Đang
truy
cập
:
626
•Máy chủ tìm kiếm : 10
•Khách viếng thăm : 616
Hôm
nay
:
2822
Tháng
hiện
tại
:
2898141
Tổng
lượt
truy
cập
:
121166173
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
NSƯT Minh Vương: Lận đận làm nên danh phận
Để
đáp
lại
tình
cảm
của
công
chúng,
cũng
như
để
tri
ân
những
người
đã
giúp
ông
vượt
qua
cơn
hiểm
nghèo
của
căn
bệnh
suy
thận
mãn
tính,
đặc
biệt
với
người
thanh
niên
quá
cố
ẩn
danh
đã
hiến
tặng
ông
hai
quả
thận,
chỉ
sau
hai
tháng
rời
giường
bệnh,
NSƯT
Minh
Vương
đã
mau
chóng
trở
lại
trong
hàng
ghế
giám
khảo
giải
Chuông
vàng
vọng
cổ
2012.
Trong
niềm
vui
được
“tái
sinh”,
NSƯT
Minh
Vương,
một
người
lâu
nay
vốn
kín
kẽ,
đã
không
ngần
ngại
trải
lòng
với
PNCN

*
Được
trở
lại
sân
khấu
sau
cơn
“thập
tử
nhất
sinh”,
chắc
cảm
xúc
của
ông
phải
rất
đặc
biệt?
-
Trong
suốt
cuộc
đời
đi
hát
của
tôi,
thời
gian
qua
là
thời
gian
tôi
rời
sàn
diễn
lâu
nhất.
Bị
ói
thường
xuyên
đến
mất
ăn,
mất
ngủ
mà
không
tìm
ra
bệnh,
tôi
rất
bi
quan,
nghĩ
cuộc
đời
mình
vậy
là
đã
đến
“hồi”,
nói
chi
đến
chuyện
hát.
May
mà
trời
thương
cho
gặp
được
vị
bác
sĩ
giỏi,
chỉ
đúng
bệnh
và
may
hơn
nữa,
có
được
ân
nhân
cho
thận
phù
hợp
với
nhóm
máu.
Tôi
như
người
chết
sống
lại
nên
càng
muốn
cống
hiến
hết
sức
lực
để
đáp
trả
tình
người,
tình
đời
sâu
nặng.
*
Vậy
là
cũng
đã
tròn
48
năm
kể
từ
ngày
cậu
thiếu
niên
14
tuổi
Nguyễn
Văn
Vưng
đoạt
giải
Khôi
nguyên
vọng
cổ,
khởi
đầu
cho
sự
xuất
hiện
của
một
Minh
Vương
tài
danh
trên
sân
khấu
cải
lương.
Trước
đó,
ông
có
dự
cảm
nào
về
một
tương
lai
rực
rỡ
của
mình
như
vậy
không,
hoặc
một
ước
mơ
“cháy
bỏng”
nào
đó
về
con
đường
nghệ
thuật?
-
Nói
thật
là
hồi
nhỏ
tôi
chẳng
có
dự
cảm
hay
ước
mơ
gì
về
nghệ
thuật,
một
thứ
quá
cao
xa
đối
với
một
thằng
nhỏ
trong
một
gia
đình
lao
động
nghèo
đông
con
như
gia
đình
tôi.
Cuộc
sống
ở
quê
(Cần
Giuộc,
Long
An)
khó
khăn,
ba
má
đưa
bảy
anh
em
tôi
lên
Sài
Gòn
mưu
sinh.
Nhà
tôi
ở
quận
8,
gần
cầu
chữ
Y,
ngày
ngày
đi
học
cũng
như
đi
vớt
lăng
quăng
cho
cá
lia
thia
nuôi
ở
nhà,
tôi
luôn
đi
ngang
qua
một
lớp
luyện
ca
cổ
của
nghệ
nhân
Bảy
Trạch,
một
nhạc
công
đờn
kìm
trứ
danh
của
Đoàn
cải
lương
Kim
Chung.
Mặc
dù
trước
đó
chẳng
bao
giờ
để
ý
đến
chuyện
hát
hò
nhưng
nghe
riết,
tôi
đâm
ra
ghiền,
rồi
một
bữa
mạnh
dạn
ghé
vào
xin
học.
Sau
khi
hát
thử,
thầy
khen
tôi
có
giọng
tốt
và
nhận
dạy
miễn
phí.
Học
đâu
chừng
gần
một
năm,
thầy
Bảy
dắt
tôi
đi
thi
Khôi
nguyên
vọng
cổ
do
báo
giới
Sài
Gòn
tổ
chức,
một
cuộc
thi
bốn
năm
một
lần.
Vượt
qua
gần
300
thí
sinh,
tôi
đoạt
giải
nhất.
Mười
thí
sinh
ở
vòng
chung
kết
phải
thi
hát
cùng
một
bài
do
soạn
giả
Viễn
Châu
mới
sáng
tác.
Nhìn
các
em
thí
sinh
Chuông
vàng
vọng
cổ
bây
giờ
cầm
giấy
thi
tài
trong
vòng
ba
người
cuối
cùng,
tôi
nhớ
đến
mình
ngày
xưa.
Sau
khi
đoạt
giải,
tôi
được
đoàn
Kim
Chung
mời
ký
giao
kèo.
Vậy
là
tôi
trở
thành
kép
hát.
Chuyện
vào
nghề
thật
bất
ngờ
và
ngỡ
ngàng
ngay
cả
với
chính
tôi,
nói
ra
không
mấy
ai
tin.

*
Khi
đặt
cho
ông
nghệ
danh
Minh
Vương,
ông
bầu
Long
của
đoàn
Kim
Chung
lúc
ấy
có
lẽ
đã
thấy
trước
tương
lai
của
một
“ông
vua”
trên
sân
khấu
cải
lương?
-
Tên
tôi
là
Vưng,
chuyển
sang
Vương
nghe
cũng
thuận
tai.
Lúc
đó,
ông
nói
nửa
đùa
nửa
thật
“Tôi
sẽ
cho
cậu
làm
vua
trong
nghề
hát”.
Nhưng
làm
vua
đâu
chẳng
thấy,
mấy
năm
đầu
tôi
như
một…
tạp
vụ,
ai
kêu
gì
làm
nấy,
đoàn
đi
lưu
diễn
phải
ngồi
băng
ghế
sau
cùng
dành
cho
người
có
“cấp
bậc”
thấp
nhất
trong
đoàn.
Danh
hiệu
Khôi
nguyên
vọng
cổ
chỉ
đem
lại
cho
tôi
công
việc
được
ra
hát
bài
ca
giữa
tuồng
khi
người
ta
nghỉ
giải
lao.
Phải
mất
bốn
năm
sau,
khi
tôi
18
tuổi,
thấy
“có
lông,
có
cánh”,
người
ta
mới
cho
“ra
ràng”,
đóng
vai
chính
đầu
tiên.
*
Minh
Cảnh,
Minh
Phụng,
Minh
Vương…
dư
luận
một
thời
đồn
rằng
những
“Minh”
này
xuất
thân
cùng
một
trường
phái
hát
giọng…
mái!
Là
người
nhỏ
tuổi
nhất,
ông
có
chịu
ảnh
hưởng
của
hai
ông
anh
trong
nghề?
-
Thế
hệ
chúng
tôi
không
mấy
ai
học
cải
lương
trong
trường
lớp
chính
quy,
thường
xuất
thân
từ
các
“lò”
đờn
ca
tài
tử,
nhưng
chủ
yếu
chỉ
học
ca,
không
có
lớp
dạy
diễn,
tất
cả
đều
phải
mày
mò
tự
học,
người
trước
rước
người
sau,
tùy
vào
mức
độ
lòng
tốt
của
từng
người.
