Đang
truy
cập
:
98
Hôm
nay
:
6947
Tháng
hiện
tại
:
799961
Tổng
lượt
truy
cập
:
113716842
Sắp tới đây là kỷ niệm 21 năm ngày thành lập trang web cailuongvietnam.com (13/04/2004 - 13/04/2025) Dây là trang tin tức đầu tiên của cailuongvietnam.com từ năm 2004. Còn đuọc gọi là CLVNCOM1 . Thân mời các dộc giả xem những bằi mới hơn tại trang tin tưc CLVNCOM2 theo link dưới dây https://www.cailuongvietnam.com/newscl
KG

Kien
Giang
doc
tho
Tim
Nang
Trong
Dem
“Thi
sĩ
Kiên
Giang
tên
thật
Trương
Khương
Trinh,
sanh
năm
1929
tại
làng
Đông
Thái,
huyện
An
Biên,
tỉnh
Kiên
Giang.
Năm
1947,
tỉnh
Rạch
Giá
bị
quân
viễn
chinh
Pháp
càn
quét,
chiếm
đóng,
nhiều
gia
đình
tản
cư
vào
miệt
rừng
U
Minh,
Trương
Khương
Trinh
cũng
theo
cha
mẹ
đi
tản
cư,
nhưng
sau
đó
anh
theo
bạn
bè
gia
nhập
bộ
đội
Việt
Minh.
Vì
là
người
có
học
nên
được
đưa
về
Phòng
chánh
trị
quân
khu
9,
làm
phóng
viên
viết
báo
cho
tờ
báo
Tiếng
Súng
Kháng
Địch
do
ông
Rum
làm
chủ
bút
(
RUM
tức
Rừng
U
Minh)
bí
danh
của
ông
Sáu
Chiến
tưởng
Ban
Tuyên
Truyền
Phòng
Chánh
Trị
khu
9.
Năm
1952,
Sơn
Nam
và
Kiên
Giang
được
phái
đi
làm
phóng
viên
trong
chiến
dịch
Long
Châu
Hà.
Sau
chiến
dịch,
nhà
văn
Sơn
Nam
bị
kiểm
thảo
vì
đã
ăn
cơm
trước
khi
bộ
đội
dùng
cơm
và
bị
kết
tội
vô
kỷ
luật.
Sơn
Nam
tức
giận
bỏ
về
làng,
không
theo
Việt
Minh
nữa.
Kiên
Giang
thì
bị
giản
chính,
đưa
về
tỉnh
đội
Cần
Thơ.
Kiên
Giang
và
Sơn
Nam
bỏ
về
Saigòn
và
chấm
dứt
quan
hệ
với
Kháng
Chiến.
Về Saigòn, Kiên Giang cộng tác với các nhật báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Điện Tín, Tia Sáng, Lẽ Sống… Anh cũng là soạn giả các đoàn hát: Bích Sơn – Ngọc An, Thanh Minh, Thanh Minh Thanh Nga, Trưởng Ban Mây Tần Đài Phát thanh Saigòn và là người sáng tác vọng cổ thu thanh cho các hãng dĩa Asia, Hồng Hoa, Hoành Sơn, Tứ Hải.
Thi sĩ Kiên Giang xuất bản ba tập thơ: Hoa Trắng thôi cài trên áo tím (1962 ), Lúa Sạ Miền Nam (1970), Quê Hương thơ ấu (1972 ).
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lệnh đầu tiên dành cho văn nghệ sĩ miền Nam là: giải tán tất cả các đoàn hát cải lương, hát bội, kịch nói, các tổ chức Đại Nhạc Hội. Tất cả các soạn giả, nghệ sĩ phải trình diện tại Phòng Sân Khấu (mới thành lập, trụ sở tạm thời là Trường Quốc Gia Âm Nhạc cũ của Saigon). Phải đăng ký và viết kiểm điểm (đã hát cho những gánh hát nào, đã sáng tác bao nhiêu vở tuồng, kê khai danh sách và tóm lược nội dung tuồng). Một số soạn giả và nghệ sĩ đi học tập cải tạo (7 năm: Nhà văn Thái Thủy, Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sĩ, Soạn giả Mộc Linh, Ngọc Điệp, Phan Hương, ca sĩ Thành Công, Chín Sớm, Huyền Trân).
Tất cả soạn giả cải lương, kịch nói, hát bội, ký giả nhật báo, thi sĩ, phóng viên đều bị cấm hành nghề 10 năm. Soạn giả, ký giả giúp việc cho đoàn hát tập thể mới thành lập được hưởng lương 5 đồng một suất hát, thấp hơn lương một công nhân sân khấu.
Các cán bộ nằm vùng như ký giả Ngọc Linh, Phi Hùng, Tần Nguyên, Huy Trường, Hà Triều, Thanh Cao, Việt Thường, Trần Hà, Tư Hiếu, được phân bố làm Trưởng các đoàn hát tập thể mới thành lập, được cấp cho nhà mới tịch thu của tư sản, được sáng tác tuồng và cho hát tuồng để có thu nhập cao. Được hưởng lương chuyên viên 1 của nhà nước , đau thì được nằm nhà thương Vì Dân cũ), tức nhà thương dành cho đảng viên và cán bộ chánh phủ cấp chuyên viên trở lên) được phân phối gạo, xăng dầu và nhu yếu phẩm dành cho đảng viên và cấp chuyên viên của chánh phủ mới.

KienGIang-NguyenPhuong-hoi-ngo-sau-15-năm-xa-cach
Hai soạn giả Kiên Giang và Hoa Phượng không được phép ở thành phố (Saigon cũ). Hai anh phải lên Tây Ninh, sống nhờ nơi nghệ sĩ Trường Ninh phó đoàn Cải Lương Tây Ninh. Soạn giả Hoa Phượng phải viết tuồng cho Phó Giám Đốc Sở VHTT tỉnh Tây Ninh (ông Bảy Phát) để được chia 2 phần trăm tiền bản quyền và không được đứng tên trên tuồng viết cho ông Bảy Phát đó.
Ngoài số soạn giả đã kể, được phân làm trưởng đoàn, được quyền sáng tác và nhận được chu cấp theo chế độ đảng viên và chuyên viên 1 của chánh phủ mới, các soạn giả khác (kể cả Năm Châu, Năm Nở, Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Hoa Phượng, Kiên Giang, Hoàng Khâm, Quy Sắc, Viễn Châu) đều được sắp là công dân hạng 2, lương 5 đồng một suất hát, đau thì được khám bịnh ở nhà thương Bình Dân Saigon.
Các
soạn
giả
Thiếu
Linh,
Nguyễn
Phương,
Kiên
Giang,
Hoa
Phượng,
Hoàng
Khâm,
Viễn
Châu
đều
cho
nhiều
con
vượt
biên
sang
định
cư
ở
các
nước
Pháp,
Hoa
Kỳ,
Úc
Châu,
Canada
trong
các
năm
1978,
1979,
1980.
Năm 1982, ông Nguyễn Hữu Hạnh, chủ nhiệm Hợp Tác Xã Tín Dụng phường 2 Quận 8 buộc chị Mai thị Thoa, vợ của soạn giả Kiên Giang, ký giấy cho phường mướn hai căn nhà số 80 – 82 đường Phan Thế Hiển bên cầu chữ Y, nhà của Kiên Giang để cho phường làm hợp tác xã tín dụng, bán nhu yếu phẩm cho dân ở Phường 2 quận 8. Bù lại chị Mai Thị Thoa được cấp sổ mua nhu ỳếu phẩm và số tiền một trăm đồng một tháng, tiền cho mướn hai căn nhà kể trên.
Cuối năm 1982, ông Nguyễn Hữu Hạnh bị tù vì thâm lạm tiền của hội viên. Quận 8 ra lịnh giải tán Hợp Tác Xã Tín Dụng, phát mãi số hàng hóa tồn kho và bán luôn hai căn nhà số 80 – 82 của bà Mai Thị Thoa (vợ Kiên Giang, cho mướn nhà làm Hợp Tác Xã). Bà Mai Thị Thoa cũng bị bắt nhốt trong khám vì tội liên đới với ông chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng kia.
Soạn giả Kiên Giang hay tin vợ bị bắt, nhà bị phát mãi, từ Tây Ninh anh trở về đệ đơn chống án lên Toà Án Thành Phố, xin xét lại. Soạn giả Kiên Giang mới thật sự là chủ hai căn nhà kể trên, có giấy mua bán nhà của chánh quyền quận 8 cũ chứng nhận (thời VNCH ), nhưng quận 8 mới không công nhận tính hợp pháp của chánh quyền quận 8 cũ.
Việc Tòa họp tới họp lui, điều tra đi điều tra lại, kéo dài đến năm 1992, mọi việc đều vũ như cẫn tức là vẫn như cũ. Kiên Giang mất nhà, sống lây lất ở hành lang hí viện vài tháng, không nơi nào người ta cho anh ở yên. Sau cùng anh đến khu đất hoang ở cuối đường Âu Dương Lân quận 8 để xin tạm trú. Khu đất hoang này được dự định để cất Khu Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Bà Mai Thị Thoa không biết được ra tù từ lúc nào, không thấy về với Kiên Giang và cũng không biết bà ấy đi đâu ở đâu, sống hay chết, bặt vô âm tín.
Vì không tiền bạc và không có cách nào khác, thi sĩ Kiên Giang đành chọn 4 gốc cây Bạch Đàn trên khu đất đó thay cho cột nhà, anh dùng vải tang phúng điếu mẹ anh và các manh vải cũ lấy từ các banderole quảng cáo để dựng vách nhà, thay mái lá bằng những tấm tôn của bà con lối xóm cho. Thế là anh có một căn nhà để tạm trú, dịp này anh viết mấy câu thơ:
Lợp mái lá, dùng manh vải cũ
Nên mưa nhòa ướt ảnh bàn thờ
Mẹ từ đáy mộ về trong mộngTrầm uất thương con giữa xác xơ.
Không sa mạc vẫn làm du mục
Chân lạc đà dừng tạm bãi hoang
Mai mốt người ta hăm đuổi nữa
Kiếp không nhà lại sống lang thang.
Bàn ghế duy nhứt trong nhà là bàn thờ mẹ, đóng bằng ván tạp của lối xóm cho. Kiên Giang lại làm thơ:
Bàn thờ mẹ kê đầu tủ sách
Đóng cây ván tạp, bạn láng giềng
Má khổ suốt đời, con lận đận
Thương con hồn mẹ chắc linh thiêng.
Thơ của anh nói “tủ sách” nghe cho văn vẻ, thật ra tủ sách đó là miếng ván vụn, gác trên mấy viên gạch, kê cao, để các bao bàng, giỏ xách đựng bản thảo của anh. Mỗi một cơn mưa lớn là nước chảy lênh láng trong ngôi nhà đó, phải kê cao thì tủ sách của anh mới không bị bà Thủy cuốn đi.
Năm
này
Kiên
Giang
làm
quen
với
một
người
đàn
bà
góa
(tên
Dương
Thị
Bạch
Tuyết)
có
cô
con
gái
riêng
6
tuổi
tên
Hồng
Uyên.
Cô
Bạch
Tuyết
bị
chông
bỏ,
anh
thì
bị
vợ
bỏ,
hai
nửa
mảnh
đời
dang
dở
xáp
lại
với
nhau
cho
cuộc
đời
bớt
tẻ
lạnh.
Cô
nàng
Bạch
Tuyết
cũng
là
kẻ
lang
thang
không
nhà,
cha
là
một
quân
nhân
Úc
tử
trận
ở
Việt
Nam,
mẹ
cũng
chết
sau
đó
vài
năm,
cô
gái
lai
Úc
này
không
có
thân
nhân
ở
Việt
Nam,
chẳng
có
giấy
tờ
chứng
nhận
mình
là
gốc
Úc
Châu,
chỉ
có
mắt
xanh,
mũi
lõ,
nước
da
thật
trắng,
không
biết
nói
tiếng
Anh
nên
đành
sống
bằng
nghề
bán
khoai
lang
luộc.
Cô
có
giọng
ngâm
thơ
nghe
được
được
nên
khi
Kiên
Giang
mất
vợ
thì
Kiên
Giang
đưa
Bạch
Tuyết
và
con
gái
cô
về
sống
chung.
Năm 2000, tôi về thăm quê hương, gặp Kiên Giang, anh đưa tôi về nhà của anh do quận 8 cấp cho ở hẻm Ba Đình, nhà này chỉ là một chái nhà ghép bên cạnh một ngôi nhà khác của người ta, bề ngang một thước chín, dài năm thước như một cái khoang ghe tam bản, vừa là nhà tiêu, nhà bếp, khạp dựng nước và chỗ ở cho ba người. Kiên Giang viết bốn câu thơ dán trên vách:
Giết chậm, giết mòn là thượng sách
Giết không gươm giáo mới siêu phàm
Cướp nhà đất, cắt lương, tăng đói
Tung hỏa mù đen, giả khói trầm.
Kiên Giang trao cho tôi bài thơ Tìm Nắng Trong Đêm, bài thơ diễn tả cuộc sống của anh và vợ con:
Ba hát, má ngâm, con chép lại
Bài thơ Tìm Nắng viết trong đêm
Mai khôn lớn, thấu tình cha gởi
Một tấm lòng cha mấy nỗi niềm.
Con, vợ ngủ bên cầu vệ sinh
Trong nhà ổ chuột, hẻm Ba Đình
Gối chăn, nhà bếp cùng tanh tưởi
Không ở tù sao chịu cực hình ?
Di ảnh Mẹ, sao đôi mắt ướt,
Từ
mồ
sâu đã
trở
về
thăm
Khói hương hiu hắt, mây tang úa
Nói dối : Mẹ ơi “Đó khói trầm.
Thuở khai hoang, ở nhà kê tán
Bồ lúa, hàng ba tắm ánh trăng
Hủ gạo nay không còn hột tấm
Thua kẻ kêu cơm ở vệ đường.
Tôm luộc co mình cong dáng ngủ
Duỗi chân e sập đổ bàn thờ
Giống tù nhân nhốt xà lim tối
Muỗi rệp tha hồ hút máu thơ,
Không giường nệm, vợ con nằm đất
Hơi lạnh không xua nắng hỏa lò
Lửa nướng con thành khô cá lẹp
Thương con thức giấc dậy làm thơ
Ăn sớm lo chiều, ôi thắt thẻo
Anh ơi! hết gạo, hết đồ cầm
Bé
Uyên đòi
sách, đòi
mua
nhạc
iếng vợ buồn như nhạc ngũ âm.
Cha già, con muộn, con mau lớn
Măng mọc, tre tàn: tre héo khô
Quần áo học trò, con mặc chật
Đòi mua, Ba chẳng đủ tiền mua,
Trời hỡi! Ngọc Hoàng, ơi Phật, Chúa
Đâu từ bi? Bác ái? Tình người,
Kẻ gian nịnh bợ, giàu như thổi
Người sạch trong tan nát rã rời
Bạc tỉ dồn hầu bao mọt nước
Của công nhét túi lũ sâu dân
Mộ bia còn bị ăn xương cốt
Đừng nói làm chi chuyện nghĩa nhân.
Giải phóng thật ra là lũ giặc
Đổi màu mặt nạ lũ ma trơi,
Giàu đen rắn độc, nghèo tro bụi
Ai hóa kiếp, còn ai đổi đời?
Ba hối hận hai lần “hạ chiếu”
Đốt thiêu con, vợ, phủ hoa tươi
Rồi Ba treo cổ mừng sinh nhật
Thi sĩ Kiên Giang đã đổi đời.
Kiên Giang đói nghèo, không phải anh vô tài hay biếng nhác. Người ta không cho anh làm thơ, không cho anh viết tuồng, không cho anh cơ hội làm việc để kiếm ra tiền sinh sống. Giống như họ đã đối xử với nhạc sĩ Văn Cao, thi sĩ Nguyễn Bính, Phan Khôi, Phùng Quán…thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc những năm thập niên năm mươi thế kỷ trước.
Vì thơ của anh dám nói đến cái chỗ nhạy cảm ....
Minh oan cho thi sĩ Kiên Giang, còn biết bao cuộc đời khác chưa được minh oan?
Nguyễn Phương
Tháng 8/2017
nhớ kiên, giang thi, sĩ không, nhà dòng, thơ tự, thán chiều, xuân ấy, như lá, bàng rơi, phủ xuống
Mã
an
toàn:

Sắp tới đây là kỷ niệm 21 năm ngày thành lập trang web cailuongvietnam.com (13/04/2004 - 13/04/2025) Dây là trang tin tức đầu tiên của cailuongvietnam.com từ năm 2004. Còn đuọc gọi là CLVNCOM1 . Thân mời các dộc giả xem những bằi mới hơn tại trang tin tưc CLVNCOM2 theo link dưới dây https://www.cailuongvietnam.com/newscl
Ý kiến bạn đọc