ca
vọng
cổ
cho
hay.
Và
hầu
như
tất
cả
những
nghệ
sĩ
thành
danh,
khán
giả
nhớ
đến
họ
trước
hết
là
nhớ
đến
một
giọng
ca
vọng
cổ
đặc
sắc
nào
đó.
Còn
khi
đến
rạp
xem
diễn
cải
lương
trực
tiếp,
trên
sân
khấu,
nghệ
sĩ
ca,
múa
biết
bao
nhiêu
bài
bản
cải
lương.
Nhưng
lạ
thay,
như
một
luật
bất
thành
văn,
hễ
nghệ
sĩ
trên
sân
khấu
vô
vọng
cổ,
là
lập
tức
khán
giả
im
phăng
phắt
để
lắng
nghe
từng
câu,
từng
lời,
từng
cách
nhả
chữ,
luyến
láy,
đến
khi
nghệ
sĩ
xuống
vọng
cổ
thì
lập
tức
cả
khán
phòng
vỗ
tay
tán
thưởng.
Trong
khi
các
bài
bản
cải
lương
khác,
dù
nghệ
sĩ
có
ca
thật
hay,
thật
mùi,
cũng
không
hề
được
ưu
ái
dành
cho
một
luật
bất
thành
văn
như
vậy.
Một
thế
mạnh
nữa
của
bài
vọng
cổ
để
giúp
nó
ngồi
vững
trên
ngai
vàng,
đó
chính
là
tính
phổ
biến
của
nó
trong
xã
hội,
đối
với
người
mê
cải
lương
cũng
như
người
thích
tân
nhạc.
Trong
xã
hội
hiện
đại
ngày
nay,
cái
thời
mà
hằng
ngày
bằng
phương
tiện
này
hoặc
phương
tiện
khác,
người
ta
đều
nghe
nói
đến
cái
gọi
là
“cải
lương
xuống
dốc”,
“cải
lương
suy
thoái”…
nói
chung
là
những
từ
ngữ
chỉ
sự
suy
yếu
của
cải
lương
trước
những
loại
hình
giải
trí
hiện
đại
khác.
Ấy
thế
mà,
dù
mê
cải
lương
hay
không,
có
mấy
ai
ở
Miền
Nam
Việt
Nam
khi
nghe
nói
đến
từ
“vọng
cổ”
lại
không
biết
đó
là
cái
gì.
Còn
khi
nghệ
sĩ
cải
lương
phải
chạy
sô
cho
các
chương
trình
tân
nhạc,
thì
khi
nhìn
thấy
họ
trên
sân
khấu,
khán
giả
có
mấy
ai
yêu
cầu
họ
ca
một
bản
Nam
ai
hay
một
bài
Trường
tương
tư,
mà
hầu
như
chỉ
yêu
cầu
duy
nhất
vọng
cổ
và
vọng
cổ.
Sáu
câu
vọng
cổ
nghe
hoài
không
chán
Nhờ
bài
vọng
cổ
mà
biết
bao
giọng
ca
đã
trở
nên
bất
tử
trong
lòng
người
mộ
điệu:
Út
Trà
Ôn,
Hữu
Phước,
Thành
Được,
Thanh
Sang,
Minh
Cảnh,
Minh
Vương,
Minh
Phụng,
Tấn
Tài,
Hà
Bửu
Tân,
Út
Bạch
Lan,
Thanh
Hương,
Ngọc
Giàu,
Lệ
Thủy,
Bạch
Tuyết,
Phượng
Liên,
Mộng
Tuyền,
Mỹ
Châu,
Thanh
Kim
Huệ…
và
còn
biết
bao
giọng
ca
bất
tử
khác
nữa.
Thế
nhưng
mà
lạ
thay,
trong
rất
nhiều
giọng
ca
nổi
danh
ấy,
không
giọng
nào
giống
giọng
nào,
mỗi
giọng
có
một
nét
rất
riêng
mà
hễ
vừa
nghe
là
khán
giả
nhận
ra
ngay,
không
nhầm
lẫn
vào
đâu
được.
