1.
Trang
báo
kịch
trường
của
tờ
báo
này
đã
điểm
qua
10
đại
ban
đáng
mặt
anh
hào
như
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga,
Dạ
Lý
Hương,
Hương
Mùa
Thu,
Kim
Chưởng,
Kim
Chung,
Trăng
Mùa
Thu,
Phước
Chung,
Thế
hệ
Dũng
Thanh
Lâm,
Sao
Ngàn
Phương,
Ánh
Chiêu
Dương.
Chỉ
trong
năm
1966,
các
ban
đã
dựng
80
vở
cải
lương,
đa
số
là
tuồng
hương
xa,
kiếm
hiệp,
chỉ
có
12
vở
có
đề
tài
xã
hội,
như:
Con
cò
trắng
(kịch
bản
Thu
An,
đoàn
Hương
Mùa
Thu),
Nắng
sớm
mưa
chiều
(kịch
bản
Ngọc
Linh,
Cô
Nguyệt
phóng
tác,
đoàn
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga),
Nước
biển
mưa
nguồn
(kịch
bản
Năm
Châu,
đoàn
Ánh
Chiêu
Dương),
Tuyệt
tình
ca
2
(kịch
bản
Hoa
Phượng,
đoàn
Dạ
Lý
Hương),
Sau
bóng
hậu
trường
(tức
Sân
khấu
về
khuya,
kịch
bản
Năm
Châu,
đoàn
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga)...
Nhận
định
số
lượng
tuồng
xã
hội
hiếm
hoi,
tờ
báo
viết:
“Ôi,
tuồng
hay,
tuồng
đậm
đà
dân
tộc
tính
sao
mà
quá
ít
ỏi.
Mà
hầu
hết
tuồng
đều
mang
hình
thức
tận…
Tàu,
Nhựt,
Ai,
Hồi...
Tuy
nhiên
vẫn
còn
an
ủi,
đáng
mừng
là
nội
dung
tuồng
vẫn
khá
lành
mạnh,
đề
cao
lòng
yêu
nước,
ca
ngợi
những
đức
tính
anh
hùng,
chung
thủy
và
đả
phá
cường
bạo,
tàn
ác,
phản
trắc
gian
tà…”.
Bù
lại,
mức
độ
ăn
khách
của
các
tuồng
xã
hội
vẫn
tương
đối
mạnh
hơn
các
loại
tuồng
khác.
Trong
đó
có
2
vở
được
báo
chí
và
khán
giả
khen
ngợi
là
Con
cò
trắng
(của
Thu
An,
đoàn
Hương
Mùa
Thu)
vì
thể
hiện
được
hình
ảnh
quê
hương,
tình
mẹ,
đức
tính
thủy
chung
của
vợ
hiền.
Riêng
vở
Bọt
biển
(của
Nguyễn
Long,
Nguyễn
Phương
-
đoàn
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga)
có
vẻ
“nóng
sốt”,
xoáy
mạnh
vào
vết
thương
thời
đại
của
của
dân
tộc
và
xứ
sở
ta:
Nạn
lấy
ngoại
kiều,
tâm
lý
tham
tiền,
thích
vật
chất
đến
mức
đạp
lên
đạo
lý
và
nền
nếp
sinh
hoạt
truyền
thống
Việt
Nam.
Đề
cập
đến
những
vở
tuồng
xã
hội
của
thập
niên
này,
người
mê
cải
lương
không
thể
không
nhớ
đến
những
Nửa
đời
hương
phấn,
Thảm
kịch
tuổi
xanh,
Con
gái
chị
Hằng,
Tần
nương
thất,
Sông
dài,
Rồi
hai
mươi
năm
sau…
Khán
giả
mê
tuồng
xã
hội
vì
tính
thời
đại,
mạnh
tay
mổ
xẻ
những
“ung
nhọt”
của
xã
hội
lúc
ấy,
khai
thác
tình
tiết
từ
cuộc
sống
phong
phú
của
đại
đa
số
người
lao
động.
Mỗi
đoàn
cải
lương
khai
thác
vốn
mạnh
của
mình,
như
đoàn
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga
khai
thác
mảng
tâm
lý
xã
hội,
gia
đình;
đoàn
Kim
Chung
chuyên
về
tuồng
kiếm
hiệp,
diễm
tình;
đoàn
Dạ
Lý
Hương
thiên
về
đời
sống
hiện
đại;
thích
màu
sắc
hương
xa
thì
thì
đi
xem
gánh
Út
Bạch
Lan
-
Thành
Được,
Thống
Nhứt,
Kim
Chưởng…
2.
Rồi
vào
thời
kỳ
truyện
chưởng
của
Kim
Dung
thịnh
hành
cũng
làm
rộn
ràng
sân
khấu
cải
lương.
Nào
là
Cô
gái
Đồ
Long
với
Kim
mao
sư
vương
Tạ
Tốn
đã
đem
lại
cho
Thanh
Sang
huy
chương
vàng
giải
Thanh
Tâm.
Trên
các
sân
khấu,
nghệ
sĩ
đua
nhau
đánh
chưởng
xịt
ra
bột,
rồi
xịt
ra
điện
từ
hai
lòng
bàn
tay.
Mỗi
lần
phi
thân,
vị
đại
hiệp
bay
vèo
vèo
trên
sân
khấu
đã
đem
lại
sự
mới
lạ
cho
cải
lương.
Trước
xu
thế
đó,
các
ông
bà
bầu
đã
buộc
các
soạn
giả
thường
trực
phải
sáng
tác
ngay
những
kịch
bản
cải
lương
ăn
theo
trào
lưu
kiếm
hiệp.
Các
đại
ban
cũng
tìm
cách
cách
tân
sân
khấu
như
đoàn
Hương
Mùa
Thu
thực
hiện
sân
khấu
Panorama;
đoàn
Thủ
Đô
dựng
sân
khấu
hoành
tráng,
sàn
diễn
mở
rộng
từ
8
-
12m
qua
các
vở
Tiếng
trống
sang
canh,
Cây
quạt
lụa
hồng,
Chiếc
áo
ân
tình…
Những
đại
ban
hay
trung
ban
luôn
nuôi
1-2
soạn
giả
thường
trực
chuyên
viết
tuồng
theo
lối
“đo
ni
đóng
giày”
cho
nghệ
sĩ
của
đoàn.
Bỏ
qua
hết
những
tên
tuổi
“ầu
ơ
ví
dầu”
thì
sân
khấu
cải
lương
giai
đoạn
này
không
thể
quên
những
Hà
Triều
-
Hoa
Phượng,
Mộc
Linh,
Thiếu
Linh,
Quy
Sắc,
Mai
Quân,
Ngọc
Huyền
Quân,
Viễn
Châu,
Thái
Thụy
Phong,
Nhị
Kiều,
Tám
Vân,
Thu
An,
Yên
Sơn,
Yên
Ba,
3.
Sân
khấu
cải
lương
Sài
Gòn
bắt
đầu
có
dấu
hiệu
tuột
dốc
từ
sau
năm
1968.
Tình
hình
chiến
sự
lan
rộng,
giờ
giới
nghiêm
quá
sớm,
vật
giá
leo
thang,
các
rạp
hát
ở
đô
thành
-
Chợ
Lớn
đều
bị
các
công
ty
điện
ảnh
thao
túng.
Tại
Sài
Gòn
chỉ
còn
2
rạp
Quốc
Thanh
và
Olympic
là
dành
cho
cải
lương,
còn
tất
cả
đều
xoay
ra
chiếu
bóng.
Nhiều
đoàn
cố
bươn
chải
về
nông
thôn
nhưng
không
nơi
nào
có
đông
khán
giả
đi
xem
hát,
một
là
vì
tình
hình
an
ninh
cầm
chân
họ
tại
nhà,
hai
là
họ
không
đủ
sống
vì
giá
sinh
hoạt
lên
cao.
Đoàn
Dạ
Lý
Hương
rã
gánh,
đoàn
Hương
Mùa
Thu
chỉ
tập
trung
thu
hình
phát
tivi
để
sống
qua
ngày.
Đoàn
Thanh
Minh
cho
kép
Hữu
Phước
thuê
“xác
gánh”
lập
ra
gánh
Thanh
Minh
-
Hương
Lan.
Không
diễn
ở
Sài
Gòn
nổi,
đoàn
Thanh
Minh
-
Hương
Lan
phải
xuống
Gò
Công
để
khai
trương
bảng
hiệu,
nhưng
chỉ
vài
tháng
sau
phải
trả
“xác
gánh”
lại
cho
bà
bầu
Thơ.
Cuối
năm
1972,
đoàn
Bạch
Tuyết
-
Hùng
Cường
ra
đời
nhưng
cũng
chẳng
chịu
nổi
“phong
ba
bão
táp”
nên
không
đầy
1
năm
sau
thì
dẹp
tiệm.
Báo
Phụ
nữ
ngày
mai
đã
nhận
định
về
tình
hình
của
các
đại
ban
như
sau:
“Các
rạp
hát
có
đoàn
trình
diễn
như
Quốc
Thanh
(đoàn
Thái
Dương),
Olympic
(Kim
Chung)
đã
không
thể
kéo
màn
hát
lúc
8
giờ
đêm
khi
mà
số
khán
giả
vào
giờ
này
đến
xem
hát
chỉ
độ
50
người
đã
là
nhiều.
Tuy
là
đại
ban
quy
tụ
toàn
nghệ
sĩ
tên
tuổi,
tuồng
tích
và
tranh
cảnh
luôn
đổi
mới
nhưng
số
thu
vẫn
bị
giảm
từ
25%
-
30%.
Riêng
giới
nghệ
sĩ
cải
lương,
bữa
nào
hát
mới
lãnh
tiền,
khi
thì
lãnh
đủ,
khi
thì
phân
nửa
hoặc
1/3,
nay
họ
không
được
lãnh
một
khoản
tiền
nào.
Nghệ
sĩ
và
công
nhân
sân
khấu
đang
đứng
trước
một
tương
lai
đen
tối
chỉ
vì
chi
phí
sinh
hoạt
tăng
vọt,
người
dân
phải
thắt
lưng
buộc
bụng…”.
Không
đi
hát
được,
nên
một
số
nghệ
sĩ
cũng
phải
đổi
nghề,
tìm
phương
sinh
sống.
Các
báo
cho
biết,
cặp
vợ
chồng
Nhật
Thanh
-
Bo
Bo
Hoàng,
trước
kia hát
cho
đoàn
Minh
Cảnh
nhưng
lương
kém
quá
bèn
đưa
nhau
về
Sài
Gòn,
chạy
vốn
mua
quần
áo
cũ
rồi
chở
nhau
trên
chiếc
mobylette
ra
các
chợ
nhỏ
xung
quanh
bán
kiếm
lời.
Hề
Minh
nhận
lái
xe
hàng
với
tiền
lương
mỗi
tháng
mấy
chục
ngàn
đồng
đủ
nuôi
vợ
con.
Út
Bạch
Lan
về
sống
với
mẹ
tại
một
ngôi
đình
ở
Tân
Định,
kiếm
sống
bằng
bán
quán
cà
phê.
Tình
hình
bi
đát
của
sân
khấu
cải
lương
kéo
dài
cho
đến
sau
tháng
4-1975
mới
hồi
phục
trở
lại
thời
đêm
đêm
đèn
sáng,
đào
kép
rực
rỡ
xiêm
y,
áo
mão…


































Ý kiến bạn đọc