
Các
nghệ
nhân
dân
gian
Họ
có
kịp
chờ
nữa
không?
Nói
đến
di
sản
văn
hóa
phi
vật
thể
là
nói
đến
nghệ
nhân,
bởi
các
nghệ
nhân
là
người
nắm
giữ,
trao
truyền
các
di
sản
văn
hóa
phi
vật
thể
cho
các
thế
hệ
sau.
Trong
khi
các
nghệ
nhân
dân
gian
-
những
“báu
vật
nhân
văn
sống”
của
Việt
Nam,
người
đã
ra
đi
mãi
mãi,
người
thì
đang
sống
những
ngày
tháng
cuối
cùng…
Để
đưa
ca
trù
ra
thế
giới
và
được
công
nhận
di
sản
văn
hóa
phi
vật
thể
UNESCO
có
sự
đóng
góp
không
nhỏ
của
những
nghệ
nhân
dân
gian
cuối
cùng.
Đó
là
hai
nghệ
nhân
Phan
Thị
Mơn
(nghệ
nhân
ca
trù
Cổ
Đạm,
Hà
Tĩnh)
và
Nguyễn
Thị
Kim
(nghệ
nhân
ca
trù
Thanh
Hóa).
Thế
nhưng,
cả
2
nghệ
nhân
này
đều
đã
ra
đi
mãi
mãi
mà
không
hề
được
hưởng
chế
độ
đãi
ngộ
nào.
Và
rồi
gần
đây
nhất,
nghệ
nhân
Hà
Thị
Cầu
-
“người
hát
xẩm
cuối
cùng
của
thế
kỷ
20”,
kho
dữ
liệu
sống
về
xẩm
của
Việt
Nam
cũng
đã
ra
đi
mà
chưa
được
hưởng
một
sự
hỗ
trợ
nào.
Hiện
chúng
ta
còn
nhiều
nghệ
nhân
nổi
tiếng
như
nghệ
nhân
ca
trù
Nguyễn
Thị
Chúc,
nghệ
nhân
đàn
đáy
Nguyễn
Phú
Đẹ…
đều
đã
cao
niên,
không
biết
liệu
họ
có
thể
chờ
được
đến
khi
có
chính
sách
đãi
ngộ
hay
không.
Cho
đến
nay,
chưa
có
một
con
số
thống
kê
đầy
đủ
nào
về
việc
có
bao
nhiêu
nghệ
nhân
-
những
“báu
vật
sống”
đã
qua
đời,
bởi
hầu
hết
các
nghệ
nhân
đều
sống
lặng
lẽ
ở
quê
nhà.
Họ
phải
mưu
sinh
bằng
đủ
thứ
công
việc
đồng
áng
hàng
ngày,
nhiều
người
trong
số
họ
đã
ra
đi
trong
lặng
lẽ.
Thống
kê
của
Sở
VH,
TT&DL
Phú
Thọ,
đến
hết
năm
2012,
Phú
Thọ
có
39
nghệ
nhân
hát
Xoan
được
Hội
Văn
nghệ
dân
gian
Việt
Nam
và
Chủ
tịch
UBND
tỉnh
Phú
Thọ
phong
tặng
danh
hiệu
nghệ
nhân,
nhưng
đến
nay
7
người
đã
mất,
10
người
không
còn
khả
năng
truyền
dạy.
GS.TSKH
Tô
Ngọc
Thanh:
Các
nghệ
nhân
không
thể
chờ
được
thêm
nữa
Nếu
phải
chờ
Luật
Thi
đua
-
Khen
thưởng
(bổ
sung,
sửa
đổi)
thì
tôi
e
rằng
các
nghệ
nhân
cuối
cùng
không
thể
chờ
nổi.
Còn
với
Hội
VNDGVN,
12
năm
qua,
chúng
tôi
vẫn
làm
việc
này.
Đến
nay
Hội
đã
phong
tặng
cho
372
vị
rồi
nhưng
chúng
tôi
chỉ
có
thể
động
viên
về
tinh
thần
chứ
không
có
chế
độ
gì.
Tôi
đã
từng
rất
nhiều
lần
đề
xuất
tới
việc
phong
tặng
danh
hiệu
nghệ
nhân
cấp
Nhà
nước
nhưng
không
được
chấp
thuận.
