Rạp Thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên - Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho
- Thứ hai - 10/03/2014 07:14
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Rạp hát cải lương đầu tiên ở VN chính là rạp Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Rạp Thầy Năm Tú hiện nay vẫn còn được gìn giữ ngay trung tâm TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang với tên gọi mới là rạp Tiền Giang.
Rạp Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, sau này trở thành hí viện Vĩnh Lợi và hiện nay là rạp Tiền Giang - Ảnh tư liệu
Và cũng chính tại rạp hát này, công chúng lục tỉnh Nam kỳ đã được xem vở cải lương đầu tiên vào tối 15-3-1918.
Vở cải lương đầu tiên
Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử cải lương VN, chúng tôi đọc được một số tài liệu ghi vở cải lương đầu tiên của VN trình diễn tại rạp Thầy Năm Tú có tên là Lục Vân Tiên, lại có tài liệu nói là vở Kim Vân Kiều. Ngay cả quyển Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu cải lương mới xuất bản năm 2013 của tác giả Lê Ái Siêm ở trang 58 cũng ghi: “Đêm 15-3-1918 là đêm lễ hội tưng bừng của Mỹ Tho, vở cải lương Lục Vân Tiên được công diễn. Ghe thuyền của dân lục tỉnh đặc kín sông Bảo Định. Thiên hạ đen nghẹt, xô đẩy giành nhau mua vé.
TS Võ Thị Yến (Trường ĐH Sân khấu - điện ảnh TP.HCM) nói rằng đề tài luận văn tiến sĩ của bà mới bảo vệ thành công là về lịch sử cải lương nên đã nghiên cứu rất sâu, rất kỹ. TS Yến khẳng định vở cải lương đầu tiên ra mắt ngày 15-3-1918 là chính xác. Còn đêm đó diễn vở gì thì TS Yến cho rằng: “Tuồng hát Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản được chọn làm tuồng khai trương gánh hát Thầy Năm Tú”. Thạc sĩ Nguyễn Thành Lợi (Trường CĐSP trung ương TP.HCM) nói cụ thể hơn: “Ngày 15-3-1918, ông Lê Văn Thận sang gánh hát cho ông Châu Văn Tú, gọi là gánh hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho và diễn vở Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản tại rạp Cinéma Théâtre - tức rạp Thầy Năm Tú”. Đồng tình với quan điểm này, nhạc sĩ Tấn Nhì bổ sung: “Tuồng hát Kim Vân Kiều được chọn làm tuồng khai trương đúng vào ngày sinh nhật của chủ nhân gánh hát Thầy Năm Tú Mỹ Tho là ngày 15-3-1918 tại rạp hát mang tên ông”.
Vậy vở Lục Vân Tiên diễn vào thời điểm nào? TS Võ Thị Yến cho biết vở này cũng do Trương Duy Toản dựng và diễn vào năm 1917 tại đoàn hát của André Thận, trước khi ông dựng vở Kim Vân Kiều.
Thầy André Thận ở Sa Đéc được xem là người có công trong việc phát triển loại hình ca tài tử mới là ca ra bộ, rồi cũng đi tiên phong trong việc tổ chức dựng vở tuồng mang hơi hướng cải lương sau này. Tuy nhiên do quản lý kém và ăn chơi quá trớn nên phải bán gánh hát cho thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Khi thầy Năm Tú tiếp nhận gánh hát đã tuyển thêm một số đào, kép mới và chuộc luôn các vở tuồng của thầy André Thận; mướn thợ vẽ tranh theo lối trang trí rạp hát ở Sài Gòn; may thêm nhiều trang phục biểu diễn cho đào, kép; đồng thời mời ông Trương Duy Toản về làm thầy tuồng cho gánh hát của mình. “Trương Duy Toản là soạn giả hữu danh đầu tiên của sân khấu cải lương trong thời kỳ thứ nhất (1917-1922) và là tác giả của các vở: Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều, Trang Châu mộng hồ điệp, Lưu Yến Ngọc cứu cha đại hiếu... Ông cũng là người sáng tác vở tuồng ca ra bộ đầu tiên có tên Bùi Kiệm - Nguyệt Nga, được xem là người khởi công xây dựng một sân khấu mới” - TS Yến nói.
Thầy
Năm
Tú
-
Ảnh
tư
liệu
Thầy
Năm
Tú
và
đĩa
hát
Pathé
Phono
TS
Mai
Mỹ
Duyên
nói
rằng
xưa
nay
các
tài
liệu
về
lịch
sử
cải
lương
đề
cập
đến
thầy
Năm
Tú
không
nhiều,
chủ
yếu
là
lướt
qua
vì
“người
ta
tìm
hiểu
sâu
về
đào,
kép
chứ
ít
có
ai
ghi
chép
về
các
bầu
gánh”.
Cũng
vì
vậy
mà
tài
liệu
từ
trước
đến
nay
đều
không
có
thông
tin
gì
về
năm
sinh,
năm
mất
của
thầy
Năm
Tú.
Thậm
chí
nhiều
tài
liệu
chỉ
lướt
qua
vài
dòng
rồi
chuyển
đề
tài
sang
nói
về
đào,
kép
nổi
danh
lúc
đó
như
Năm
Phỉ,
Bảy
Nam...
Tại
hội
thảo
về
cải
lương
ngày
18-1
ở
Tiền
Giang,
TS
Võ
Thị
Yến
nói
về
ông
chủ
gánh
hát
cải
lương
đầu
tiên
thế
này:
“Thầy
Năm
Tú
lập
gánh
hát
chơi
chứ
không
chú
trọng
nhiều
về
mặt
kinh
doanh
và
sống
với
anh
em
nghệ
sĩ
rất
tốt.
Ông
sắm
cho
gánh
một
chiếc
ghe
rất
lớn,
đào
kép
có
thể
ăn
ở,
tập
tuồng
ngay
trong
ghe.
Năm
1922
ông
đem
gánh
hát
lên
Sài
Gòn
biểu
diễn
tại
Chợ
Lớn.
Ông
còn
có
sáng
kiến
giới
thiệu
đào
kép
(tableau
vivant)
bằng
cách
cho
đào
kép
ra
chào
khán
giả
trước
khi
biểu
diễn”.
Thầy
Năm
Tú
cũng
có
quan
điểm
về
nghệ
danh
của
đào
kép
rất
đơn
giản
rằng
kép
hát,
đào
hát
cũng
là
người
sống
trong
giang
hồ,
nên
lấy
quy
củ
giang
hồ
mà
đặt
tên.
Để
cái
thứ
trong
gia
đình
trước
cái
tên
là
xong.
Vì
thế
ông
cũng
tự
đặt
cho
mình
cái
tên
rất
gần
gũi
là
thầy
Năm
Tú.
Khi
trò
chuyện
với
GS.TS
Trần
Văn
Khê,
chúng
tôi
được
biết
ông
là
đồng
hương
của
thầy
Năm
Tú,
tức
ở
làng
Vĩnh
Kim,
Mỹ
Tho.
GS
Khê
cho
biết
thêm
thầy
Năm
Tú
tên
thật
là
Châu
Văn
Tú,
có
người
gọi
là
Pierre
Tú
vì
ông
có
quốc
tịch
Pháp,
có
vợ
là
cô
Tám
Hảo
(em
ruột
cô
Năm
Thoàn
là
đào
hát
của
gánh
hát
thầy
Năm
Tú).
Ông
là
người
hào
hoa
phong
nhã,
cũng
là
người
Việt
đầu
tiên
mua
chiếc
xe
hơi
tại
nước
Việt.
Sau
mấy
năm
nhờ
có
rạp
hát
và
bán
đĩa
hát
hái
ra
tiền
nên
sinh
tật
xài
lớn.
Sử
sách
không
ghi
rõ
lý
do
gì
nhưng
thấy
làm
ăn
ngày
càng
sa
sút,
đến
nỗi
phải
bán
rạp
hát
cho
người
khác.
“Mặc
dù
thầy
Năm
Tú
không
phải
là
kép
hát
nhưng
có
công
xây
dựng
một
rạp
hát
đầy
đủ
phương
tiện,
là
một
cơ
ngơi
xứng
đáng
cho
những
buổi
diễn
lớn.