Vì
vậy,
chuyện
ít
nhiều
bị
ảnh
hưởng
từ
người
này
người
nọ
là
lẽ
đương
nhiên.
Riêng
tôi,
những
bậc
cha
chú,
đàn
anh
như
Út
Trà
Ôn,
Hữu
Phước,
Thành
Được,
Minh
Cảnh…
ai
có
cái
gì
hay
mình
đều
học
hỏi.
Nhưng
cho
rằng
những
người
có
nghệ
danh
bắt
đầu
bằng
“Minh”
là
xuất
thân
cùng
một
“lò”
thì
không
phải.
Đó
chỉ
là
sự
trùng
hợp
ngẫu
nhiên
mà
thôi,
kể
cả
chất
giọng
nếu
có.
Nhưng
thật
ra,
mỗi
người
chúng
tôi
đều
có
nét
riêng.
Có
giống
nhau
chăng
là
ở
chỗ
phải
hát
chuẩn
bài
vọng
cổ,
chắc
nhịp
và
có
những
luyến
láy
cho
hay.

*
Danh
xưng
“ông
hoàng
cải
lương”
mà
dư
luận
sau
này
dành
cho
Minh
Vương
có
vẻ
như
đã
chứng
thực
lời
dự
đoán
trước
đây
của
ông
bầu
Long.
Theo
ông,
nhờ
đâu
ông
tới
được
“ngai
vàng”?
-
Đó
là
người
ta
khen
tặng
chứ
tôi
chưa
bao
giờ
dám
tự
xưng
như
vậy.
Tôi
nghĩ,
khán
giả
thương
tôi
trước
hết
ở
giọng
ca.
Tôi
có
chất
giọng
kim,
lên
cao
khỏe
và
trong.
Thứ
hai,
nhờ
có
làn
hơi
phong
phú,
tôi
diễn
trong
ca
dễ
dàng,
đưa
nhân
vật
vào
được
lòng
người.
Thứ
ba,
một
phần
không
nhỏ
nhờ
có
sắc
vóc.
Bên
cạnh
đó,
suốt
cuộc
đời
đi
hát,
tôi
luôn
nhớ
lời
thầy
Bảy
Trạch
dạy,
đi
theo
nghề
cải
lương
phải
biết
khiêm
tốn,
nhường
nhịn
và
học
hỏi.
*
Giới
làm
nghề
giải
trí
vào
thời
nào,
ở
đâu
cũng
nảy
nở
và
tồn
tại
những
thị
phi,
đố
kỵ
cũng
như
những
cám
dỗ,
ông
làm
thế
nào
thoát
ra
được
những
thứ
đó?
-
Tôi
vốn
thích
sự
hữu
hảo,
hòa
khí
nên
gặp
sự
ganh
ghét
thường
nhường
nhịn,
bởi
không
muốn
để
xảy
ra
chuyện
không
hay
cho
bản
thân.
Một
sự
nhịn,
chín
sự
lành,
ông
bà
mình
từ
xưa
đã
nói
như
vậy
rồi.
Chịu
thiệt
thòi
cũng
là
dịp
tốt
để
mình
cố
gắng
vươn
lên.
Hồi
tôi
mới
vào
nghề
hát
ở
Kim
Chung,
bị
người
ta
ganh
ghét
kêu
người
ngoài
vào
sân
khấu
đòi
đánh
để
mình
sợ
mà
bỏ
đi,
nhưng
tôi
được
những
người
khác
trong
đoàn
thương
xúm
lại
bảo
vệ.
Người
ta
giành
sân
khấu
này,
tôi
đi
sân
khấu
khác.
Tôi
nhịn
để
được
tồn
tại
với
nghề,
mới
ở
với
nghề
lâu
bền
đến
ngày
nay.