Dù
nhiều
nhà
nghiên
cứu
cố
gắng
xếp
nhiều
nghệ
sĩ
vào
trong
một
trường
phái
ca
vọng
cổ
cụ
thể,
thế
nhưng
sự
phân
chia
đó
vô
cùng
tương
đối,
bởi
cái
tính
đa
dạng
trong
giọng
ca
giữa
những
nghệ
sĩ
qua
cách
nhấn
nhá,
vô
vọng
cổ,
xuống
xề,
xấp
chữ…
Ngay
cả
đối
với
bản
thân
nghệ
sĩ,
thì
trong
mỗi
bài
vọng
cổ,
tùy
theo
nội
dung
và
tâm
trạng
họ
cũng
có
những
cách
nhấn
nhá
khác
nhau.
Thế
mới
biết,
chỉ
có
sáu
câu
vọng
cổ
nhưng
lại
hàm
chứa
muôn
hình
vạn
trạng
kiểu
ca,
cách
hát:
Như
cách
xấp
chữ
và
ca
chẻ
nhịp
của
nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn
đến
hiện
tại
vẫn
chưa
có
ai
kế
thừa,
hay
lối
xuống
xề
ở
cuối
câu
5
và
6
của
Sầu
nữ
Út
Bạch
Lan
cũng
là
có
một
không
hai,
hoặc
cách
dứt
câu
2
ngân
dài
của
nghệ
sĩ
Mộng
Tuyền
cũng
là
độc
nhất
vô
nhị
trong
làng
cổ
nhạc
Miền
Nam.
Nhờ
sự
đa
dạng
này,
mà
bản
vọng
cổ
chỉ
có
6
câu
ca
tới
ca
lui
từ
xưa
đến
giờ
với
biết
bao
ngàn
bài,
thế
mà
mỗi
lần
nghe,
là
người
ta
có
cảm
giác
như
mới
vậy.
Khi
một
soạn
giả
viết
ra
một
bài
ca
vọng
cổ
mới,
thì
cái
mới
ở
đây
chỉ
là
lời
ca,
chứ
còn
bản
đờn
6
câu
vọng
cổ
vẫn
y
vậy,
không
có
gì
thay
đổi.
Tuy
nhiên,
với
lời
ca
mới,
khán
giả
khi
nghe
không
hề
thấy
nhàm
chán
với
6
câu
đờn,
mà
lời
ca
mới
đã
khiến
cho
cả
bản
vọng
cổ
trở
nên
hoàn
toàn
mới.
Hơn
nữa,
cùng
một
bài
vọng
cổ,
nhưng
mỗi
nghệ
sĩ
có
cách
thể
hiện
khác
nhau,
bởi
thế
nó
vẫn
luôn
như
mới.
Vọng
cổ
đâu
chỉ
có
u
buồn!
Khán
giả
tìm
đến
với
cải
lương
bởi
ở
đó
là
một
cuộc
đời
thu
nhỏ.
Các
bài
bản
cải
lương
rất
đa
dạng,
có
thể
diễn
tả
được
đủ
loại
thất
tình
lục
dục
của
con
người.
Thường
thì
sân
khấu
cải
lương
có
20
bài
bản
tổ
bao
gồm:
-
Ba
bài
Nam:
Nam
Xuân,
Nam
Ai
+
Nam
Ai
Lớp
Mái
,
Đảo
Ngũ
Cung
+
Song
Cước
.
-
Sáu
bài
Bắc:
Lưu
Thủy,
Xuân
Tình,
Phú
Lục
,
Bình
Bán,
Tây
Thi,
Cổ
Bản.
-
Bảy
bài
Lễ:
Xàng
Xê,
Ngũ
Đối
Thượng,
Ngũ
Ðối
Hạ,
Long
Ðăng,
Long
Ngâm,
Vạn
Giá,
Tiểu
Khúc.
-
Bốn
bài
Oán:
Tứ
Ðại
Oán,
Giang
Nam,
Phụng
Cầu
Hoàng,
Phụng
Hoàng
Cầu.