Ông
lại
có
công
gắn
liền
tên
gánh
hát
của
mình
vào
đĩa
hát
Pathé
Phono
và
đã
phổ
biến
lối
hát
cải
lương
đến
những
nơi
hẻo
lánh;
đồng
thời
tạo
điều
kiện
cho
những
đào,
kép
giỏi
có
chỗ
hành
nghề,
xây
dựng
tên
tuổi.
Các
nghệ
sĩ
lừng
danh
như
Tám
Danh,
Ba
Du,
Năm
Châu...
đều
coi
thầy
Năm
Tú
như
một
ân
nhân,
giúp
họ
bước
chân
vào
nghề
và
tiến
bộ
trong
nghệ
thuật
cải
lương”
-
ông
Khê
nói.
Nhà
văn
Bình
Nguyên
Lộc
nói
thêm
về
đĩa
hát
thầy
Năm
Tú:
“Lẽ
dĩ
nhiên
là
tuồng
hát
và
ban
hát
của
thầy
Năm
Tú
được
vô
đĩa
hết.
Đĩa
hát
nào
cũng
khởi
sự
bằng
câu
“Alô!
Bạn
hát
cải
lương
của
thầy
Năm
Tú
tại
Mỹ
Tho,
ca
cho
Hãng
Pathé
Phono
nghe
chơi”.
Nhớ
bạn
hát
chứ
không
phải
ban
hát,
có
dấu
nặng
dưới
chữ
a,
bạn
có
lẽ
do
bọn
mà
ra.
Văn
chương
thật
kỳ
lạ.
Tại
sao
không
hát
cho
thính
giả
toàn
quốc
nghe
mà
chỉ
hát
cho
Hãng
Pathé
Phono
nghe?
Và
văn
chương
tuồng
tích
thì...
À
thôi,
xin
không
phê
bình,
cứ
trích
thử
một
câu
để
hồn
ma
của
Hãng
Pathé
Phono
thưởng
thức
chơi:
“Than
ôi!
Cầu
ván
chung
chinh
(chông
chênh)
nhịp
bước,
còn
cái
giải
Bích
Nguyên
lai
láng
giọt
sương”.
Văn
chương
mùi
mẫn
như
vậy
nên
các
bà
các
cô
nghe
thì
mủi
lòng
rơi
lệ
hết
ráo,
vì
hay
quá
xá.
Thế
là
máy
hát
bán
chạy
như
tôm
tươi.
Dần
dần
các
đĩa
thầy
Năm
Tú
ở
Mỹ
Tho
được
đưa
vào
thôn
ổ
vài
cái
câu
khơi
mào
kỳ
khôi
ấy
được
từ
thành
thị
đến
thôn
quê
thuộc
làu
và
đọc
lên
chơi
cho
vui
miệng”.
Chuyện
về
đĩa
hát
thầy
Năm
Tú
ở
Mỹ
Tho
thời
kỳ
đó
trở
nên
rất
nổi
tiếng
khắp
ba
miền
Bắc
-
Trung
-
Nam.
Nhiều
người
Sài
Gòn
xem
thầy
Năm
Tú
như
là
một
nhân
vật,
một
sự
kiện
đặc
biệt,
đến
mức
khi
hỏi
về
vật
dụng
khác
cũng
đề
cập
đến
ông.
Chẳng
hạn:
“Cái
cà
vạt
của
anh
chắc
đã
sắm
vào
thời
thầy
Năm
Tú
phải
không?”.
Còn
cách
quảng
cáo
quê
mùa
của
Thầy
Năm
Tú
trên
đĩa
hát
kiểu
như:
“Alô!
Bạn
hát
cải
lương
của
thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ
Tho,
ca
cho
Hãng
Pathé
Phono
nghe
chơi!
Tuồng
Kỳ
duyên
tao
ngộ.
Alô!
Tăng...
tắng...
tằng...tăng/
Than
thở
than,
đất
rộng
ông
trời
dài/
Ra
vô,
lụy
ứa
châu
mày”,
thì
ông
được
xem
là
tổ
sư
của
ngành
tiếp
thị.
Đó
là
việc
ông
có
dụng
ý
bắt
hãng
đĩa
này
phải
trực
tiếp
quảng
cáo
cho
gánh
hát
của
ông,
nhờ
vậy
mà
đâu
đâu
cũng
biết
tiếng
gánh
hát
Thầy
Năm
Tú.
Nhà
thơ,
nhà
nghiên
cứu
Hoài
Anh
còn
cho
hay
thời
đó
các
nghệ
sĩ
của
gánh
hát
Thầy
Năm
Tú
được
Hãng
đĩa
Pathé
Phono
mời
thu
đĩa
đầu
tiên.
Tuy
nhiên
về
sau
do
thiếu
vốn
làm
ăn
nên
gánh
hát
Thầy
Năm
Tú
đã
tan
rã
vào
năm
1928.
Việc
sản
xuất
đĩa
cũng
bị
dừng
không
lâu
sau
đó.
Đúng như GS.TS Trần Văn Khê nói, sau sự kiện rạp hát cải lương ra đời và nghệ thuật cải lương được công chúng đón nhận nồng nhiệt thì thầy Năm Tú đã nghĩ ra cách khuếch trương tên tuổi của rạp hát mình; đồng thời truyền bá cải lương đi xa hơn. Khi đại diện Hãng đĩa hát Pathé Phono đến rạp Thầy Năm Tú xem cải lương thì họ rất hài lòng nên đồng ý ký hợp đồng với thầy Năm Tú sản xuất đĩa cải lương. Máy hát thầy Năm Tú có đặc trưng riêng là mang nhãn hiệu Con Chó; đĩa hát thì hiệu Con Gà Trống Đỏ. Đĩa hát có hai loại: phát tiếng Hoa cho người Hoa nghe và loại thứ hai phát tiếng Việt cho người VN. Do đĩa có dung lượng thấp nên mỗi tuồng cải lương phải in từ 6-12 đĩa. Lúc bấy giờ nhờ có máy hát đĩa nên nhiều người dân thuộc làu làu các bài ca mà các tài tử ca ở các gánh hát.
Thầy
Năm
Tú
ở
Mỹ-Tho
Hồi-ký
BÌNH-NGUYÊN
LỘC
Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho
thì
dính-dáng
gì
đến
mục
„Sàigòn
50
năm
trước“
?
Ấy
vậy
mà
Thầy
Tú
rất
là
ăn
chịu
với
Sàigòn,
vì
chính
Sàigòn
đã
đẻ
ra
„Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho“
Thuở
ấy
cái
máy
hát
to
bằng
cái
bàn
phấn
của
quí
cô
chớ
không
vừa
và
có
gắn
một
cái
ống
loa
mà
miệng
loa
to
bằng
cái
thúng
giạ.
Dĩa
hát
toàn
dĩa
Tây,
ta
nghe
không
hiểu
gì,
nhạc
Tây,
ta
lại
càng
không
hiểu
hơn.
Thành-thử
máy
bán
không
được.
Vài
ông
nhà
giàu
hiếm-hoi
sắm
chơi
vậy
thôi
chớ
không
phải
để
hưởng-thụ.
Có
hãng
Pathé-Phono
đem
dụng-cụ
và
chuyên-viên
từ
Pháp
sang
để
chế-tạo
dĩa
tại
chỗ,
hễ
có
dĩa
hay
rồi
thì
máy
hát
sẽ
chạy
như
tôm
tươi.
Cải-lưong
của
ta
vừa
ra
khỏi
thời-kỳ
phôi-thai,
đã
có
nhiều
ban
lắm
rồi
nhưng
danh-tiếng
nhứt
là
ban
của
Thầy
Năm
Tú.
Thầy
Năm
Tú
là
người
Mỹ-Tho
(Định-Tường)
và
các
gánh
hát
cải-lương
có
tục
để
quê-quán
của
chủ
gánh
dưới
tên
gánh
chớ
thật
ra
thì
ban
cải-lương
của
Thầy
Năm
Tú
không
phải
chỉ
diễn
ở
Mỹ-Tho
không
mà
thôi.
Nhưng
khoe
xứ
Mỹ-Tho
ra
thì
hách
một
cây,
bởi
thuở
ấy
Cần-Thơ
chưa
to
thì
cái
thành-phố
hạng
ba
VN,
sau
Sàigòn
và
Hànội
là
Mỹ-Tho
rồi,
chớ
không
còn
tỉnh
nào
hơn
được.
Ban
cải-lương
của
Thầy
Năm
Tú
nổi
danh
nhờ
tập-trung
được
nhiều
đào
kép
giỏi
mà
trội
hơn
hết
về
sau
nầy
là
kép
Năm
Châu
ngày
nay
cũng
còn
phong-độ.
Lẽ
dĩ-nhiên
là
tuồng
hát
và
bài
ca
của
ban
hát
của
Thầy
Năm
Tú
được
vô
dĩa
hết.
Dĩa
hát
nào
cũng
đều
khởi-sự
bằng
câu
nầy:
„A-lô
bạn
hát
cải-lương
của
Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho,
ca
cho
hãng
Pathé-Phono
nghe
chơi“.
Nhớ
bạn
hát
chớ
không
phải
ban
hát,
có
dấu
nặng
dưới
chữ
A,
bạn
có
lẽ
do
bọn
mà
ra.
Văn-chương
thật
là
kỳ-lạ.
Tại
sao
không
hát
cho
thính-giả
toàn-quốc
nghe
mà
chỉ
hát
cho
hãng
Pathé-Phono
nghe
?
Và
văn-chương
tuồng-tích
thì
...
à
thôi,
xin
không
phê-bình,
cứ
trích
thử
một
câu
để
hồn
ma
của
hãng
Pathé-Phono
thưởng-thức
chơi:
„Than
ôi!
Cầu
ván
chung-chinh
(chông-chênh)
nhịp
bước,
còn
cái
giải
Bích-Nguyên
lai-1áng
giọt
sương”
Văn-chương
mùi-mẫn
như
vậy
nên
các
bà
các
cô
nghe
thì
mủi
lòng
rơi
lệ
hết
ráo,
vì
hay
quá
xá.
Thế
là
máy
hát
bán
chạy
như
tôm
tươi.
Nam-kỳ-quốc
đã
bắt
đầu
giàu
có
được
ba
bốn
mươi
năm
rồi,
sau
hơn
hai
trăm
năm
lao-lực
khẩn-hoang
gây
dựng,
nên
bắt
đầu
hưởng-thụ.
Lần-lần
các
dĩa
“Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho”
được
đưa
vào
thôn
ổ
và
cái
câu
khai-mào
kỳ-khôi
ấy
được
từ
thành-thị
đến
thôn-quê
thuộc
làu
và
đọc
lên
chơi
cho
vui
miệng.
Ngày
nay
từ-ngữ
“Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho”
chỉ
là
cái
gì
xa-xí-phẩm
lại
quá
thời
rồi.
Chẳng
hạn
nói:
“Cái
cà-vạt
của
anh
chắc
đã
sắm
vào
đời
Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho?”
Mấy
năm
trước,
trình-diễn
trong
các
đại-nhạc-hội,
Trần-văn-Trạch
thỉnh-thoảng
lại
dùng
cái
tài
nhại
vô-địch
của
anh
để
nhại
vài
dĩa
Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho,
khán-giả
Sàigòn
cười
bể
rạp,
nhưng
đồng-bào
miền
Bắc
không
hiểu
gì
cả.
Xem
bài
nầy
xong,
chắc
ai
cũng
hỏi:
“Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho”
là
cái
gì?
Từ
ba
tháng
nay,
các
bạn
đã
thấy
rất
nhiều
hình
bóng
cũ
của
Sàigòn
nửa
thế-kỷ
trước,
nhưng
đây
là
lần
đầu
mà
các
bạn
nghe
dư-vang
của
thành-phố
ấy
thuở
đó.
A-lô!
Bạn
hát
cải-lương
của
Thầy
Năm
Tú
ở
tại
Mỹ-Tho,
ca
cho
hãng
Pathé-Phono
nghe
chơi!
-
Tuồng
“Kỳ-duyên
tao-ngộ”.
A-lô!
Tăng
...
tắng
...tằng
...
tăng
Than
thở
than,
đất
rộng
ông
trời
dài!
Ra,
vô,
lụy
ứa
châu
mày!
BNL
