Cố
soạn
giả
Ngọc
Linh
với
một
cấu
trúc
đẹp
trong
vở
Muôn
Dặm
Vì
Chồng
Thời
hoàng
kim
nhất
của
sân
khấu
cải
lương
là
giai
đoạn
mười
lăm
năm
sau
75
(1975
-
1990),
sân
khấu
phía
Nam
nói
chung
và
Tp.HCM
nói
riêng
rực
rỡ
với
biết
bao
vở
diễn
đã
làm
nức
lòng
người.
Thông
qua
hình
ảnh
các
nhân
vật
mà
biết
bao
nghệ
sĩ
tài
danh
đã
thăng
hoa
từ
dạo
ấy,
nhiều
soạn
giả
và
đạo
diễn
tuy
đứng
trong
cánh
gà
sân
khấu,
nhưng
tên
tuổi
vẫn
sáng
chói,
bởi
nhiều
tác
phẩm
đến
hôm
nay
vẫn
còn
dấu
ấn
trong
lòng
công
chúng.
Vở
cải
lương
lịch
sử
“Muôn
dặm
vì
chồng”
của
cố
nhà
văn
-
soạn
giả
Ngọc
Linh
đã
góp
phần
không
nhỏ
dệt
đẹp
sắc
màu
trên
sân
khấu
Văn
Công
TP
một
thời
vang
bóng.
Là
vở
cải
lương
đề
tài
lịch
sử,
thể
tài
bi
lạc
quan,
là
một
trong
bốn
vở
thành
công
của
ông
Ngọc
Linh
ở
đề
tài
này,
mà
ông
đã
viết
từ
năm
1980
–
1987.
Riêng
“Muôn
dặm
vì
chồng”
tác
giả
đã
nhấn
mạnh
ở
lớp
bà
Nguyễn
Thị
Tồn
vượt
suối
trèo
non
ngàn
dặm,
để
đến
kinh
kêu
oan
cho
chồng
là
Bùi
Hữu
Nghĩa
(quan
tri
phủ
Trà
Vang
-
tỉnh
Vĩnh
Long).
Lớp
diễn
Bà
Tồn
gặp
Quan
Bộ
lại
Thượng
Thư
có
thể
xem
là
lớp
hay
nhất
trong
vở,
được
công
chúng
nhớ
đến
nhiều
nhất,
cũng
là
lớp
đẩy
cao
trào
kịch
lên
đến
đỉnh
điểm
và
chuyên
chở
toàn
bộ
chủ
đề
tư
tưởng
của
vở
diễn.
Sự
thành
công
trước
tiên
là
tác
giả
đã
hoàn
chỉnh
các
yếu
tố
xây
dựng
kịch
bản,
với
cơ
bản
đó
vở
diễn
không
chỉ
kéo
dài
tuổi
thọ
một
thời
trên
sân
khấu
Văn
Công,
mà
còn
tiếp
tục
ghi
những
chiến
công
sau
này:
HCV
(đài
TH
TPHCM),
Liên
hoan
sân
khấu
truyền
hình
toàn
quốc
(1990),
huy
chương
bạc
(đài
TH
Đồng
Nai),
Liên
hoan
sân
khấu
truyền
hình
toàn
quốc
(1998)...Cái
hay
của
lớp
này,
ngoài
thủ
thuật
biên
kịch,
xây
dựng
tâm
trạng
nhân
vật
ở
hoàn
cảnh
bi
kịch
cao
trào,
tác
giả
còn
chọn
giai
điệu
âm
nhạc
cấu
trúc
rất
độc
đáo.
Lớp
này
nằm
ở
cảnh
4
của
vở,
chỉ
gói
gọn
trong
2
điệu:
Ngựa
ô
Bắc,
lớp
Xế
xảng
và
2
câu
vọng
cổ
(5
và
6).
Điệu
Ngựa
ô
Bắc
là
bản
vắn
nằm
trong
nhóm
bài
bản
cải
lương,
nhưng
mang
âm
điệu
của
hơi
Bắc,
có
ba
“mô”
và
nhiều
nhịp
ngoại.
Có
tính
chất
mạnh
mẽ
và
gay
gắt,
thường
dùng
trong
những
tình
huống
tâm
lý
nhân
vật
bị
ức
chế
hoặc
lúc
tự
phụ
kêu
căng,
nhưng
lại
tự
sự
để
phân
trần
tâm
sự.
Lúc
này
Thạch
Loan
đè
nén
sự
uất
ức
của
mình
bênh
vực
cho
bà
Tồn,
kể
lại
cho
quan
Thượng
thư
nghe
về
việc
Bá
Hộ
Vinh,
cha
con
Bố
Chánh
Truyện
đàn
áp
dân
lành,
đút
lót
cho
Trương
Văn
Quyển
và
tổng
đốc
Vĩnh
Long
..Xế
Xảng
và
lớp
ngắn
(3
câu)
trong
bản
Văn
Thiên
Tường,
là
bài
bản
nằm
trong
điệu
thức
oán
nhưng
là
oán
phụ,
tính
chất
của
nó
bi,
thường
được
sử
dụng
trong
hoàn
cảnh
nhân
vật
có
tâm
trạng
bức
xúc
bi
thương,
để
than
vãn
và
kể
lể...lúc
mà
quan
Thượng
thư
như
không
còn
cách
chi
giúp
bà
Tồn
,
vì
một
chút
lòng
nhân
an
ủi
bà,
quan
Thượng
thư
ban
bố
cho
bà
ít
tiền
để
làm
lộ
phí
trở
về
Nam.
Bấy
giờ
bà
Tồn
(NS
Mỹ
Châu)
nghẹn
ngào,
dồn
nén
đau
thương
tột
cùng
than
thở
trong
tuyệt
vòng
,
Mỹ
Châu
ém
hơi
nói
đứt
quãng
“Đại
nhân....trời
ơi...ơi
hỡi...phu
quân
ơi...”,
tức
là
kéo
nhỏ
giọng
ngân
hơi
rồi
nhấn
chữ
“cống”
của
Xế
xảng
(ơi
hỡi),
nghe
bi
thương
não
ruột,
khiến
tâm
trạng
người
kiến
diện
phải
mền
lòng...Tác
giả
kịch
bản
đã
đưa
Xế
Xảng
lúc
này
thật
là
tuyệt
vời.
Bà
Tồn
không
nhận
tiền
ban
bố
của
quan
Thượng
Thư,
thái
độ
của
bà
đã
làm
cho
quan
sững
sờ
“ta
thật
lòng
muốn
giúp
phu
nhân
mà.
Phu
nhân
còn
muốn
gì
nữa?”.
Bà
Tồn
tiếp
tục
tự
sự
than
vãn
để
minh
oan
bằng
lời
lẽ
đầy
thuyết
phục
qua
2
câu
vọng
cổ
5
và
6,
vọng
cổ
là
hơi
Nam
–
oán
nhưng
lại
rộng
đường
tự
sự
ở
các
tính
cách
:
hỉ
-
nộ
-
ái
-
ố...nó
hoàn
cảnh
vào
tình
cảnh
kịch
và
ngôn
ngữ
của
tác
giả
,
điều
đó
đã
được
ông
Ngọc
Linh
dồn
tâm
tình
của
mình
vào
nhân
vật
để
nhấn
ở
lớp
này,
làm
cho
phẩm
giá
chịu
thương
chịu
khó
của
người
phụ
nữ
Nam
Bộ
qua
hình
ảnh
nhân
vật
Nguyễn
Thị
Tồn
trở
nên
tiêu
biểu
hơn.
Ông
Ngọc
Linh
không
phải
là
nhạc
sĩ
cải
lương
,
cũng
không
xuất
thân
từ
giới
nhạc
tài
tử,
ông
là
nhà
văn
chuyên
viết
tiểu
thuyết
và
ký
giả
kịch
trường
từ
những
năm
của
thập
niên
50,
sau
đó
viết
kịch
bản
cho
kịch
nói,
phim
truyện
và
ông
cũng
tự
học
hỏi
để
viết
cải
lương...Ở
loại
hình
nào
ông
cũng
đã
để
lại
khá
nhiều
tác
phẩm
giá
trị,
điều
này
NSND
-
đạo
diễn
Huỳnh
Nga
đã
nói
“
Tác
phẩm
của
Ngọc
Linh
luôn
mang
tính
hấp
dẫn
và
tuổi
thọ
kéo
dài,
có
khi
trên
mấy
chục
năm.
Ngoài
tính
chân
thật
vốn
có
của
tác
phẩm,
kỹ
thuật
viết
tiểu
thuyết
và
viết
kịch
bản
sân
khấu
của
anh
đã
đạt
đến
một
trình
độ
khá
cao”.
Ở
ông
có
thể
thấy
vốn
sống
phong
phú
từ
cuộc
sống
từng
trải
với
nghề
với
đời,
sinh
ra
ở
miền
Tây
(Cà
Mau),
học
hành
ở
Vĩnh
Long,
làm
nghề
ở
Sài
Gòn
,
đặc
biệt
là
tiếp
cận
với
nhiều
thế
hệ
nghệ
sĩ
tài
danh
...tức
là
đã
sống
trong
nghề.
Chính
lớp
này
như
thế,
từ
điệu
Ngựa
Ô
Bắc
gây
xung
đột
để
phát
triển
đến
cao
trào
ở
lớp
Xế
Xảng
đầy
nổi
bức
xúc
ngổn
ngang
của
nhân
vật,
tạo
tình
huống
cho
NS
Mỹ
Châu
vô
hai
câu
vọng
cổ
ngọt
ngào,
vừa
bộc
lộ
nổi
niềm
của
bà
Tồn,
lại
vừa
thích
hợp
với
giọng
buồn
buồn
“Dây
xề
đậy”
riêng
biệt
của
NS
Mỹ
Châu,
các
yếu
tố
nghệ
thuật
được
nhuận
sắc
đậm
chất
ca
–
kịch.
ĐỖ
DŨNG
Ý kiến bạn đọc