-
Bốn
bài
Oán
phụ:
Văn
Thiên
Tường,
Bình
Sa
Lạc
Nhạn,
Thanh
Dạ
Đề
Quyên,
Xuân
Nữ
Hai
mươi
bản
tổ
này
chia
ra
4
loại
theo
4
mùa
(Xuân,
Hạ,
Thu,
Ðông)
và
4
hướng
(Ðông,
Tây,
Nam,
Bắc),
được
sử
dụng
biểu
đạt
những
cung
bậc
tình
cảm
khác
nhau.
Chẳng
hạn
như
để
diễn
tả
tình
cảm
vui
tươi
rộn
rã
thì
sử
dụng
bài
Xuân
Tình,
sự
hùng
tráng
uy
nghi
thì
có
điệu
Xàng
Xê,
buồn
ão
não
thì
có
Phụng
Hoàng,
Tứ
Đại
Oán
hay
Nam
Ai,
biểu
lộ
sự
sảng
khoái
thì
dùng
điệu
Nam
Xuân,
thổ
lộ
tâm
tình
trong
tâm
trạng
u
hoài
thì
có
Văn
Thiên
Tường….
Thế
còn
bài
vọng
cổ
thì
sao?
Vọng
cổ
có
thể
diễn
tả
được
hết
thảy
các
loại
tình
cảm
đó.
Trước
tiên,
vọng
cổ
là
u
buồn
ão
não.
Bản
“Dạ
cổ
Hoài
Lang”
vốn
là
một
bài
buồn
tê
tái,
thì
bản
vọng
cổ
ngày
nay
đương
nhiên
phải
đượm
nét
u
sầu.
Đã
có
biết
bao
bài
vọng
cổ
kể
lể
chuyện
thương
đau
làm
rung
cảm
biết
bao
con
tim
mộ
điệu:
Tình
anh
bán
chiếu-Út
Trà
Ôn,
Tiếng
Ve
Sầu-Út
Bạch
Lan,
Cô
gái
bán
đèn
hoa
giấy-Thanh
Hương,
Bạch
Thu
Hà-Lệ
Thủy,
Bông
Ô
Môi-Tấn
Tài,
Hòn
Vọng
Phu-Mỹ
Châu,
Tình
là
dây
oan-Hữu
Phước+Thanh
Nga,
Tình
mẫu
tử-Ngọc
Giàu...
Thế
nhưng,
bài
vọng
cổ
không
chỉ
có
u
sầu,
mà
còn
có
thể
khiến
người
nghe
cười
ra
nước
mắt.
Người
mê
vọng
cổ
làm
sao
quên
được
giọng
ca
độc
nhất
vô
nhi
của
vua
vọng
cổ
hài
Văn
Hường,
với
hàng
loạt
các
bài
vọng
cổ
để
đời:
Vợ
tôi
nói
tiếng
Tây,
Chó
mực
đầu
cáo,
Lá
sớ
táo
quân,
Văn
Hường
đi
Suzuki,
Tề
Thiên
đại
thánh,
Văn
Hường
đi
hớt
tóc,
Tư
ếch
lên
sài
Gòn,
Tư
Ếch
đại
chiến
Văn
Hường…
Hay
giọng
ca
Hề
Minh
trong
bài
Tôi
mến
làng
tôi,
Hề
Sa
với
bài
Pháp
sư
giải
nghệ.
Trong
cuộc
sống,
những
bậc
anh
hùng
có
khi
cũng
phải
lệ
rơi
vì
một
hoàn
cảnh
trái
ngang
nào
đó.
Giọt
nước
mắt
ở
đây
không
phải
là
giọt
nước
mắt
“bi
lụy”
mà
là
giọt
lệ
“bi
hùng”.
Cũng
vẫn
là
những
câu
vọng
cổ
quen
thuộc,
nhưng
người
ca
đòi
hỏi
phải
cho
khán
giả
cảm
được
nỗi
u
buồn,
nhưng
buồn
với
khí
khái
anh
hùng.
Những
bài
vọng
cổ
cho
thể
loại
này
cũng
không
hiếm:
Nguyễn
Trãi-Út
Trà
Ôn,
Phàn
Lê
Huê-Út
Bạch
Lan,
Hận
Kinh
Kha-Tấn
Tài,
Trống
Loạn
Thăng
Long
thành-Minh
Cảnh,
Men
Rượu
Sa
Kê-Hữu
Phước…
Cái
hồn
của
bài
vọng
cổ
Bài
vọng
cổ
được
xem
là
một
bản
nhạc
cho
người
ca
nhiều
tự
do
nhất.
Ví
dụ
như
đối
với
bản
vọng
cổ
6
câu
nhịp
32,
người
ca
chỉ
cần
giữ
đúng
nhịp
ở
cuối
câu,
còn
trong
lòng
bản
thì
hoàn
toàn
tự
do
nhấn
nhá,
luyến
lái,
xấp
chữ
...
Chính
nhờ
có
tự
do
mà
các
nghệ
sĩ
tha
hồ
sáng
tạo
ra
cái
riêng
để
người
nghe
không
nhàm
chán.
Thế
nhưng,
cũng
như
khi
nấu
một
nồi
canh
chua
Nam
Bộ,
tùy
ý
thích
mà
người
ta
có
thể
nêm
gia
vị
chua
nhiều
hoặc
ngọt
nhiều,
nhưng
phải
nêm
nếm
làm
sao
để
cho
nồi
canh
chua
còn
là
nồi
canh
chua,
chứ
để
nhiều
đường
quá
cũng
không
được
mà
bỏ
nhiều
me
quá
cũng
không
hay.
Bản
vọng
cổ
cũng
vậy,
nó
“tự
do”
mà
không
“vô
lối”,
tức
dù
có
tự
do,
nhưng
phải
giữ
những
điểm
cơ
bản
nhất
của
nó,
nếu
không
nó
sẽ
không
còn
là
vọng
cổ
nữa.
Những
điểm
cơ
bản
nào?
Vọng
cổ
trước
tiên
là
“tự
sự”,
tức
“kể
chuyện
lại
cho
người
ta
nghe”.
Trong
câu
chuyện
dĩ
nhiên
tùy
lúc
sẽ
có
Hỷ,
Nộ,
Ái,
Ố,
Ai,
Cụ,
Dục
(mừng,
giận,
thương,
ghét,
buồn,
sợ,
muốn).
Như
vậy,
mỗi
bản
vọng
cổ
đòi
hỏi
người
viết
phải
cho
nó
một
cốt
truyện,
người
nghệ
sĩ
phải
dùng
lời
ca
để
truyền
tải
cho
được
nội
dung
và
tinh
thần
của
cốt
truyện
đó
đến
người
nghe.
Thứ
hai,
phải
hiểu
rằng
nhiệm
vụ
chính
của
người
thể
hiện
bài
vọng
cổ
là
“ca”,
và
cái
đích
chính
đó
là
làm
thỏa
mãn
sự
“nghe”
của
người
thưởng
thức.
Bởi
vậy
mà
người
ta
thường
nói
“ca
vọng
cổ”,
nhưng
“hát
cải
lương”.
“Ca”,
tức
là
người
nghệ
sĩ
phải
sử
dụng
giọng
ca
của
mình
để
biểu
đạt
nội
dung
và
sắc
thái
tình
cảm
của
bài
vọng
cổ,
làm
sao
để
cho
người
thưởng
thức
chỉ
nghe
giọng
ca
cũng
cảm
được
những
cung
bậc
tình
cảm
mà
người
viết
bài
ca
gửi
gắm.
Trong
khi
đó,
cái
chính
của
cải
lương
là
“hát”,
tức
“biểu
diễn”
để
cho
khán
giả
“xem”,
lời
ca
khi
ấy
đóng
vai
trò
bổ
trợ
cho
động
tác
diễn.
