Bìa
sách
Lần
đầu
tiên,
100
bài
vọng
cổ
đặc
sắc
của
soạn
giả
Viễn
Châu,
được
TS
Huỳnh
Công
Tín
tuyển
chọn,
chú
giải
và
NXB
Chính
trị
Quốc
gia
vừa
ấn
hành
(tháng
8.2015).
Công
trình
này
được
Trường
ĐH
Quốc
gia
TP.HCM
tài
trợ,
in
1.200
bản,
sách
dày
gần
400
trang,
giá
bìa
95.000
đồng.
NSND
Viễn
Châu
năm
nay
91
tuổi,
tên
thật
là
Huỳnh
Bá
Trí,
quê
Đôn
Châu,
Trà
Cú,
Trà
Vinh.
Là
danh
cầm
đàn
tranh
và
là
soạn
giả
cải
lương
danh
tiếng
của
Việt
Nam,
soạn
giả
Viễn
Châu
cho
biết
ý
kiến
về
cuốn
sách
này:
“Tôi
rất
vui
mừng
vì
Ban
biên
tập
đã
chuẩn
bị
bản
thảo
hết
sức
công
phu
và
chính
xác,
đúng
với
nội
dung
gốc
của
người
sáng
tác”.
Phần
mình,
NXB
hy
vọng
“cuốn
sách
đáp
ứng
được
yêu
cầu
của
đông
đảo
giới
đam
mê
ca
cổ,
tránh
hiện
tượng
“tam
sao
thất
bản”
làm
mất
đi
vẻ
đẹp
trong
sáng
của
ca
từ”.
NXB
cho
rằng
phần
chú
giải
của
người
tuyển
chọn
“sẽ
giúp
độc
giả
hiểu
chính
xác
hơn
nội
dung
bài
ca
và
khả
năng
dùng
từ
hết
sức
tài
hoa
mang
đặc
trưng
Nam
bộ
của
tác
giả”.
NXB
kỳ
vọng
cuốn
sách
này
“còn
là
một
công
trình
giúp
cho
giới
nghiên
cứu
và
sinh
viên
làm
cơ
sở
nghiên
cứu
về
bộ
môn
nghệ
thuật
cải
lương
và
soạn
giả
Viễn
Châu”.
100
bài
vọng
cổ
trong
sách
được
chia
thành
4
phần:
ca
cổ
lịch
sử,
ca
cổ
tâm
lý
xã
hội,
tân
cổ
giao
duyên,
ca
cổ
hài.
Xin
kể
tên
một
số
bài
mà
nhiều
người
mê
vọng
cổ
xưa
nay
đã
thuộc
lòng: Bạch
Thu
Hà,
Chúc
Anh
Đài,
Chút
tình
Dạ
cổ
hoài
lang,
Hạng
Võ
biệt
Ngu
Cơ,
Hận
Kinh
Kha,
Lòng
dạ
đàn
bà,
Phạm
Lãi
biệt
Tây
Thi,
Tâm
sự
Mộng
Cầm,
Tình
Lan
và
Điệp,
Tôn
Tẩn
giả
điên,
Võ
Đông
Sơ,
Bông
ô
môi,
Lá
trầu
xanh,
Gánh
nước
đêm
trăng,
Sầu
vương
ý
nhạc,
Tiếng
độc
huyền
cầm
trên
bắc
Cần
Thơ,
Tình
anh
bán
chiếu,
Tu
là
cội
phúc,
Ai
cho
tôi
tình
yêu,
Ai
xuôi
vạn
lý,
Áo
em
chưa
mặc
một
lần,
Đêm
tàn
bến
Ngự,
Lối
về
xóm
nhỏ,
Tâm
sự
Văn
Hường,
Sợ
vợ,
Tứ
đổ
tường,
Vợ
tui
đẹp
ác…
Là
người
chuyên
nghiên
cứu
văn
hóa
Nam
bộ,
TS
Huỳnh
Công
Tín
đã
dụng
công
chú
giải
nhiều
ca
từ
có
gốc
phương
ngôn
Nam
bộ
trong
những
bài
vọng
cổ
này.
Thí
dụ
với
bài
Bức
thư
Tư
Ếch,
ông
giải
nghĩa
“Tía:
cách
xưng
gọi
người
cha
theo
thói
quen
khá
phổ
biến
của
người
Nam
bộ
xưa”;
“Cao
bồi:
mượn
từ
chữ
“cowboy”
(coi
bò),
ý
chỉ
người
nam
ăn
mặc,
sinh
hoạt
“bụi
đời,
giang
hồ”
theo
phong
cách
của
người
cowboy
miền
Tây
nước
Mỹ”.
Hoặc
với
bài
Bạch
Thu
Hà,
ông
giải
nghĩa
nhiều
ca
từ
có
điển
tích
và
đã
từ
phương
Bắc
theo
chân
tiền
nhân
ta
đi
mở
đất
phương
Nam;
tỉ
như:
“Uyên
ương:
là
đôi
chim
(vịt)
phổ
biến
vùng
châu
Á,
mà
con
trống
(còn
gọi
là
uyên)
có
bộ
lông
sặc
sỡ
khó
nhầm
lẫn
và
con
mái
(còn
gọi
là
ương)
với
vành
khuyên
màu
trắng
quanh
mắt,
lúc
nào
chúng
cũng
đi
đôi
bên
nhau.
Nghĩa
khái
quát
của
từ
là
“vợ
chồng”,
được
xem
như
biểu
tượng
của
hạnh
phúc
và
lòng
thủy
chung
trong
hôn
nhân”.
Chỉ
tiếc,
tròn
100
bài
vọng
cổ
đặc
sắc
của
soạn
giả
Viễn
Châu
chủ
yếu
được
viết
trước
năm
1975
trong
sách
này,
không
thấy
có
bài
nào
được
chú
thích
về
thời
gian
và
địa
điểm
sáng
tác.
Thanh
Kim
Ý kiến bạn đọc