Tuồng
truyền
thống
là
cơ
sở
nền
tảng
của
sân
khấu
tuồng,
song
để
phát
huy
được
các
giá
trị
truyền
thống,
đòi
hỏi
người
sáng
tác
và
dàn
dựng
các
vở
diễn
phải
am
hiểu
thấu
đáo
và
sử
dụng
thành
thục
ngôn
ngữ
của
loại
hình
nghệ
thuật
này.
Vấn
đề
bảo
tồn
cần
được
hiểu
chính
xác
từ
nội
hàm
của
nó,
và
phục
dựng
tuồng
cổ
có
thể
trung
thành
nguyên
dạng
hoặc
có
sự
can
thiệp
nhất
định
để
chỉnh
lý
kịch
bản,
cải
biên
trong
dàn
dựng,
biểu
diễn
cho
phù
hợp
đương
đại.
Tuy
nhiên,
việc
cải
biên
không
được
phép
tùy
tiện,
làm
thay
đổi
những
đặc
trưng
của
tuồng,
gây
phản
cảm
cho
công
chúng.
Điều
đó
có
nghĩa,
phải
ý
thức
được
giới
hạn
của
chỉnh
lý
và
cải
biên
để
không
phá
vỡ
diện
mạo
và
hồn
vía
của
nguyên
bản.
Vấn
đề
bảo
tồn
đối
với
sân
khấu
tuồng
không
giống
như
bảo
tồn
cổ
vật
dưới
dạng
vật
thể,
mà
là
hoạt
động
sống
động
thông
qua
người
nghệ
sĩ,
để
những
vở
tuồng
truyền
thống,
những
hình
tượng
nhân
vật
được
tái
hiện
như
trong
hoàn
cảnh
lịch
sử
mà
nó
đã
ra
đời.
Như
vậy,
việc
bảo
tồn
tuồng
truyền
thống
đòi
hỏi
sự
đầu
tư
công
phu,
lâu
dài,
không
hề
đơn
giản,
cấp
thời
và
thuộc
công
việc
thường
xuyên
của
các
đơn
vị
nghệ
thuật
tuồng
chuyên
nghiệp,
đồng
thời
gắn
liền
công
tác
nghiên
cứu
lý
luận,
quảng
bá
giới
thiệu
tinh
hoa
tuồng
đến
với
công
chúng,
đưa
tuồng
đến
thế
hệ
trẻ
thông
qua
dự
án
sân
khấu
học
đường,
với
hoạt
động
biểu
diễn
phục
vụ
du
lịch,
cũng
như
gắn
nó
với
công
tác
đào
tạo
đội
ngũ
diễn
viên
trẻ...
Nghệ
sĩ
Kiều
Oanh
(Nhà
hát
Tuồng
Việt
Nam)
trong
trích
đoạn
Ông
già
cõng
vợ
đi
hội.
Sân
khấu
tuồng
truyền
thống
được
duy
trì
và
tái
hiện
trước
khán
giả
không
như
một
thực
thể
trừu
tượng
hoặc
chỉ
được
trình
bày,
diễn
giải
một
cách
gián
tiếp
qua
các
công
trình
nghiên
cứu
lý
luận.
Mặc
dù
điều
này
là
cần
thiết
trong
quá
trình
nâng
cao
nhận
thức
của
người
xem
đối
với
di
sản
quá
khứ,
cũng
như
góp
phần
giáo
dục
thị
hiếu
thẩm
mỹ,
nhằm
chuẩn
bị
tri
thức
và
tâm
thế
cho
công
chúng,
nhất
là
giới
trẻ
làm
quen
với
tuồng.
Điều
này
đặt
ra
tầm
quan
trọng
của
công
tác
đào
tạo
nghệ
sĩ
trẻ
chuyên
nghiệp
và
chuyên
sâu,
để
di
sản
tuồng
truyền
thống
không
bị
đứt
gẫy
và
được
duy
trì
qua
các
thế
hệ
nghệ
sĩ.
Công
việc
này
gần
giống
khâu
chuyển
giao
công
nghệ,
nhưng
tinh
tế
và
phức
tạp
hơn.
Kinh
nghiệm
của
sân
khấu
tuồng
truyền
thống
rất
cần
sự
chuyên
sâu
của
từng
nghệ
sĩ,
diễn
viên
với
những
vai
diễn
phù
hợp
và
tương
thích
sở
trường
của
từng
người.
Trong
khi
đó,
ở
các
đoàn
nghệ
thuật
tuồng
hiện
nay
lại
phổ
biến
hiện
tượng
một
diễn
viên
được
đóng
nhiều
vai,
nhiều
loại
nhân
vật
khác
nhau,
dẫn
đến
tình
trạng
diễn
xuất
nhân
vật
nào
cũng
nửa
vời,
không
gây
ấn
tượng
mạnh.
Đáng
quan
ngại
hơn,
số
diễn
viên
trẻ
trong
các
đoàn
tuồng
không
nắm
vững
nhiều
làn
điệu
tuồng
cổ
và
lúng
túng
khi
thực
hiện
những
động
tác
hình
thể
phức
tạp,
nhất
là
những
trình
thức
gắn
liền
với
từng
loại
vai
trong
những
khoảnh
khắc
có
kịch
tính
cao,
như
động
tác
lăn,
bê,
xiến,...
Nhiều
diễn
viên
trẻ
chỉ
cố
gắng
bắt
chước
một
cách
thụ
động,
thiếu
tự
nhiên
và
vô
cảm.
Vì
thế,
không
tạo
được
sức
truyền
cảm
sâu
đậm
tới
người
xem.
Đó
cũng
là
lý
do
khiến
khán
giả
hôm
nay
ngày
càng
xa
rời
sân
khấu
tuồng,
vì
không
tìm
thấy
ở
đó
chất
tuồng
đích
thực,
với
những
lớp
diễn
đầy
tính
biểu
tượng
và
mang
tính
tạo
hình
đặc
sắc
vốn
đầy
ắp
trong
tuồng
truyền
thống,
như
ở
những
trích
đoạn
nổi
tiếng: Hồ
Nguyệt
Cô
hóa
cáo,
Trấu
Sáng
qua
song,
Hoàng
Phi
Hổ
qua
cửa
ải,
Đổng
Mẫu
Thượng
Thành,
Châu
Xương
cấy
râu,
Trương
Phi
xướng
rượu...
Qua
dẫn
giải
trên,
có
thể
thấy
công
việc
bảo
tồn
tuồng
truyền
thống
không
thể
tách
rời
các
khâu
hữu
quan
khác,
để
chỉ
được
xem
như
hoạt
động
mang
tính
nội
bộ
của
từng
đơn
vị
nghệ
thuật
tuồng.
Bảo
tồn
sân
khấu
tuồng
truyền
thống
đã
và
đang
động
chạm
đến
hàng
loạt
vấn
đề
thiết
thân
khác,
liên
quan
sự
tồn
tại
của
tuồng
cũng
như
sự
trụ
lại
của
từng
đơn
vị
nghệ
thuật
trong
đời
sống
sân
khấu
hiện
nay.
Đã
đến
lúc,
phải
đưa
nhiệm
vụ
bảo
tồn
tuồng
nằm
trong
chiến
lược
phát
triển
của
các
loại
hình
sân
khấu
truyền
thống
nói
chung,
đáp
ứng
nhu
cầu
của
thẩm
mỹ
sân
khấu
hiện
đại.
Ý kiến bạn đọc