Hồi
trước,
trong
rạp
hát,
khi
nghệ
sĩ
trên
sân
khấu
chuẩn
bị
vô
vọng
cổ
là
lập
tức
hệ
thống
chiếu
sáng
được
tắt
bớt,
ánh
sáng
chỉ
còn
giữ
đúng
cho
khán
giả
nhìn
thấy
người
nghệ
sĩ
đang
vô
vọng
cổ.
Trong
bóng
đêm,
âm
thanh
của
câu
vọng
cổ
ngân
vang,
người
nghe
tập
trung
vào
âm
thanh
đó,
lời
vọng
cổ
bổng
nhiên
trở
nên
trang
trọng
và
hay
làm
sao!
Thế
mới
biết
các
bậc
tiền
bối
coi
trọng
việc
“nghe”
vọng
cổ
đến
dường
nào.
Vọng
cổ
là
“bình
dị”
bởi
nó
xuất
phát
từ
nơi
thôn
dã,
bởi
nó
giống
như
câu
hò
điệu
lí
của
Miền
Nam.
Chính
vì
thế
mà
nó
mới
được
công
chúng
yêu
thương
đến
như
vậy.
Do
đó,
phải
ca
làm
sao
cho
đúng
cái
thần
của
âm
nhạc
miền
nam
là
“Chân
phương
hoa
lá”.
Tức
khi
ca
vọng
cổ
là
phải
ca
chân
phương,
nhưng
không
phải
để
bài
ca
chết
khô,
mà
phải
dùng
chất
giọng
riêng
tô
điểm
thêm
hoa
lá
cho
bài
ca
được
tươi,
được
đẹp.
Ngày
nay,
có
nhiều
người
lạm
dụng
quá
mức
các
màn
múa
bổ
trợ
cho
bài
vọng
cổ.
Đến
mức
mà,
khi
nghệ
sĩ
đang
vô
vọng
cổ
trên
sân
khấu,
người
ta
vẫn
để
đèn
đuốc
sáng
trưng,
nghệ
sĩ
ca
đứng
giữa,
các
nghệ
sĩ
múa
chạy
qua
chạy
lại
tấp
nập.
Trong
điều
kiện
như
vậy,
khán
giả
bị
phân
tâm,
không
thể
tập
trung
vào
việc
“nghe”
được,
còn
nghệ
sĩ
biểu
diễn
thì
cũng
không
thể
tập
trung
chăm
sóc
tối
đa
cho
giọng
ca
của
mình
do
bị
chi
phối
bởi
việc
kết
hợp
cùng
đội
múa.
Và
kết
quả
là:
người
ca
thì
không
thể
“ca”
hết
mình,
mà
người
nghe
thì
cũng
không
thể
“nghe”
hết
sức.
Nhận
định
về
thế
hệ
ca
vọng
cổ
ngày
nay
qua
các
cuộc
thi
vọng
cổ,
Vua
soạn
lời
vọng
cổ
Viễn
Châu
cho
biết:
“Hầu
hết
các
cuộc
thi
tôi
đều
theo
dõi,
cảm
thấy
vô
cùng
vui
mừng
khi
bộ
môn
cải
lương
vẫn
còn
nhiều
người
trẻ
nối
tiếp
kế
tục,
sẵn
sàng
dấn
thân
đeo
đuổi.
Nhưng
thú
thật,
có
nhiều
nghệ
sĩ
trẻ
hát
vọng
cổ
điệu
đà,
làm
dáng
quá
đáng
không
đúng
với
cái
chất
của
vọng
cổ
lắm.
Theo
ý
kiến
riêng
của
tôi,
thể
hiện
bài
hát
vọng
cổ
cần
phải
thật
giản
dị,
nhẹ
nhàng
giống
như
những
lời
mẹ
ru,
ngọt
ngào
và
êm
ái
đưa
con
trẻ
vào
giấc
ngủ
say”.
Đấy
có
phải
chăng
là
lời
cảnh
báo
cho
thế
hệ
nghệ
sĩ
hiện
tại
đừng
rời
bỏ
“cái
hồn”
của
bản
vọng
cổ,
để
bảo
tồn
và
phát
huy
“Bài
ca
vua
của
sân
khấu
cải
lương”?
Lê
Phước