Đi
nghề
hát
này
đúng
là
có
nhiều
cám
dỗ
lắm,
nhưng
tôi
cố
tránh
nên
không
vướng
vào
cái
gì
hết.
Tôi
không
thuốc
lá,
không
rượu
bia,
không
cờ
bạc,
thậm
chí
không
cả
cà
phê.
Bước
vào
nghề
hát,
thầy
đã
dạy
tôi
phải
giữ
giọng
ca
và
sức
khỏe
cho
tốt,
đừng
hút
xách,
đừng
chơi
bời.
Đêm
nào
vãn
tuồng,
hậu
trường
cũng
gầy
hai
ba
sòng,
nhưng
tôi
chỉ
đứng
ngoài
ngó
một
chút
rồi
đi
ngủ.
Mình
không
giữ
mình
thì
không
có
ai
giữ
cho
mình,
mà
hậu
quả
cũng
chỉ
mình
chịu.

*
Cuộc
đời
Minh
Vương,
lúc
nào
là
“đỉnh
của
đỉnh”
và
lúc
nào
là
“đáy
của
đáy”?
-
Tôi
lên
“đỉnh”
là
ở
những
năm
đầu
thập
niên
1980
với
bốn
vai
lớn
trong
đời,
cho
tôi
cơ
hội
phát
huy
được
hết
nội
lực
ca
diễn.
Đó
là
Nguyễn
Trãi
(vở
Rạng
ngọc
Côn
Sơn),
một
đại
phu
lão
thành;
là
Võ
Minh
Luân
(Đời
cô
Lựu),
một
thiếu
niên
chăn
trâu;
là
Minh
(Tô
Ánh
Nguyệt),
một
trí
thức
trẻ
thời
phong
kiến;
là
Hai
Phước
(Pha
lê
và
cát
bụi),
một
đảng
viên,
cán
bộ
lãnh
đạo
thời
hiện
đại.
Trước
năm
1975,
tôi
chuyên
đóng
tuồng
hương
xa
với
những
nhân
vật
“kiếm
sĩ”
một
màu
nên
tôi
ca
là
ca
cho
Minh
Vương,
khoe
giọng
là
chủ
yếu.
Sau
năm
1975,
tôi
ca
cho
nhân
vật,
tạo
cảm
xúc
cho
khán
giả
qua
số
phận
của
vai
diễn.
Đặc
biệt
là
bốn
nhân
vật
vừa
kể
trên,
tuổi
tác
và
tính
cách
của
họ
hoàn
toàn
khác
nhau
và
tôi
đã
phải
“đổ
mồ
hôi,
sôi
nước
mắt”
mới
hóa
thân
vào
được.
Riêng
vai
Nguyễn
Trãi,
tôi
sắm
vai
này
lúc
tuổi
còn
trẻ
nên
phải
mời
“má”
Kim
Cúc
(vợ
nghệ
sĩ
Năm
Châu)
về
nhà
dạy
cho
biết
cách
đi
đứng
của
“đại
phu”
trong
suốt
một
tuần
lễ.
Còn
rớt
xuống
“đáy”
là
khi
gia
đình
lục
đục,
phải
ly
hôn
sau
hơn
20
năm
chung
sống
với
hai
mặt
con.
Lúc
đó,
tôi
đã
bỏ
lại
tất
cả,
ra
đi
với
bộ
đồ
trên
người,
không
gia
đình,
không
nhà
cửa,
không
xe
cộ,
về
tá
túc
nhà
cô
em
gái…
Rồi
bỗng
dưng
gặp
chuyện
rắc
rối
liên
quan
đến
bà
Bé
Tư,
đến
tòa
án.
Trong
chuyện
này,
tôi
tình
ngay
mà
lý
cũng
không
gian,
sau
này
tất
cả
đã
được
sáng
tỏ,
nhưng
hồi
đó
dư
luận
ác
ý
làm
ầm
ĩ,
ảnh
hưởng
đến
thanh
danh,
làm
tôi
muốn
gục
ngã.
Gia
đình
lớn
của
tôi
ở
bên
Úc
nghe
vậy,
lo
giấy
tờ
cho
tôi
qua
bên
đó
sống.
Tôi
đã
cầm
hộ
chiếu
trong
tay
nhưng
cứ
chần
chừ,
cuối
cùng
chọn
ở
lại
VN
vì
không
muốn
rời
xa
sân
khấu,
xa
khán
giả.
Lúc
đó,
tôi
cứ
phải
tự
động
viên
mình
ráng
chịu
đựng,
thế
nào
bão
tố
cũng
qua.
Và
quyết
định
đó
của
tôi
đã
đúng.


*
Thật
ngạc
nhiên
khi
chị
Hồng
(nguyên
là
chủ
tiệm
vải
áo
dài
Dễ
thương
nổi
tiếng),
vợ
ông
hiện
nay,
tiết
lộ
rằng,
trước
khi
gặp
ông,
chị
chưa
hề
đi
xem
một
vở
cải
lương
nào
và
sau
khi
làm
vợ
NSƯT
Minh
Vương,
chị
cũng
không
phải
là
“fan”
cải
lương
của
ông?
-
Tôi
và
Hồng
tình
cờ
gặp
nhau
trong
một
cuộc
họp
mặt
bạn
bè.
Cô
ấy
không
phải
là
dân
mê
cải
lương
nên
đó
là
lần
đầu
tiên
chúng
tôi
biết
nhau.
Hồng
nói
thương
tôi
vì
tính
tình
tôi
hiền
lành,
vì
con
người
ngoài
đời
của
tôi,
vì
những
khổ
đau
tôi
đã
trải
qua
chứ
không
phải
vì
tôi
là
nghệ
sĩ.
Về
sống
với
nhau,
tôi
thấy
cô
ấy
đúng
là
người
phụ
nữ
trời
ban
cho
mình.
Tính
tình
dịu
dàng,
Hồng
lo
cho
tôi
từng
miếng
ăn
giấc
ngủ,
tận
tình
chăm
sóc
tôi
những
lúc
đau
ốm,
bệnh
hoạn.
Con
gái
chung
của
chúng
tôi
năm
nay
đã
ở
vào
tuổi
20.
Hai
đứa
con
riêng
của
tôi
với
người
vợ
trước
cũng
rất
quý
Hồng.
Chúng
đều
đã
có
gia
đình
riêng
nhưng
vẫn
thường
lui
tới
thăm
chơi
và
cùng
“hợp
tác
chặt
chẽ”
trong
việc
lo
cho
tôi
trong
suốt
thời
gian
vừa
qua.
Cuộc
sống
của
tôi
hiện
nay
sau
khi
sức
khỏe
được
hồi
phục,
phải
nói
là
trọn
vẹn
cả
đôi
đường,
thật
không
mơ
ước
gì
hơn.
Nhìn
lại
đời
mình,
tôi
xin
cám
ơn
những
thăng
trầm
lận
đận.
Chính
những
lận
đận
đã
làm
nên
danh
phận
đời
tôi.
*
Từng
nhiều
lần
ngồi
ghế
giám
khảo
các
cuộc
thi
tuyển
giọng
ca
cải
lương,
ông
có
chút
niềm
tin
nào
vào
lớp
trẻ
kế
tục?
-
Trải
qua
bao
mùa
thi
tuyển,
tôi
vẫn
chưa
thấy
xuất
hiện
những
nhân
tố
có
đầy
đủ
yếu
tố
về
thanh
sắc
để
có
thể
tiếp
nối
vinh
quang
của
nghệ
thuật
cải
lương
thế
hệ
trước.
Có
lẽ
chúng
tôi
phải
tiếp
tục
tìm
kiếm
nhiều
thêm
nữa.
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc