Đang
truy
cập
:
636
•Máy chủ tìm kiếm : 7
•Khách viếng thăm : 629
Hôm
nay
:
3036
Tháng
hiện
tại
:
2898355
Tổng
lượt
truy
cập
:
121166387
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
TỪ ANH NÔNG DÂN ĐỜN CA TÀI TỬ
NS
Châu
Thanh
tên
thật
là
Trần
Tuấn
Kiệt,
anh
sinh
ra
trong
một
gia
đình
nông
dân
(1957),
ở
xã
Phước
Chỉ,
huyện
Trảng
Bàng,
tỉnh
Tây
Ninh.
Cha
anh
là
nghệ
nhân
Minh
Chương
-
nhạc
Tài
tử
đờn
Guitar
phím
lõm,
nên
hồi
còn
ở
quê
nhà
anh
được
cha
truyền
dạy
đờn
va
ca
khá
thông
thạo
hơi
-
điệu
nhiều
bài
bản
Tài
tử
và
Cải
lương.
Những
năm
đầu
Giải
phóng
(1975-1978),
Tuấn
Kiệt
là
hạt
nhân
nòng
cốt
của
phong
trào
văn
nghệ
quần
chúng
ở
địa
phương.
Anh
đã
được
nhiều
người
khen
va
tiên
đóan
rằng,
nếu
anh
theo
Cải
lương
chuyên
nghiệp
thì
anh
sẽ
sớm
trở
thành
nghệ
sĩ
nổi
tiếng.
Có
lẽ
đây
là
liều
thần
dược
tạo
thành
nguyên
nhân
chính
để
đưa
Tuấn
Kiệt
đến
với
Cải
lương
chuyên
nghiệp.
Thế
là
những
buổi
trình
diễn
văn
nghệ
quần
chúng
ở
xả
Phước
Chỉ
-
Trảng
Bàng,
khán
giả
không
còn
trông
thấy
chàng
Tuấn
Kiệt
ca
ngọt
như
mía
lùi
nữa,
khi
hỏi
lại
thì
mọi
người
mới
biết
anh
đã
đầu
quân
vào
Đoàn
Cải
Lương
Sài
Gòn
II
rồi
(1979).
Tuy
Tuấn
Kiệt
đã
có
chút
ít
vốn
liếng
đờn
ca
nhưng
chưa
biết
gì
về
kỹ
thuật
tâm
lý
biểu
diễn,
nên
vào
Đoàn
Sài
Gòn
II
mấy
tháng
mà
vẫn
không
được
phân
vai,
chỉ
làm
phụ
bầu
những
việc
lặt
vặt,
ban
đêm
ngồi
trong
cánh
gà
sân
khấu
phụ
đạo
cụ
và
xem
các
đồng
nghiệp
đi
trước
diễn
để
học
nghề.
Một
hôm,
Đoàn
diễn
vở
"Khách
sạn
Hào
Hoa",
vai
Chú
Năm
do
một
diễn
viên
khác
đảm
nhận
nhưng
đêm
đó
Kép
này
bị
bệnh
không
diễn
được.
Thế
là
Tuấn
Kiệt
được
Trưởng
Đoàn
cho
diễn
thế
vai
Chú
Năm,
vì
đã
xem
vai
này
nhiều
lần
nên
anh
diễn
tròn
vai,
được
Trưởng
Đoàn
và
tập
thể
khen
khiến
cho
anh
hưng
phấn
thành
công
những
vai
tiếp
theo.
Đặc
biệt
là
sau
đó,
Tuấn
Kiệt
được
lãnh
đạo
Đoàn
ưu
ái
tăng
lương
và
hát
chia
vai
với
kép
chánh
Tuấn
An
lúc
đó.
Cũng
xin
nói
thêm
đây
là
thời
kỳ
Cải
lương
rất
hưng
thịnh
nhất
là
ở
miệt
tỉnh
nên
có
câu:
"Cải
lương
về
làng
như
phụng
hoàng
về
miểu,
đào
kép
Cải
lương
là
những
ông
hoàng
bà
chúa",
nhiều
nghệ
sĩ
có
tên
tuổi
thường
tăng
cường
ở
tỉnh
cát
sê
cao
hơn
ở
thành
phố.
Nên
lúc
này
một
số
kép
của
Sài
Gòn
II
thường
hát
show
ở
tỉnh,
và
mỗi
lần
như
vậy
thì
NS
Tuấn
Kiệt
được
thế
vai,
một
số
vở
như
"Tìm
lại
cuộc
đời",
"Khách
sạn
Hào
Hoa",
"Tiếng
hò
sông
Hậu",
"Nếu
em
là
hoàng
đế",
"Nắng
ấm
ngoại
ô"...
Sau
đó,
Tuấn
Kiệt
được
NS
Phương
bình
mời
về
cộng
tác
hát
chánh
cho
Đoàn
CL
Hương
Biển,
anh
đổi
nghệ
danh
là
Bảo
Châu
(1980)
trong
các
vở
"Giọt
máu
oan
cừu",
"Sơn
Tinh
-
Thủy
Tinh",
"Bạch
Viên
-
Tôn
Cát",
"Thạch
Sanh
-
Lý
Thông"...
Năm
sau
(1981),
Tuấn
Kiệt
về
Đoàn
CL
Sài
Gòn
III,
anh
có
mặt
trong
các
vở
"Tình
ca
biên
giới",
"Nàng
Sa-Rết",
"Mái
tóc
người
vợ
trẻ"...
Khi
Tuấn
Kiệt
rời
Đoàn
CL
Sài
Gòn
III,
anh
về
hát
kép
chánh
cho
Đoàn
CL
Cao
Nguyên,
và
Đoàn
chuyên
lưu
diễn
ở
miền
Trung
gần
đến
5
năm
(1982
-
1986)
cũng
từ
giai
đoạn
này
Tuấn
Kiệt
ca
hơi
dài,
vì
ít
nhiều
đã
tích
lũy
được
kinh
nghiệm
biểu
diễn
nên
ca
diễn
có
một
bước
tiến
bộ
hơn
so
với
trước
đó.
Có
lẽ
từ
giai
đoạn
này
là
dấu
ấn
đáng
nhớ
của
anh
để
mở
đầu
cho
phong
cách
kỹ
thuật
ca
Vọng
cổ
hơi
dài,
là
bệ
phóng
để
khi
anh
về
Đòan
CL
Trung
Hiếu
(1987)
định
hình
và
nổi
tiếng
"một
Châu
Thanh
hơi
dài".
THÀNH
CÔNG
TỪ
MỘT
KÉP
CA
Khi
NS
Tuấn
Kiệt
về
hát
chánh
cho
Đoàn
CL
Trung
Hiếu
,
anh
đổi
nghệ
danh
là
"Châu
Thanh"
cũng
nhằm
khẳng
định
phong
cách
ca
diễn
của
mình.
Lúc
này,
NSUT
Phượng
Hằng
cũng
vừa
rời
Đoàn
CL
Tây
Ninh
về
cộng
tác
với
Trung
Hiếu,
mà
cô
đào
Phượng
Hằng
lúc
còn
hát
cho
Tây
Ninh
đã
có
kỹ
thuật
ca
hơi
dài.
Thế
là
hai
nghệ
sĩ
này
gặp
nhau
hát
đào
kép
chánh
cho
Trung
Hiếu
rất
tâm
đầu
ý
hợp
như
một
hiện
tượng
hơi
dài
lúc
bấy
giờ,
mà
công
luận
tặng
cho
mỹ
danh
là
"Đôi
sơn
ca
Châu
Thanh
-
Phượng
Hằng".
Những
năm
ở
Đoàn
CL
Trung
Hiếu,
mặc
dù
hát
chánh
nhiều
vở
nhưng
thật
tình
mà
nói
NS
Châu
Thanh
không
có
được
vai
nào
xuất
sắc,
ngay
một
thời
gian
anh
và
Phượng
Hằng
qua
Đoàn
CL
Thanh
Nga
hát
một
số
vở
như
"Tấm
lòng
của
biển",
"Nữ
kiệt
sang
sông",
"Giấc
mộng
trường
sinh"...
Có
một
dạo
NS
Châu
Thanh
về
Đoàn
CL
Sông
Bé
II,
rồi
Đoàn
CL
Huỳnh
Long
cũng
không
có
vai
nào
nổi
bật.
Có
lẽ
trong
cuộc
đời
hát
kép
chánh
trên
Sân
khấu
Cải
lương
của
NS
Châu
Thanh
là
nhờ
tài
ca
chứ
không
phải
tài
năng
diễn
xuất,
ngay
vở
nổi
tiếng
lúc
ở
Trung
Hiếu
"Vụ
án
Mã
Ngưu"
cũng
không
ngoài
ngoại
lệ
đó.
Xét
cho
cùng
nhân
vật
Quách
Vương
không
mấy
lý
tưởng,
tính
văn
học
ca
từ
của
vở
không
thuộc
loại
văn
chương
tiêu
biểu,
nhiều
câu
ca,
từ
ngữ
sáo
mòn
ngữ
nghĩa,
cú
pháp
ngôn
ngữ
rất
vụng
về...
Điều
này
có
thể
thấy,
lớp
Quách
Vương
bị
mù
đi
xin
lại
ca
những
ca
khúc
"Nhớ
người
yêu",
"Cát
bụi"...
một
sự
chấp
vá,
lắp
ghép
có
tính
cơ
giới
của
tác
giả
khác
mà
không
là
của
tác
giả
kịch
bản.
Nhiều
người
cũng
đồng
tình
với
nhận
định,
vở
"Vụ
án
Mã
Ngưu"
hay
nhất
là
lớp
Thục
Oanh
(Phượng
Hằng)
và
Quách
Vương
(Châu
Thanh)
hồi
quan
(nhớ
nhau)
ca
nhạc
vàng
và
Vọng
cổ
hơi
dài
hay,
thu
hút
khán
giả
chứ
không
phải
hay
vì
tình
tiết
hay
văn
chương
của
kịch.
Hay
nhất
là
người
ta
được
có
dịp
nghe
lại
ca
khúc
"Nhớ
người
yêu"
và
"Cát
bụi"
có
ca
từ
trữ
tình,
mượt
mà
và
giọng
ca
truyền
cảm
đi
vào
lòng
người
của
Châu
Thanh,
cái
hay
là
ở
chỗ
đó.
Và
nếu,
không
phải
NSUT
Phượng
Hằng
và
Châu
Thanh
trong
vở
"Vụ
án
Mã
Ngưu",
mà
nghệ
sĩ
nào
đó
cùng
trang
lứa
đóng
thì
vở
này
chưa
chắc
đã
ăn
khách
bằng
lối
ca
Vọng
cổ
khác
?...
NS
Châu
Thanh
được
thiên
phú
một
làn
hơi
chất
giọng
khỏe
khoắn,
đầy
âm
lực,
có
đủ
âm
vực:
vang,
trầm,
bổng,
một
chút
thanh
trong...
mà
người
ta
thường
gọi
là
âm
vực
rộng
và
cao.
Âm
vực
được
hiểu
là
quãng
âm
bao
gồm
tất
cả
các
cung
bậc
của
một
giọng,
hoặc
một
loại
nhạc
khí
nào
đó,
mà
quãng
âm
là
âm
thanh
của
một
cung
hay
nửa
cung
của
một
dòng
nhạc.
Điều
đó
chứng
minh
rằng,
hơi
-
giọng
của
NS
Châu
Thanh
vốn
phong
phú
về
thể
trạng,
thêm
vào
đó
anh
lại
có
vốn
căn
cơ
về
âm
nhạc
Tài
tử
lúc
học
cha
ở
quê
nhà,
nên
khi
ca,
anh
xử
ly
hơi
giọng
một
cách
điêu
luyện.
Căn
cơ
đã
có,
bộ
nhịp
vững
chắc
nên
luyến
láy,
nhấn
nhá
có
điều
kiện
để
phô
diễn
làn
hơi
chất
giọng
một
cách
tự
tin,
mà
không
e
ngại
chinh
hay
rớt
nhịp.
Bên
cạnh
đó,
Châu
Thanh
vận
dụng
kỹ
thuật
phát
âm
luyến
và
nhấn
các
thanh
điệu
khá
thuần
thục,
như
dấu
sắc
và
hỏi
(ngã)
anh
lại
buông
hơi
dài
để
ngân
nga,
vừa
rung
giọng
nên
âm
sắc
của
ca
từ
bay
bổng
với
độ
vang
xa;
khi
ca
từ
trọng
âm
rơi
ở
những
dấu
huyền
lúc
xuống
"xề
hay
hò"
thì
anh
xử
lý
buông
giọng
từ
từ,
tiết
chế
âm
lực
cho
hoạ
âm
trầm
nhiều
hơn
nên
âm
sắc
giọng
ca
trầm
lắng
nghe
rất
truyền
cảm.
Đặc
biệt,
những
điểm
nhấn
trọng
âm
của
NS
Châu
Thanh,
anh
lại
xử
lí
kỹ
thuật
hơi
mũi
hoá
(nasal)
để
ngân,
và
cuối
âm
sắc
có
âm
gió
là
"hơ...hơ...ơ...",
lại
càng
nghe
âm
sắc
dặt
dìu
hơn,
tô
điểm
ca
từ
thành
những
âm
thanh
mượt
mà
hơn...
NS
Châu
Thanh
đạt
được
trình
độ
xử
lí
hơi
-
giọng
như
thế
không
đơn
giản
chút
nào,
anh
đã
kết
hợp
và
khổ
luyện
từ
hai
tinh
hoa
hơi
giọng
của
hai
nghệ
sĩ
Tài
danh:
NSUT
Giang
Châu
(hơi
dài)
và
NS
Hoài
Thanh
(tiết
chế
âm
lực
ngân
âm
"hơ..."),
và
anh
đã
rèn
luyện
thành
một
hơi
giọng
riêng
cho
mình
không
lẫn
lộn
với
một
ai.
Cái
hay
của
NS
Châu
Thanh
xử
lý
kỹ
thuật
ca
hơi
dài
nhưng
không
lùa
văn,
nuốt
âm,
không
như
đọc
theo
kiểu
tụng
kinh,
mà
có
ngân
nga,
nhấn
nhá
trọng
âm
với
những
ca
từ
chính
nhịp;
người
nghe
vẫn
cảm
nhận
được
ngữ
nghĩa
từng
lời
(ca
từ),
ngữ
điệu
có
nhặt
khoan,
trầm
bổng...
Với
những
kỹ
năng
đó,
NS
Châu
Thanh
đã
từng
cuốn
hút
khán
giả
khi
xem
vở
"Vụ
án
Mã
Ngưu"
qua
kỹ
thuật
ca
Vọng
cổ:
"Em
ơi,
tháng
bảy
mưa
ngâu
có
cầu
Ô
Thước
trên
dải
Ngân
Hà
Chúc
Nữ
hội
ngộ
Ngưu
Lang
sau
một
năm
dài
xa
vắng.
Còn
anh
nhớ
em
chỉ
bằng
giấc
mộng,
khóc
hận
vì
ai
gây
cảnh
đắng
cay
để
giờ
đây
anh
sống
kiếp
đơn
côi,
biết
về
đâu
khi
đường
tương
lai
mịt
mù
tăm
tối,
mà
lối
đi
về
không
có
ngày
mai,
vì
người
ta
đã
cướp
đi
đôi
mắt
của
anh...
rồi...".
Tuy
nhiên,
phong
cách
và
kỹ
thuật
ca
hơi
dài
và
cái
"hơ..."
của
NS
Châu
Thanh
cũng
có
một
bộ
phận
dư
luận
không
thích,
thậm
chí
có
một
lúc,
một
số
người
phản
đối.
Dù
vậy,
nhưng
đại
bộ
phận
vẫn
mến
mộ
phong
cách
ca
ngâm,
kỹ
thuật
xử
lý
hơi
-
giọng
của
NS
Châu
Thanh,
nhất
là
giới
trẻ.
Thông
thường,
người
đời
có
câu:
"Biết
làm
sao
cho
vừa
lòng
người,
ở
rộng
người
cuời,
mà
ở
hẹp
người
chê",
và
"đa
số
luôn
thắng
thiểu
số",
nếu
thắng
trọn
vẹn
được
thì
càng
tốt,
còn
không
chiếm
đa
số
cũng
đã
thành
công
rồi.
Trong
khoảng
thời
gian
1988
đến
1990,
đôi
sơn
ca
Châu
Thanh
-
Phượng
Hằng
đã
được
một
số
hãng
băng
mời
cộng
tác,
trong
đó
đã
phát
hành
đến
5
Album
cassette
riêng
"Tiếng
hát
Châu
Thanh
-
Phượng
Hằng"
bán
chạy
như
tôm
tươi,
ở
nông
thôn
hầu
như
nhà
nào
có
máy
cassette
là
có
băng
"Tiếng
hát
Châu
Thanh
-
Phượng
Hằng".
Điều
này
đã
chứng
minh
được
giang
ca
của
Châu
Thanh
-
Phượng
Hằng
đã
đi
vào
thị
hiếu
của
một
bộ
phận
lớn
trong
công
chúng,
tạo
một
hiện
tượng
"Châu
Thanh
-
Phượng
Hằng"
lúc
bấy
giờ,
và
đến
nay
vẫn
còn
không
ít
người
mến
mộ.
Cũng
phong
cách
ca
hơi
dài
và
kỹ
thuật
luyến
láy
đã
nói
ở
trên,
NS
Châu
Thanh
còn
ca
khá
nhiều
trên
Đài
TNND
-
TP.
HCM,
Đài
TNVN,
và
một
số
Đài
PTTH
tỉng
được
thính
giả
biết
đến;
đặc
biệt
là
hai
bài:
Tân
cổ
giao
duyên
"Nụ
Hồng"
và
lời
Vọng
cổ
của
cố
NSUT
Thanh
Vũ,
anh
ca
chung
với
Phượng
Hằng
và
bài
"Giấc
mơ"
cũng
của
Thanh
Vũ,
anh
ca
chung
với
NSND
Lệ
Thủy,
có
một
dạo
hai
bài
này
đã
được
bạn
nghe
đài
yêu
cầu
các
đài
phát
lại
nhiều
lần.
Sự
phong
phú
của
đời
sống
xã
hội
là
muôn
màu
muôn
vẻ,
trong
nghệ
thuật
cũng
vậy,
không
quá
rập
khuôn
theo
một
khuôn
mẫu
dù
cái
đó
rất
tuyệt
vời.
nhưng
xét
cho
cùng,
thị
hiếu
và
nhu
cầu
thưởng
thức
nghệ
thuật
của
công
chúng
luôn
đa
dạng
và
phong
phú,
mỗi
giai
đoạn
xã
hội
lại
có
nhu
cầu
và
thị
hiếu
thẫm
mỹ
riêng,
và
khi
người
nghệ
sĩ
sáng
tạo
đáp
ứng
được
phần
đông
trong
công
chúng
coi
như
đã
có
sự
thành
công
nhất
định,
bởi
nghệ
thuật
không
có
đỉnh
điểm
tuyệt
đối
chỉ
tương
đối
mà
thôi.
Nói
chung,
NS
Châu
Thanh
ít
nhiều
cũng
đã
để
lại
dấu
ấn
tốt
đẹp
trong
lòng
khán
-
thính
giả
mộ
điệu
bằng
phong
cách
ca
ngâm
của
riêng
mình,
và
anh
là
một
NS
Cải
lương
có
một
sáng
tạo
riêng
về
xử
lý
kỹ
thuật
hơi
-
giọng
được
xem
là
một
trong
những
bức
phá
mới
vào
giai
đoạn
cuối
của
thế
kỷ
20.
Đỗ
Dũng
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc