Đang
truy
cập
:
284
•Máy chủ tìm kiếm : 1
•Khách viếng thăm : 283
Hôm
nay
:
43498
Tháng
hiện
tại
:
3076148
Tổng
lượt
truy
cập
:
121344180
13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay...
Tuồng Phụng Nghi Đình, Lữ Bố lặn dưới mương
Kép
Út
Trà
Ôn
thủ
vai
Thái
Sư
Văn
Trọng
(tuồng
Trụ
Vương–Đắc
Kỹ),
anh
ca
hai
mươi
câu
vọng
cổ
“Thái
Sư
Văn
Trọng
Gián
Thập
Điều”
ca
rất
hay,
cho
đến
nay
hơn
sáu
mươi
năm
qua,
chưa
có
nghệ
sĩ
nào
ca
bài
đó
hay
bằng
Út
Trà
Ôn.
Kép
Ngọc
Thạch
thủ
vai
Quan
Công,
Kép
Văn
Lang
thủ
vai
Quan
Bình,
kép
Ba
Du
thủ
vai
Châu
Thương
trong
tuồng
Quan
Công
Phục
Huê
Dung
Đạo,
khi
cả
ba
nghệ
sĩ
này
đứng
trụ
bộ:
Quan
Công
ngồi
giữa,
Quan
Bình
ôm
ấn
tín
đứng
sau
lưng
bên
trái,
Châu
Thương
cầm
thanh
long
đao
đưa
cao,
đứng
sau
lưng
bên
mặt,
cả
ba
trụ
bộ
giống
hệt
hình
bức
tượng
mà
nhiều
người
Tàu
và
Việt
Nam
thờ
ông
Quan
Công.
Nghệ
sĩ
Ngọc
Thạch
đóng
vai
Quan
Công
thể
hiện
được
hình
tượng
nhân
vật
uy
nghi
lẫm
lẫm,
tuy
được
khán
giả
và
anh
em
đồng
nghiệp
kính
nể
nhưng
họ
tin
dị
đoan
nên
không
dám
trò
chuyện
thân
mật
với
anh.
Kép
Ba
Du
mập
mạp,
nước
da
ngăm
ngăm
đen,
miệng
rộng,
mắt
hí,
mới
nhìn
giống
như
người
Miên
nhưng
ông
là
người
Việt
sinh
trưởng
ở
Vĩnh
Long
(1904).
Kép
Ba
Du
đóng
vai
Mạnh
Lương
Bắt
Ngựa
trong
tuồng
Mộc
Quế
Anh
Dâng
Cây
thật
hay,
ông
ca
vọng
cổ
giòn
tan,
có
lúc
nhanh
như
lặt
rau,
lối
ca
chạy
đua
với
đờn.
Đờn
dứt,
tiếng
ca
của
Ba
Du
cũng
dứt,
đúng
nhịp
với
đờn
một
cách
tài
tình.
Trong
đoàn
hát,
Kép
Ba
Du
nổi
danh
qua
các
vai
Tề
Quân
(tuồng
Thôi
Tử
Thí
Tề
Quân)
vai
Mạnh
Lương
(Mộc
Quế
Anh
Dâng
Cây),
vai
Đổng
Trác
(tuồng
Phụng
Nghi
Đình)...
Nghệ
sĩ
Văn
Lang,
được
gọi
là
Sáu
Lang,
một
“kép
mặt
trắng”,
chuyên
thủ
các
vai
Lữ
Bố,
Mã
Siêu,
Triệu
Tử
Long,
Quan
Bình,
những
vai
kép
đẹp
trên
sân
khấu,
anh
ca
vọng
cổ
rất
mùi
nên
được
nữ
khán
giả
ái
mộ
nhiệt
liệt.
Hát
ở
quận
nào,
làng
nào,
anh
Sáu
Lang
cũng
được
nhiều
cô
gái
liệng
quạt
thưởng
tiền,
tặng
quà,
có
vài
cô
muốn
độc
chiếm
Lữ
Bố-Sáu
Lang.
