
Một
cảnh
trong
vở
tuồng
"Cánh
tay
Vương
Tá"
năm
2011
tại
Nhà
hát
Nghệ
thuật
Hát
bội
TPHCM
Nguồn
sankhau3mien.com
Hiện
nay
đang
là
thời
điểm
mà
hầu
hết
các
đình
làng
ở
Nam
Việt
đang
rộn
rịp
với
Lễ
Kỳ
Yên.
Thiên
hạ
rộn
rả
vui
mừng,
và
đặc
biệt
các
đình
làng
nào
có
rước
hát
bội
về
thì
lại
càng
vui
hơn.
Do
vậy
mà
trong
buổi
nói
chuyện
hôm
nay,
một
lần
nữa
tôi
nói
thêm
về
hát
bội.
“Xướng
ca
vô
loại”
Dưới
chế
độ
phong
kiến
của
triều
đình
Lê,
Trịnh
ở
Đàng
Ngoài,
nghề
đờn
ca
xướng
hát
bị
bạc
đãi,
khinh
rẻ,
bị
liệt
vào
phường
“xướng
ca
vô
loại”.
Cũng
do
bởi
là
con
của
đào
hát,
danh
sĩ
Đào
Duy
Từ
dù
tài
giỏi
văn
chương
thi
phú,
vẫn
bị
cấm
không
cho
vào
trường
thi.
Phẫn
chí
họ
Đào
bỏ
trốn
vào
Đàng
Trong,
được
Chúa
Nguyễn
trọng
dụng
giao
cho
việc
lớn,
ông
được
Nhà
Chúa
tin
cậy,
cử
trông
coi
việc
binh
cơ
ngăn
quân
Trịnh
từ
Bắc
đánh
vào.
Là
một
nhà
quân
sự,
chính
trị
tài
ba
lỗi
lạc,
họ
Đào
giúp
Chúa
Nguyễn
xây
dựng
bộ
máy
hành
chính,
quốc
phòng,
tổ
chức
hậu
phương,
xây
thành
đấp
lũy,
tóm
lại
Đào
Duy
Từ
là
bậc
khai
quốc
công
thần
của
Nhà
Nguyễn.
Đồng
thời
ông
cũng
mang
vào
Đàng
Trong
một
tài
sản
văn
hóa
quý
giá
là
nghệ
thuật
hát
tuồng,
hát
bội
và
lập
ra
đội
nhã
nhạc,
đưa
nghệ
thuật
sân
khấu
vào
lễ
nhạc
cung
đình.
Thế
nhưng,
lúc
mới
trốn
vào
Đàng
Trong
chưa
gặp
thời
vận,
Đào
Duy
Từ
phải
lang
thang
phiêu
bạt
bữa
đói
bữa
no,
phải
đi
chăn
trâu
cho
nhà
phú
hộ
đổi
lấy
miếng
ăn.
Lúc
ấy
nhà
phú
ông
có
cô
Tâm
là
con
gái
út,
cô
này
để
ý
thầm
yêu
chàng
chăn
trâu
của
nhà
mình,
nhưng
rồi
chẳng
đi
đến
đâu
hết,
bởi
phú
ông
không
chấp
nhận,
nói
rằng:
“Nó
bất
quá
chỉ
là
một
gã
chăn
trâu
mà
chớ,
nếu
tài
ba
quán
chúng
sao
không
lều
chõng
trường
thi,
mà
lại
đem
thân
trôi
nổi
xứ
người,
chịu
làm
cái
công
việc
mục
đồng
chăn
trâu
như
vậy”?
Thời
gian
sau
họ
Đào
kết
duyên
với
một
tiểu
thơ
con
nhà
quan,
và
đường
hoạn
lộ
thênh
thang
rộng
mở.
Câu
chuyện
tình
khá
lý
thú
giữa
chàng
nho
sinh
Đào
Duy
Từ
với
tiểu
thơ
Trần
Kim
Nương
con
gái
của
quan
khâm
lý
Trần
Đức
Hòa
đã
làm
cho
cha
con
phú
hộ
tiếc
ngơ
tiếc
ngẩn.
Trên
tờ
báo
Người
Việt
Xuân
Kỷ
Sửu
2009
tôi
có
viết
bài
“Mùa
Xuân
Năm
Ấy
Với
Chàng
Chăn
Trâu
Họ
Đào”
nói
về
ông
Đào
Duy
Từ,
ông
Tổ
ngành
hát
bội.
Trong
những
kỳ
tới
tôi
sẽ
có
bài
nói
về
câu
chuyện
chàng
chăn
trâu
họ
Đào.
Hát
bội
có
từ
bao
giờ?

Đại
Lễ
Kỳ
Yên
ở
Đình
Thần
Tân
Thới
-
Tỉnh
Bình
Dương.
(Ảnh
minh
họa
chụp
trước
đây)
Trên
con
đường
mở
rộng
bờ
cõi,
ông
cha
của
ta
di
cư
từ
phương
Bắc
xuống
tận
bờ
biển
phía
Nam,
mang
theo
phong
tục
tập
quán,
lễ
nghi,
đạo
đức
về
cách
ăn
nếp
ở,
nói
chung
là
văn
hóa
dân
tộc.
Âm
nhạc
và
sân
khấu,
hai
bộ
môn
nghệ
thuật
gắn
liền
với
những
khai
hoang,
lập
ấp
từ
ngày
đầu
định
canh,
định
cư
hầu
mang
lại
nguồn
vui,
nguồn
an
ủi,
nối
tiếp
từ
đời
này
sang
đời
khác.
Không
có
sử
sách
nào
ghi
chép
cụ
thể
nghệ
thuật
hát
bội
đã
xuất
hiện
ở
vùng
phía
Nam
đất
nước
chúng
ta
vào
thời
điểm
nào,
cũng
như
cách
sinh
hoạt,
biểu
diễn
tổ
chức
nhân
sự
ra
sao.
Sách
sử
xưa
chép:
Vào
thời
Chúa
Nguyễn
thứ
8,
tức
chúa
Hiếu
Vương,
Vũ
Vương
Nguyễn
Phúc
Khoát
(1739
–
1765),
người
con
trai
thứ
9
của
chúa
tên
là
Hiển
bị
bệnh
chết.
Chúa
đau
xót
cực
độ,
bèn
hạ
lệnh
cấm
dân
gian
không
được
hát
xướng
trăm
ngày.
Hết
thời
gian
buồn
thảm
ấy,
chúa
sai
hai
quan
thị
vệ
vào
đất
Trấn
Biên
(tức
Biên
Hòa
ngày
nay),
bắt
“con
hát”
(hát
bội)
đem
về
kinh
đô
Phú
Xuân,
để
biểu
diễn
cho
chúa
tiêu
khiển.
(Khi
xưa
người
ta
gọi
đào
kép
là
con
hát).
Hình
như
cậy
thế
cậy
quyền,
hách
dịch
là
thuộc
tính
của
những
kẻ
máu
mặt
dựa
kề
chúa
thượng,
cho
nên
hai
tên
thị
vệ
này
dùng
quyền
lực
nhà
vua
áp
bức
con
hát
đến
thậm
tệ.
Lúc
bấy
giờ
Đặng
Đại
Độ
làm
quan
trấn
thủ
Biên
Hòa,
nghe
tin
thị
vệ
áp
bức
dân
chúng,
trước
hết
là
con
hát
với
chứng
cớ
rành
rành,
ông
căm
tức,
bèn
ra
lệnh
bắt
hai
tên
thị
vệ
ấy
xử
chém
tại
chợ
Biên
Hòa.
Xử
xong,
ông
bàn
giao
công
việc
cho
các
quan
ở
lại
chăm
lo
việc
nước
việc
dân.
Còn
phần
ông
mặc
quần
áo
bà
ba
đeo
gông
cùm,
đi
chân
đất
từ
Trấn
Biên
về
Kinh
Đô
Phú
Xuân
chịu
tội.
Con
ông
can
rằng:
Chừng
nào
về
đến
kinh
đô
sẽ
hay,
còn
bây
giờ
cha
nên
lên
võng
mà
đi,
chuyện
gì
phải
hành
hạ
mình
như
thế?
Ông
trả
lời:
Nếu
vậy
sao
gọi
rằng
có
tội?
Thế
rồi
ông
thản
nhiên
làm
theo
ý
mình.
Từ
Biên
Hòa
đến
Kinh
Đô
Phú
Xuân,
ông
phải
đi
suốt
một
tháng
ròng
với
thân
phận
một
tội
nhân.
May
thay,
lúc
đến
kinh
đô
gặp
Chúa
Nguyễn
Phúc
Khoát,
ông
được
nghe
chúa
phán
rằng:
Ông
có
tội
gì
đâu
mà
phải
đày
đọa
mình
đến
khổ
sở
như
vậy?
Chỉ
vì
ta
buồn
phiền
mệt
nhọc,
nên
mới
bảo
chúng
nó
vào
tìm
đôi
đứa
con
hát
về
kinh
giúp
ta
tiêu
khiển,
không
dè
chúng
lại
lợi
dụng
mệnh
lệnh
của
ta
mà
giở
thói
làm
càn
nên
ông
buộc
phải
giết
chúng
là
phải.
Chúa
bèn
hạ
lệnh
mở
trói
và
mời
Đặng
Đại
Độ
hội
triều
cùng
bàn
việc
dân
việc
nước.
Qua
sự
kiện
trên,
chúng
ta
thấy
sân
khấu
hát
bội
truyền
bá
vào
đất
Trấn
Biên
khá
sớm.
Ngay
từ
đầu
thế
kỷ
18,
nơi
đây
đã
xuất
hiện
con
hát
tài
năng,
nổi
tiếng
đến
mức
chúa
Nguyễn
Phúc
Khoát
phải
cho
thị
vệ
kêu
ra
Kinh
Đô
Phú
Xuân
(trong
lúc
kinh
kỳ
không
thiếu
tài
năng).
Đến
năm
1813,
Tả
Quân
Lê
Văn
Duyệt
là
người
sanh
quán
tại
Định
Tường,
rất
thích
hát
bội.
Lãnh
chức
Tổng
Trấn
Gia
Định
Thành.
Hát
bội
vốn
đã
đâm
chồi
nẩy
lộc
từ
trước
đó
ít
lâu,
bây
giờ
như
diều
gặp
gió,
phát
dương
sinh
sắc
bởi
bàn
tay
chăm
sóc
của
chính
quan
tổng
trấn.
Chẳng
những
tổng
trấn
có
riêng
một
đội
hát
bội,
mà
các
quan
xa
gần
thuộc
trấn
Gia
Định
đều
tranh
nhau
lập
đoàn
hát
bội,
nuôi
con
hát
trong
hàng
ngũ
của
quân
đội.
Thế
là
nghệ
thuật
hát
bội
đã
lập
cứ
địa
vững
chắc
tại
Gia
Định.
Nghệ
thuật
hát
bội
ở
đất
này
có
dịp
gần
gũi
với
hí
kịch
Trung
Quốc
của
người
Minh
Hương,
và
với
nghệ
thuật
hát
của
người
Cao
Miên,
lần
lần
lớn
lên
và
trau
chuốt
cho
mình
cái
thân
ngày
nay
vậy!
Thời
thập
niên
1940,
dài
cho
đến
những
năm
đầu
của
thập
niên
1950
gánh
hát
bội
Tấn
Thành
Ban,
một
trong
những
đoàn
danh
tiếng
thời
bấy
giờ
do
ông
Huyện
Trần
Khiêm
Cung
làm
bầu
gánh.
Hằng
năm
cứ
sau
Tết
Nguyên
Đán
từ
Tháng
hai
Âm
Lịch
trở
đi
là
gánh
hát
bội
của
ông
Bầu
Cung
liên
tục
bán
giàn,
được
mời
đi
hát
cúng
Kỳ
Yên
ở
các
đình
làng
quanh
tỉnh
Gia
Định,
và
đôi
khi
cũng
đi
hát
ở
Biên
Hòa,
Thủ
Dầu
Một,
hoặc
quê
hương
của
ông
ở
Cần
Đước,
Long
An.
Khi
hết
lễ
cúng
Kỳ
Yên
rồi
thì
gánh
Bầu
Cung
đi
hát
quanh
quẩn
vùng
Chợ
Lớn,
Tân
Định,
Bà
Chiểu...
và
thường
hay
về
nằm
ở
tại
đình
Cầu
Muối
ở
đường
Cô
Giang.
Tuy
khán
giả
không
đông
đảo
như
hát
ở
đình
làng,
nhưng
đêm
nào
cũng
có
số
khán
giả
mua
vé,
nếu
không
lời
thì
cũng
đủ
sở
hụi
chi
phí
trả
lương
đào
kép,
công
nhân.
Thời
điểm
này
khán
giả
đi
coi
hát
bội
còn
nhiều,
đào
kép
có
thể
sống
với
nghề
được.
Thế
nhưng,
đến
gần
cuối
thập
niên
1950
thì
số
người
coi
hát
bội
ngày
một
giảm
sút.
Và
theo
như
nhận
định
của
những
người
am
tường
vấn
đề
thì
số
khán
giả
lớn
tuổi
lần
lượt
trước
sau
qua
đời,
hoặc
già
yếu
không
đến
rạp
được.
Còn
khán
giả
trẻ
thì
phần
lớn
đã
chuyển
sang
đi
coi
cải
lương,
để
thưởng
thức
tuồng
tích
mới
lạ,
thay
vì
coi
hát
bội
chỉ
hát
đi
hát
lại
mãi
những
tuồng
dựa
theo
truyện
Tàu.
Về
các
vở
truyền
thống
trên
sân
khấu
hát
bội,
các
nhân
vật
nam
ít
được
khán
giả
quan
tâm
hơn
các
nhân
vật
nữ.
Từ
hơn
hai
thập
niên
nay,
người
xem
không
chỉ
có
tầm
nhìn
khái
quát
về
nghệ
thuật
hát
bội,
mà
còn
đặc
biệt
theo
dõi
diễn
tiến
của
câu
chuyện,
tài
diễn
xuất
của
diễn
viên,
tính
cách
của
từng
vai,
số
phận
của
từng
nhân
vật.
Nhân
vật
được
nhiều
người
chú
ý
và
đề
cập
đến
phải
kể
là
Hồ
Nguyệt
Cô
(tuồng
Tiết
Giao
đoạt
ngọc).
Một
con
chồn
tu
mấy
trăm
năm
đắc
đạo
thành
người
(mà
là
một
phụ
nữ
đẹp),
kết
duyên
cùng
tướng
Võ
Tam
Tư.
Trong
một
dịp
thay
chồng
ra
trận,
nàng
say
mê
một
tướng
trẻ
đẹp
trai
(Tiết
Giao),
trao
tình
cùng
hắn
rồi
bị
Tiết
Giao
đoạt
mất
ngọc
người.
Không
còn
vật
quí
giá
đó,
nàng
trở
về
dinh,
vô
cùng
đau
khổ
và
hối
hận
khi
toàn
thân
đi
vào
thoái
hóa,
để
trở
về
cốt
chồn.
Võ
Tam
Tư
phát
hiện
con
vật
tanh
hôi,
vung
gươm
giết
chết!
Nền
luân
lý
của
thời
xưa
đã
khe
khắt
như
thế.
Trong
đạo
phu
thê,
người
vợ
bị
buộc
phải
tuyệt
đối
trung
thành
với
chồng,
nếu
một
phút
lỗi
lẫm,
kể
như
đánh
mất
vật
quí
nhất
của
mình
rồi
sẽ
bị
coi
như
con
vật,
không
ai
thương
tiếc.
Hồ
Nguyệt
Cô
là
một
nhân
vật
tà
phái,
một
người
có
tội
bị
trừng
phạt,
nhưng
không
ít
người
xem
(nhất
là
phụ
nữ)
đã
âm
thầm
xót
xa
thương
cảm
cho
số
phận
nàng.
Xưa
nay,
bao
nhiêu
cô
đào
hát
bội
đã
thành
công
qua
vai
này.
Ngành
Mai
Ý kiến bạn đọc