Tôi
cho
rằng,
có
lẽ
phải
chờ
lâu
nữa
mới
có
qui
định
phong
tặng
danh
hiệu
nghệ
nhân
của
Nhà
nước
nếu
cứ
cứng
nhắc
như
hiện
nay.
Ví
dụ
nếu
nghệ
nhân
chết
thì
phải
chết
trước
khi
nghị
định
ấy
có
hiệu
lực
5
năm
thì
mới
được
phong
tặng,
còn
chết
trước
6
năm
thì
không
được….
Chắc
chắn
sẽ
khoảng
5
-
7
năm
nữa
mới
có
thể
có
qui
định
phong
tặng
nghệ
nhân,
nếu
cứ
giữ
tư
duy
kiểu
đó.
Những
nghệ
nhân
hát
Xoan
chưa
được
phong
tặng
có
37
người,
thì
3
người
đã
mất,
17
người
không
còn
khả
năng
truyền
dạy.
Trong
số
những
nghệ
nhân
còn
khả
năng
trình
diễn
và
truyền
dạy,
rất
nhiều
người
đã
ở
tuổi
70-80…
Lý
giả
về
sự
trì
hoãn,
bà
Nguyễn
Thị
Kim
Dung,
Trưởng
phòng
quản
lý
di
sản
phi
vật
thể,
Cục
Di
sản
văn
hóa
(Bộ
VHTT&DL)
cho
biết:
“Dự
thảo
sửa
đổi
Luật
Thi
đua
khen
thưởng
đang
chờ
Quốc
hội
phê
duyệt
vào
tháng
12.
Cho
nên
Chính
phủ
có
văn
bản
yêu
cầu
các
bộ
ngành
tạm
dừng
dự
thảo
Nghị
định
tôn
vinh,
phong
tặng
danh
hiệu”.
Thực
tế,
một
trong
những
khó
khăn
khi
xây
dựng
thông
tư
là
phải
có
căn
cứ
pháp
lý.
Luật
thi
đua
khen
thưởng
chỉ
áp
dụng
đối
với
nghệ
nhân
thuộc
nghề
thủ
công
truyền
thống,
do
Bộ
Công
Thương
quản
lý.
Nghệ
nhân
thuộc
các
lĩnh
vực
di
sản
văn
hóa
phi
vật
thể
vì
thế
vô
hình
chung
“bị
đứng
bên
lề”.
Và
cuối
cùng
Chính
phủ
đồng
ý
để
Bộ
VHTT&DL
soạn
thảo
Nghị
định
về
xét
tặng
NNND,
NNƯT.
Các
địa
phương…
chủ
động
Gần
đây
nhất,
tại
hội
thảo
lấy
ý
kiến
cho
bản
dự
thảo
lần
3,
phần
lớn
các
đại
biểu
đều
cho
rằng,
việc
xét
tặng
danh
hiệu
cho
nghệ
nhân
là
không
thể
chậm
trễ
hơn
được
nữa
và
việc
xét
tặng
cũng
đừng
quá
cứng
nhắc
và
hành
chính
hóa...
Bởi
từ
khi
các
cơ
quan
quản
lý
đặt
vấn
đề
cần
phong
tặng
danh
hiệu
cho
nghệ
nhân
(từ
năm
2003),
đến
lúc
này
đã
gần
10
năm.
Trong
10
năm
ấy,
có
tới
gần
một
nửa
số
nghệ
nhân
dân
gian
đã
về
cõi
vĩnh
hằng,
mang
theo
cả
một
kho
báu
văn
hóa
phi
vật
thể
của
quốc
gia.
Đại
diện
Cục
Văn
hóa
cơ
sở
cho
rằng:
“Tôn
vinh
cấp
Nhà
nước
đối
với
NNND,
NNƯT
mới
phải
chờ
Nghị
định
ban
hành.
Nhưng
về
cơ
bản,
luật
quy
định
địa
phương
có
trách
nhiệm
bảo
tồn
văn
hóa
phi
vật
thể
tại
địa
phương.
Cho
nên
Bộ
khuyến
khích
các
tỉnh
linh
hoạt
trong
tôn
vinh
nghệ
nhân
ở
địa
phương,
miễn
sao
tuân
thủ
pháp
luật
và
chính
sách
tài
chính.
Đối
với
nghệ
nhân,
có
chính
sách
càng
sớm
bao
nhiêu
càng
tốt
bấy
nhiêu”.
Hiện
Bắc
Ninh
và
Phú
Thọ
là
hai
trong
số
ít
tỉnh
chủ
động
có
chính
sách
đãi
ngộ
nghệ
nhân.
Sở
VHTT&DL
Bắc
Ninh
đã
ban
hành
Quy
chế
phong
tặng
danh
hiệu
Nghệ
nhân
dân
ca
Quan
họ
Bắc
Ninh,
phong
tặng
danh
hiệu
đợt
1
cho
41
nghệ
nhân
có
công
lao
trong
bảo
tồn
và
truyền
dạy.
Theo
đó,
nghệ
nhân
được
cấp
bằng
của
UBND
tỉnh,
kèm
số
tiền
5
triệu
đồng,
được
hưởng
đãi
ngộ
hằng
tháng
bằng
mức
lương
tối
thiểu,
hưởng
bảo
hiểm
y
tế,
chế
độ
mai
táng
như
cán
bộ,
viên
chức
nhà
nước.
UBND
tỉnh
cũng
phê
duyệt
đề
án
“Bảo
tồn
và
phát
huy
giá
trị
Di
sản
văn
hóa
Dân
ca
Quan
họ
Bắc
Ninh
và
Ca
trù
giai
đoạn
2011-2020”
kinh
phí
gần
70
tỷ
đồng
từ
ngân
sách.
Không
thực
hiện
tốt
cam
kết,
sẽ
bị
tước
bỏ
Theo
PGS.TS
Nguyễn
Chí
Bền,
Viện
trưởng
Viện
Văn
hóa
nghệ
thuật
Việt
Nam,
chương
trình
mục
tiêu
quốc
gia
về
văn
hóa
có
nhiều
đề
án,
phần
việc
của
Viện
Văn
hóa
nghệ
thuật
Việt
Nam
là
sưu
tầm,
bảo
tồn
và
phát
huy
giá
trị
của
các
di
sản
văn
hóa
phi
vật
thể
của
54
dân
tộc
Việt
Nam.
Trong
đó,
cái
chúng
ta
cần
quan
tâm
nhất
là
vấn
đề
về
con
người,
chính
sách
với
các
nghệ
nhân...
Ông
cho
biết,
Việt
Nam
hiện
có
5
di
sản
văn
hóa
phi
vật
thể
được
UNESCO
công
nhận,
gồm:
Không
gian
văn
hóa
cồng
chiêng
Tây
Nguyên,
Nhã
nhạc
cung
đình
Huế,
Dân
ca
quan
họ
Bắc
Ninh,
Hội
Gióng
đền
Phù
Đổng
và
đền
Sóc,
Tín
ngưỡng
thờ
cúng
Hùng
Vương.
Có
2
di
sản
được
đưa
vào
danh
mục
cần
bảo
vệ
khẩn
cấp
là
Ca
trù
và
hát
Xoan.
Điều
đáng
nói
là,
trong
quá
trình
xây
dựng
hồ
sơ
để
trình
UNESCO
công
nhận
là
Di
sản,
chúng
ta
đều
phải
cam
kết
có
những
chương
trình
hành
động
để
bảo
tồn
và
phát
triển
loại
hình
nghệ
thuật
được
công
nhận
ấy,
trong
đó
chính
sách
đãi
ngộ
nghệ
nhân
là
một
phần
rất
quan
trọng
trong
các
cam
kết
của
Việt
Nam
với
UNESCO.
Việc
chậm
trễ
trong
việc
ban
hành
chính
sách
sẽ
ảnh
hưởng
đến
cam
kết
cũng
như
uy
tín
của
chúng
ta
đối
với
quốc
tế.
“UNESCO
có
quyền
công
nhận
và
cũng
có
quyền
tước
bỏ
danh
hiệu.
Nếu
trong
quá
trình
thực
hiện,
họ
kiểm
tra
thấy
các
di
sản
của
chúng
ta
không
còn
đáp
ứng
được
yêu
cầu,
lúc
đó
họ
sẽ
xem
xét
và
khả
năng
tước
bỏ
danh
hiệu
là
hoàn
toàn
có
thể
xảy
ra.
Chúng
ta
cần
phải
làm
tốt
việc
bảo
tồn
phát
huy
giá
trị
các
di
sản
đã
được
công
nhận,
cũng
như
đưa
vào
bảo
vệ
khẩn
cấp”
-
PGS.
TS
Nguyễn
Chí
Bền
lo
ngại.
Miên
Thảo
Ý kiến bạn đọc