Cũng
có
con
gái
nhà
giàu,
ăn
cắp
nữ
trang,
tiền
bạc
của
cha
mẹ,
cuốn
gói
đi
theo
Lữ
Bố-Sáu
Lang
để
dệt
mộng
ân
tình.
Hồi
đó
kép
Sáu
Lang
nổi
danh
là
kép
hát
đắt
mèo
nhứt
trong
giới
nghệ
sĩ
cải
lương.
Năm
1948,
bà
Hương
Sư
Cân,
điền
chủ
giàu
nhứt
ở
huyện
Kế
Sách,
tỉnh
Sóc
Trăng,
nhân
dịp
thâu
được
đầy
đủ
lúa
ruộng
và
trúng
mùa
quít,
mùa
cam,
bà
mua
dàn
đoàn
hát
Tiến
Hóa
của
ông
Bầu
Trương
Gia
Kỳ
Sanh
hát
một
tuần
lễ,
bảy
thứ
tuồng
Tàu
để
cho
gia
đình
bà
xem
chơi
đồng
thời
cho
những
người
giúp
việc,
những
tá
điền
trung
thành
với
gia
đình
bà
cùng
xem,
coi
như
đó
là
phần
thưởng
cuối
năm
cho
họ.
Cũng
cần
biết
trong
các
năm
1948,
1949,
1950,
chiến
tranh
Việt-Pháp
sôi
động
nhứt
là
ở
các
tỉnh
miền
Đông,
đặc
biệt
ở
vùng
núi
rừng
Tây
Ninh,
Thủ
Dầu
Một,
còn
ở
các
tỉnh
miền
Tây,
Sóc
Trăng,
Trà
Vinh,
Bạc
Liêu,
Cà
Mau,
Việt
Minh
ít
có
những
trận
đánh
lớn,
do
đó
các
đoàn
hát
cải
lương
được
nhà
cầm
quyền
Pháp
cho
phép
hát
ở
các
đình,
miếu
gần
đồn,
bót
để
dễ
dàng
kiểm
soát.
Con
trai
của
bà
Hương
Sư
Cân,
là
cậu
Hai
Hãnh,
Trưởng
Ban
Cảnh
Sát
Hội
Đồng
Xã
Nhơn
Mỹ
xin
phép
Hội
Đồng
Xã
cho
dựng
sân
khấu,
che
rạp
hát
bằng
cà
tăng
trên
sân
đình
làng,
bán
vé
cho
dân
xem
hát.
Hội
Đồng
Xã
cho
người
che
mái,
dựng
lều
làm
hàng
quán
cho
dân
mướn
để
bán
thức
ăn,
la
de,
nước
ngọt
dài
theo
mé
sông,
đối
diện
với
sân
khấu
vì
vậy
trong
bảy
ngày
đêm,
đình
làng
đông
nghẹt
dân
chúng
đi
ăn
nhậu,
vui
chơi,
xem
hát
như
những
lần
lễ
cúng
Kỳ
Yên
của
Hội
Đình.
Bà
Hương
Sư
Cân
mua
dàn
hát
lời
rất
nhiều
vì
sân
khấu
dựng
trên
sân
bãi
rộng
có
thể
chứa
vài
ngàn
khán
giả
trong
một
suất
hát
mà
đêm
hát
đầu
tiên
lại
đông
nghẹt
khán
giả.
Hôm
sau,
bà
đến
thăm
đoàn
hát,
bảo
người
chèo
ghe
khiêng
lên
cho
nghệ
sĩ
hai
giỏ
cần
xé
cam
sành
và
quít
đường
để
cho
nghệ
sĩ
tẩm
bổ,
giữ
giọng
ca
cho
thanh
trong
tuần
lễ
hát
bán
dàn
cho
bà.
Cùng
đi
với
bà
Hương
Sư
có
cô
con
gái
cưng
của
bà,
cô
Ba
Cẩm
Tú,
học
sinh
trường
dòng
La
Providense
ở
thị
xã
Sóc
Trăng.
Cô
Cẩm
Tú
học
nội
trú,
gặp
lúc
bãi
trường
nghỉ
hè
hai
tháng
cô
mới
được
mẹ
cho
đi
xem
hát.
Lần
đầu
tiên
cô
xem
tuồng
Phụng
Nghi
Đình
trong
rạp
Nguyễn
Văn
Kiểng,
tỉnh
Sóc
Trăng,
cô
đã
mê
nhân
vật
Lữ
Bố.
Hồi
đó,
ở
trường
học,
cô
Cẩm
Tú
chỉ
gặp
các
thanh
niên
là
sư
huynh
của
trường
dòng.
Những
giáo
sư
mặc
áo
dài
đen
thâm
chùng,
đầu
hói
ngắn,
vẻ
mặt
trang
nghiêm,
nói
năng
nghiêm
khắc
với
học
sinh.
Về
huyện
Kế
Sách
hoặc
đến
các
xã
Phú
Nổ,
Nhơn
Mỹ,
Đại
Ngải,...
Cẩm
Tú
chỉ
thấy
những
thanh
niên
nông
dân,
mặc
quần
bô
áo
vải,
màu
đen
hoặc
màu
trắng,
người
nào
cũng
có
nước
da
rám
nắng,
chân
dính
bùn
mốc
trắng.
Bây
giờ
đi
coi
hát
mấy
đêm
liền,
Cẩm
Tú
thấy
những
viên
tướng
Lữ
Bố,
Triệu
Tử
Long,
Mã
Siêu
mắt
xếch,
má
hồng,
môi
son,
nước
da
trắng,
nét
mặt
uy
nghi
lẫm
lẫm.
Các
viên
tướng
đó
mặc
các
bộ
giáp
màu
trắng
hay
màu
tím
than,
có
đính
“mắt
gà”
hoặc
“hột
chai”,
chiếu
sáng
lấp
lánh
muôn
màu
dưới
ánh
đèn
sân
khấu.
Cẩm
Tú
nghe
giọng
ca
mùi
và
ánh
mắt
đa
tình
của
Lữ
Bố
như
hướng
về
cô.
Hình
ảnh
tuyệt
đẹp
đó,
âm
thanh
quyến
rũ
đó
với
ánh
mắt
đa
tình
của
Lữ
Bố
theo
vào
trong
giấc
mộng
của
cô
khiến
cho
Cẩm
Tú
mơ
có
được
một
ý
trung
nhân
tài
sắc
vẹn
toàn
như
Lữ
Bố,
như
Triệu
Tử
Long.
Vì
là
con
gái
cưng
của
bà
Hương
Sư,
chủ
mua
dàn
hát,
nên
cô
Cẩm
Tú
có
thể
ra
vào
hậu
trường
một
cách
thoải
mái.
Từ
ông
bầu
đến
các
nghệ
sĩ
và
cả
những
anh
nhạc
sĩ,
người
nào
gặp
cô
Cẩm
Tú
cũng
đều
niềm
nỡ
chào
hỏi.
Các
anh
dàn
cảnh
thì
mang
ghế
lại
đặt
kế
bên
tủ
làm
tuồng
của
Lữ
Bố-Sáu
Lang
để
cho
Cẩm
Tú
nói
chuyện
với
thần
tượng
của
mình.
Bà
Hương
Sư
Cân
đang
bận
đếm
tiền
trong
phòng
bán
vé,
mỗi
đêm
hát
bà
lời
cả
chục
ngàn
đồng,
bà
vui
đến
độ
không
còn
nhớ
cô
con
gái
cưng
của
bà
hiện
đang
làm
gì,
đang
ở
đâu.
Cậu
Hai
Hãnh
Trưởng
Ban
Cảnh
Sát
lo
việc
giữ
trật
tự
an
ninh,
phòng
chống
bọn
trẻ
xé
cà
tăng
chui
vô
coi
hát
cọp.
Sau
khi
đoàn
hát
gần
hết
màn
chót,
sắp
xả
dàn
thì
Cậu
Hai
bận
ăn
nhậu
với
các
cảnh
sát
viên
và
dân
phòng,
những
người
đã
phụ
với
cậu
trong
việc
giữ
trật
tự
cho
đêm
hát,
cậu
Hai
Hãnh
cũng
không
nhớ
đến
cô
em
Cẩm
Tú
của
mình.
Lữ
Bố-
Văn
Lang
được
tự
do
tán
hưu
tán
vượn,
hết
sức
khen
cô
Cẩm
Tú
đẹp,
sang,
con
gái
nhà
giàu,
học
giỏi,
Lữ
Bố-
Văn
Lang
còn
rủ
rê
nếu
cô
Cẩm
Tú
theo
đoàn
hát
thì
với
học
lực
của
cô,
cô
có
thể
làm
thầy
tuồng
cho
gánh
hát.
Cô
Cẩm
Tú
chỉ
cần
viết
lời
đối
thoại
theo
chuyện
tuồng
mà
Văn
Lang
nghĩ
ra,
Văn
Lang
sẽ
viết
thêm
vô
bài
ca
cổ
nhạc
và
đứng
tập
tuồng.
Như
vậy,
cô
Cẩm
Tú
vừa
có
danh
thầy
tuồng,
vừa
có
tiền
bản
quyền
mà
lại
được
theo
thần
tượng
của
mình
đi
du
lịch
từ
làng
này
sang
tỉnh
nọ.
Cô
Cẩm
Tú
cao
hứng,
hứa
sẽ
nói
với
mẹ
bỏ
tiền
ra
lập
gánh
hát,
cô
sẽ
làm
chủ,
Văn
Lang
sẽ
là
kép
chánh.
Hai
người
sẽ
hợp
tác
viết
tuồng,
khi
hát
thành
công
hai
người
sẽ
chánh
thức
cưới
hỏi
nhau.
Trong
khi
Văn
Lang
và
cô
Cẩm
Tú
dệt
mộng
tương
lai,
thì
hai
người
không
ngờ
có
anh
dân
phòng
đứng
xớ
rớ
gần
đó
nghe
được.
Anh
bèn
chạy
báo
cho
cậu
Hai
Hãnh
để
lập
công.
Vì
được
nhà
binh
Pháp
và
ông
quận
trưởng
Kế
Sách
cho
phép
nên
khi
đoàn
hát
hát
ở
sân
đình
Nhơn
Mỹ,
dân
làng
tổ
chức
hàng
quán,
buôn
bán
đầy
đủ
những
thức
ăn
nổi
tiếng
của
tỉnh
Sóc
Trăng.
Người
ta
thấy
có
quán
bán
bún
mắm
nước
lèo
đặc
biệt
có
cá
lóc
nướng
với
thịt
heo
quay,
lạp
xưỡng
tươi
nổi
tiếng
của
Lỳ
Chu,
bánh
pía
và
mè
láu
Vũng
Thơm,
bánh
cống
xã
Đại
Tâm,
bò
nướng
ngói
xã
Mỹ
Xuyên,
quít
đường
Hội
đồng
Ngàn,
cam
sành
Hội
đồng
Vị,
cà
phê,
hủ
tíu,
cháo
lòng
ngon
nhứt
của
xã
Đại
Ngãi
và
đặc
biệt
rượu
đế
ngâm
rễ
ngào
của
xã
Phú
Nổ
với
nhãn
hiệu
Ba
Ông
Già
Chống
Gậy.
Ban
ngày
không
có
tập
tuồng
nên
các
nghệ
sĩ
kéo
ra
hàng
quán
ăn
nhậu
cho
thỏa
thích.
Văn
Lang,
Ba
Du
và
Ngọc
Thạch
hợp
tánh
ý
nhau
nên
ngồi
chung
bàn
ăn
bún
mắm
nhậu
rượu
đế
ngâm
rễ
ngào.
Ông
Bầu
kêu
tôi,
Trường
Xuân
và
hề
Lòng
cùng
ngồi
chung
một
bàn
ăn
bánh
xèo,
bánh
cống.
Các
nghệ
sĩ
nam
nữ
khác
cũng
chiếm
nhiều
bàn
trong
các
hàng
quán
gần
đó
ăn
uống
rất
là
vui
vẻ.
Dân
làng
cũng
đến
ăn
nhậu
rất
đông.
Có
bốn
chàng
thanh
niên
đến
trước
các
bàn
ăn
có
nghệ
sĩ
đang
ngồi,
nhìn
quanh
như
tìm
kiếm
gì
đó,
ông
Bầu
tưởng
vì
các
nghệ
sĩ
chiếm
nhiều
bàn
nên
người
địa
phương
không
có
ghế
trống
để
ngồi,
ông
nói:
Anh
em
mình
xích
lại,
ngồi
chung
một
bàn
để
nhường
chỗ
cho
các
bạn
đây...
Một
thanh
niên
vai
u
thịt
bắp
nói:
Khỏi...
khỏi,
chúng
tôi
muốn
kiếm
thằng
Lữ
Bố,
đánh
lộn
chơi!
-
Các
bạn
khéo
đùa
cho
vui
(ông
Bầu
vừa
cười
vừa
nói).
Tụi
mình
tứ
hải
giai
huynh
đệ
mà!
-
Huynh
đệ
gì
nỗi
mà
huynh
đệ?
Nó
là
cái
thằng
bá
vơ
ở
đâu
mà
tới
cái
xứ
này
muốn
chim
con
gái
nhà
giàu
hả?
Tụi
tui
kiếm
nó
đập
cho
một
trận
rồi
bẻ
gãy
cái
sừng
dê
của
nó
cho
nó
biết
dân
Kế
Sách
này
không
dễ
gì
mà
ăn
hiếp.
Anh
Văn
Lang
thấy
bộ
vó
bậm
trợn
của
bốn
tay
nông
dân
đó
nên
ngán
quá,
ngồi
cúi
gầm
mặt
xuống,
giả
vờ
ăn
bún,
đưa
cao
cái
tô
che
khuất
nửa
mặt.
Anh
Ba
Du
xô
ghế
đứng
lên:
“Nè,
anh
bạn,
đánh
lộn
ở
đây,
cảnh
sát
bắt.
Anh
nên
nhớ
là
dân
cải
lương
không
dễ
để
ai
ăn
hiếp
đâu
nhe”.
-
Dân
cải
lương
là
cái
thá
gì
mà
anh
khoe.
Tôi
chỉ
muốn
đánh
thằng
Lữ
Bố
thôi.
Nó
muốn
chim
cô
Cẩm
Tú
thì
nó
sẽ
bỏ
mạng
tại
đây.
-
Kìa,
có
sân
khấu
kìa,
các
anh
muốn
đánh
lộn
thì
lên
đó,
cảnh
sát
có
tới
thì
tưởng
là
mình
đang
tập
tuồng.
Một
mình
tôi
chấp
cả
bốn
anh.
Tôi
là
đệ
tử
của
Lữ
Bố
đây...
-
Vậy
thì
đánh
chết
mẹ
mầy...
Anh
ta
nói
xong,
chụp
cái
ghế
đẩu
đập
mạnh
vô
đầu
anh
Ba
Du.
Ba
Du
né
qua,
rồi
đưa
tay
chụp
cái
ghế
đẩu,
giựt
mạnh
một
cái.
Anh
chàng
thanh
niên
yếu
sức
hơn,
té
chúi
nhủi
tới,
Ba
Du
đấm
một
đấm
thật
mạnh
vô
ngay
giữa
mặt.
Anh
chàng
này
phun
máu
mủi
máu
miệng
đỏ
cả
áo
trắng.
Anh
Ông
Bầu
la
lên:
“Vô...
Vô...
đem
giáo
mác
gươm
đao
vô
hết.
Bộ
tụi
bay
muốn
cho
gánh
hát
rã
hay
sao
mà
vác
vũ
khí
đó
ra
đây?
Tụi
bây
không
biết
ông
Ba
Du
là
ai
hả?
Ba
Du
là
ba
của
mấy
thằng
du
côn
đó.
Hồi
gánh
Phước
Cương
hát
ở
Hà
Nội,
một
mình
anh
đánh
đám
du
côn
ở
Ngã
Tư
Sở,
tám
thằng
bể
đầu
sứt
tráng...
Tụi
nó
lạy
ảnh
xin
tha
mạng
rồi
kêu
ảnh
là
Ba...
Ông
Bầu
Cương
mới
đặt
tên
ảnh
là
Ba
Du,
tức
là
ba
của
mấy
thằng
du
côn,
chớ
tên
thiệt
của
ảnh
là
Phan
Văn
Hai”.
Ông
day
lại
nói
với
nghệ
sĩ
Ba
Du:
Anh
Ba
vô
sân
khấu,
thay
đồ
rồi
nằm
ngủ,
đừng
có
ra
đây.
Tôi
sẽ
báo
cho
bà
Hương
Sư,
chủ
mua
dàn
hát,
biết
vụ
các
anh
nông
dân
đến
đánh
nghệ
sĩ...
Nói
xong,
ông
bảo
anh
quản
lý
đi
tới
nhà
bà
Hương
Sư
liền.
Sau
khi
các
anh
dàn
cảnh,
vệ
sĩ
đem
gươm,
giáo
vô
cất,
ông
Bầu
kêu
anh
Ba
Du
lánh
mặt
vô
sân
khấu
xong,
ông
nói
với
Văn
Lang:
“Văn
Lang!
Mầy
có
thấy
cái
hậu
quả
của
cái
chuyện
chim
chuột
với
con
gái
của
địa
phương
chưa?
Cô
Cẩm
Tú
đó...
con
gái
nhà
giàu,
lại
đẹp
người
đẹp
nết,
làm
sao
mà
không
có
những
cậu
con
của
ông
hội
đồng
hay
điền
chủ
đeo
đuổi,
si
mê.
Mầy
rủ
rê
cô
ta
theo
gánh
hát
là
mầy
phá
hoại
cuộc
đời
con
gái
của
người
ta,
Tổ
nghiệp
sẽ
lấy
nghề
của
mầy
lại
thì
mầy
có
đi
ăn
mày,
cũng
không
ai
bố
thí
cho
một
đồng
xu.
Là
nghệ
sĩ,
nên
nghệ
sĩ
binh
vực
nhau,
anh
Ba
Du
đánh
tụi
nó
là
binh
vực
nghệ
sĩ
nói
chung
chớ
không
phải
ảnh
đồng
tình
với
việc
dụ
dỗ
con
gái
nhà
lành
của
mầy...”
Văn
Lang
ấp
úng,
nói:
“Ông
Bầu
thấy
đó...
tôi
hát
rồi,
mệt
muốn
xỉu,
chỉ
cần
ăn
một
tô
cháo
khuya
rồi
đi
ngủ
để
lấy
sức,
mai
hát
nữa.
Mấy
cô
cho
tiền,
tặng
quà,
tôi
phải
tiếp
chuyện
rồi
nói
đẩy
đưa
với
họ
cho
họ
vui,
chớ
tôi
có
quyến
rũ
họ
đâu...”
-
Mầy
đừng
có
chối!
Mầy
hát
trên
sân
khấu,
tao
thấy
mầy
liếc
ngang
liếc
dọc
xuống
khán
giả,
cười
tình
rồi
nhấp
nháy
con
mắt.
Mầy
đá
lông
nheo
với
mấy
cổ,
tao
cũng
hát
trên
sân
khấu
già
đời
rồi,
tao
biết:
mầy
muốn
rù
quyến
một
cô
nào
đó,
đâu
có
cần
phải
nói
ất
giáp
gì
đâu.
Con
gái
mới
lớn
lên,
nó
thương
thì
nó
liều,
nó
nhào
tới
thì
mầy
phải
tránh
xa
ra
chớ...
Cô
nào
nhào
tới,
mầy
cũng
hốt...
hốt
hết.
Coi
chừng
có
ngày
mầy
bị
đánh
ghen,
bể
đầu
chảy
máu,
có
khi
ở
tù
nghe
con!
Cậu
Hai
Hãnh
Trưởng
Ban
Cảnh
Sát
Hội
Đồng
Xã
dẫn
ba
anh
cảnh
sát
của
xã
đến.
Cậu
Hai
Hãnh
nói:
“Tôi
nghe
dân
báo
là
Lữ
Bố
đánh
dân
làng
bị
thương,
tôi
mời
kép
Lữ
Bố
về
Văn
phòng
Hội
Đồng
Xã
để
điều
tra”.
Anh
Văn
Lang:
“Dạ,
thưa
cậu
Hai...”
-
Tôi
là
Trưởng
Ban
Cảnh
Sát
Xã,
đừng
kêu
là
cậu
Hai...
Nghe
nói
anh
đánh
mấy
người
dân
làng
bị
thương,
tôi
mời
anh
về
Hội
Đồng
Xã
để
lấy
lời
khai...
-
Tui
ốm
yếu
như
vầy,
làm
sao
mà
đánh
được
một
anh
nông
dân
lực
lưỡng?
-
Về
Văn
phòng
Hội
Đồng
Xã
rồi
sẽ
nói.
Ông
Bầu
nói:
“Anh
bắt
nghệ
sĩ
của
chúng
tôi,
chúng
tôi
sẽ
khiếu
nại
lên
huyện
và
nghỉ
hát
cho
tới
khi
nào
anh
thả
kép
hát
của
tôi
ra.
Tôi
sẽ
báo
cho
bà
chủ
mua
dàn,
bà
Hương
Sư,
biết
mọi
thiệt
hại
của
bà
Hương
Sư,
mẫu
thân
của
anh,
là
do
anh
gây
ra”.
-
Tôi
mời
ông
Bầu
tới
Văn
phòng
Hội
Đồng
Xã
luôn.
Ông
ngồi
đây,
ông
phải
thấy
mọi
chuyện
xảy
ra,
ông
làm
nhơn
chứng
hay
sẽ
bị
kết
tội
là
chủ
mưu
trong
vụ
đánh
dân
làng...
Bà
Hương
Sư
nghe
báo
có
chuyện
dân
làng
đánh
nghệ
sĩ,
bà
tới
liền
thì
gặp
cậu
Hai
Hãnh
đang
muốn
bắt
ông
Bầu
và
kép
Văn
Lang
nên
can
thiệp
vô:
“Thôi
con!
Tại
con
Cẩm
Tú,
em
con
tới
nói
chuyện
với
người
ta,
chớ
người
ta
có
tới
nhà
của
mình
hay
vô
vườn
ruộng
của
mình
để
chọc
ghẹo
em
của
con
đâu.
Con
bắt
ông
Bầu
hay
nghệ
sĩ,
dư
luận
đồn
đại
ra
thì
xấu
hổ
cho
em
con
và
gia
đình
mình.
Con
cho
má
xin
đi...”
Cậu
Hai
Hãnh
thấy
bà
Hương
Sư
đến
can
thiệp,
cậu
nói:
“Được
rồi!
Nhưng
nếu
em
con
có
chuyện
gì
lôi
thôi
thì
con
không
tha
cho
họ
đâu”.
Ông
Bầu
nói
với
bà
Hương
Sư:
“Cám
ơn
bà
chủ...
Tôi
sẽ
khuyên
dạy
kép
hát
của
tôi”.
Đêm
đó
hát
tuồng
Phụng
Nghi
Đình,
kép
Văn
Lang
đóng
vai
Lữ
Bố.
Ông
Bầu
lại
dặn:
“Bữa
nay
mầy
hát
cho
đàng
hoàng,
tao
đứng
bên
cánh
gà
đây
tao
canh,
mầy
đá
lông
nheo
với
cô
Cẩm
Tú
nữa
là
mầy
chết
với
tao”.
Đêm
hát
đó,
kép
Văn
Lang
hát
đàng
hoàng
nhưng
hát
không
hay,
hát
bộ
điệu
cứng
đơ
như
hình
nộm,
vì
những
cô
gái
với
ánh
mắt
si
tình
của
họ
trợ
hứng
cho
anh
rất
nhiều,
nay
anh
hát
mà
chỉ
nhìn
vô
hậu
trường
để
canh
chừng
ông
Bầu
nên
anh
hát
xụi
lơ.
Bên
ngoài
khán
giả
vẫn
say
mê
coi
hát.
Tàu
Dân
coi
hát
túa
chạy
càng
vô
sân
khấu,
phá
nát
phông
màn
rồi
tuôn
chạy
thẳng
vô
đồng.
Có
người
nhào
xuống
mương
vườn,
có
người
nằm
mọp
xuống
đất...
Ai
đó
la
lên:
“Việt
Minh
bắn
xuống
tàu
tuần,
Tây
bắn
lại
đó...”
Nửa
giờ
sau,
dân
xem
hát
đã
bỏ
về
nhà
sau
một
trận
kinh
hoàng
vì
đạn
dưới
tàu
tuần
bắn
lên.
Có
nhiều
người
bị
thương
vì
chạy
đạp
lên
nhau
chớ
không
ai
bị
thương
vì
súng
đạn.
Gánh
hát
thì
tan
nát
như
bị
một
trận
hồng
thủy
quét
qua.
Dân
xem
hát
chạy
bừa
vô
đồng,
làm
bể
âm-pli,
dàn
đèn,
rách
phông
màn.
Kép
hát,
đào
hát
đều
nhào
xuống
mương
để
tránh
đạn.
Lữ
Bố
mang
hia,
mão,
giáp
trụ
phóng
xuống
mương,
lặn
sâu
cho
nó
ăn
toàn
cái
mạng.
Sau
đó,
lính
cảnh
sát
của
xã
và
quân
đội
của
huyện
Kế
Sách
đến,
họ
điều
tra
để
bắt
du
kích
nhưng
kết
quả
điều
tra
là
có
ai
đó
đốt
mấy
phong
pháo
điển
dọc
theo
bờ
sông
thình
lình
nên
tàu
tuần
tưởng
Việt
Minh
phục
kích
đánh
tàu.
Có
người
nghi
mấy
anh
thanh
niên
bị
anh
Ba
Du
đánh,
trả
thù
bằng
cách
đốt
pháo
gây
rối,
nên
tàu
Pháp
mới
bắn
vô
bờ,
khiến
cho
đêm
hát
tan
hoang.
Ông
Bầu
buồn
quá
vì
cơ
đồ
của
ông
tan
nát,
y
trang,
phông
màn
và
mọi
vật
dụng
đều
bị
hư
hại,
ông
nói:
“Tụi
bây
thấy
chưa?
Đi
làm
hại
đời
con
gái
của
người
ta,
Tổ
nghiệp
trừng
phạt
mình
đó”.
Gánh
hát
rã
tại
xã
Nhơn
Mỹ,
huyện
Kế
Sách,
tỉnh
Sóc
Trăng.
Các
nghệ
sĩ
thất
nghiệp,
trở
về
Sài
Gòn,
kép
Văn
Lang
cũng
không
còn
hát
được
nữa,
anh
lặn
xuống
mương
lâu,
bị
cảm
cúm,
bệnh
phổi
tái
phát,
anh
chết
không
kèn
trống
khi
nằm
trị
bịnh
trong
nhà
thương
thí
Sài
Gòn.
Nhớ
chuyện
sân
khấu
60
năm
trước.
Nguyễn
Phương,
2012
Mã
an
toàn:

13/4 đến rồi 13/4 về cũng như ngày Tết vậy, sinh nhật web lần thứ 22 của web cailuongvietnam.com lại đến, xin chúc trang web và Àdmin luôn được nhiều sức khoè. được sự tin yêu của bạn đọc và luôn là nơi dừng bước của khách mộ điệu nghệ thuật cải lương, quá khứ vàng son hay một tương lai vô định với những giấy phút tìm về, trăn trổ hướng đi, phát triển... hay chỉ thư giản thôi.
Ý kiến bạn đọc