Cải lương với những cái Tết huy hoàng
- Thứ tư - 18/02/2015 23:13
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Người
ta
có
thể
nói
rằng
một
trong
những
nghề
làm
ăn
vào
dịp
Tết
được
coi
như
ngon
lành
nhứt
là
cải
lương,
bởi
đâu
có
nghề
nghiệp
nào
mà
kiếm
tiền
quá
dễ
dàng
bằng
cải
lương
hát
Tết
của
thời
thập
niên
1950
và
mấy
năm
đầu
của
thập
niên
1960.
Thật
vậy,
nếu
ai
đó
đã
từng
là
khán
giả
cải
lương
ở
những
năm
ấy
chắc
khó
quên
cảnh
tượng
trước
rạp
hát
trong
những
ngày
Tết
với
cái
cảnh
chen
lấn
mua
vé,
mà
giờ
đây
nhắc
lại
thì
những
ai
có
liên
hệ
đến
cải
lương
sẽ
hình
dung
được
ngay,
và
cũng
sẽ
nuối
tiếc
cái
thuở
vàng
son
ấy.
Khi
xưa
giới
cải
lương
đã
đón
Tết
một
cách
huy
hoàng,
tiền
vô
như
nước,
chỉ
nội
ngày
mùng
1
Tết
họ
có
thể
hát
đến
4
suất
mà
mỗi
suất
thì
đào
kép
lãnh
tiền
gấp
đôi,
tức
số
tiền
lãnh
tăng
lên
gấp
tám
lần.
Nói
một
cách
rõ
ràng
hơn
là
đêm
30
giao
thừa
họ
còn
lãnh
một
ngàn
đồng,
nhưng
đêm
mùng
1
thì
bầu
gánh
phải
trả
đến
8
ngàn,
mà
còn
cộng
thêm
tiền
lì
xì
Tết,
nhiều
ít
tùy
theo
sự
rộng
rãi
của
bầu
gánh.
Ngày mùng 2, mùng 3 cũng vậy, hoặc nếu có hạ thấp xuống thì cũng còn 3 hoặc 2 suất hát. Mấy ngày Tết đào kép mệt khờ người luôn, bởi suất hát này vừa vãn nghỉ xả hơi độ 1, 2 giờ đồng hồ thì lại tiếp tục lên sân khấu cho suất hát sau. Tuy mệt như vậy mà người nào cũng thoải mái tinh thần, mừng vui ra mặt, và hầu như chẳng đào kép nào “nghỉ bệnh” trong mấy ngày Tết này. Không như ngày thường hát ế mượn tiền không được thì đào kép hay... bệnh, như đã từng xảy ra.
Về phần bầu gánh thì các ông bà bầu mặt mày tươi rói, bởi tuy trả lương cho đào kép nhiều hơn, nhưng so với số thu vô thì họ còn lời chán, bởi vé tăng tiền lên gấp rưỡi vẫn không đủ vé bán. Sân khấu còn đang trình diễn mà suất hát kế tiếp đã treo bảng “hết vé” rồi! Ðó là chưa kể tiền cửa, tức trả tiền tại cửa rồi vào rạp đứng coi, chớ đâu có ghế ngồi. Tiền vô cửa giá ngang bằng với vé ngồi hạng ba và cũng thu vô liền tay, bỏ đầy thùng.
Có những gánh lớn ngày Tết chia ra hát hai nơi, bởi vậy có một số đào kép vừa hát xong ở rạp này thì cấp tốc chạy sang rạp thứ hai. Bởi vậy có những cái Tết người ta thấy một gánh hát mà treo bảng ở hai địa điểm, mà chỗ nào cũng đông nghẹt người coi. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga từng kể lại rằng từ lúc 10 tuổi cô đã ra sân khấu. Hồi ấy, đoàn Thanh Minh nhân dịp Tết chia ra hai gánh, nói cho đúng là chia thành hai nhóm hát ở hai rạp khác nhau. Một ở rạp Thuận Thành, Ða Kao và một ở bên Chánh Hưng (phía bên kia cầu chữ Y). Mới 10 tuổi nên cô được thủ vai “đào con” ở cả 2 bên. Thời đó gánh hát còn nghèo, đâu có xe hơi riêng, thành thử cô phải đeo xe cam nhông không mui để chạy rạp cho kịp tuồng.
Cái đặc biệt của cải lương hát Tết là khán giả không hề kén chọn tuồng, cũng không kén chọn đào kép, diễn viên, tuồng hay, tuồng dở gì cũng chật rạp, và hầu như tuồng nào cũng bị nhận lớp ít hay nhiều, chứ nếu không thì đâu đủ giờ hát suất sau.
Cải lương hát Tết ngon lành như vậy, bảo sao khi xưa mấy tháng cuối năm là ở các địa phương xa gần, tỉnh nào cũng có thêm gánh hát mới ra lò, với không khí đầy hy vọng. Họ vẽ bảng hiệu mới, vẽ tranh cảnh mới và người ta cũng nghe ca hát tập tuồng ngày đêm. Ðây là thời gian mà bầu gánh hát mới chuẩn bị cho ngày Tết ra quân, khai trương bảng hiệu để lượm bạc, ít nhứt cũng đầy túi trong 3 ngày Xuân. Sau ngày mùng 4 thì hát trở lại bình thường nhưng khán giả cũng còn đông đảo, kéo dài cho đến Rằm Tháng Giêng thì khán giả mới thưa dần.
Thế nhưng, cái thời kỳ mà Tết đến thiên hạ nô nức rủ nhau đến rạp cải lương kia nó đã không còn nữa, khi Việt Nam bắt đầu có truyền hình. Người ta nằm nhà coi cải lương trên truyền hình, bởi đài cũng chọn tuồng hay để phát vào dịp Tết, và dĩ nhiên sân khấu chẳng còn đông người coi, có gánh khán giả thưa thớt, phải đóng màn chịu trận cho qua ba ngày đầu Xuân. Nhiều đoàn đã cho đào kép nghỉ “ăn Tết” với cái túi trống rỗng, chớ mở màn thì có mấy người đi coi đâu, bởi thiên hạ đổ dồn về những nơi có máy truyền hình để coi tuồng của gánh lớn.
Và giờ đây cải lương lại thêm một cái Tết điêu tàn, cái thời kỳ hoàng kim của cải lương đã lui về dĩ vãng, và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại. Người ta chỉ mong mỏi sao bộ môn nghệ thuật này được bảo tồn là may lắm rồi!
Ngành Mai
Ngày mùng 2, mùng 3 cũng vậy, hoặc nếu có hạ thấp xuống thì cũng còn 3 hoặc 2 suất hát. Mấy ngày Tết đào kép mệt khờ người luôn, bởi suất hát này vừa vãn nghỉ xả hơi độ 1, 2 giờ đồng hồ thì lại tiếp tục lên sân khấu cho suất hát sau. Tuy mệt như vậy mà người nào cũng thoải mái tinh thần, mừng vui ra mặt, và hầu như chẳng đào kép nào “nghỉ bệnh” trong mấy ngày Tết này. Không như ngày thường hát ế mượn tiền không được thì đào kép hay... bệnh, như đã từng xảy ra.
Về phần bầu gánh thì các ông bà bầu mặt mày tươi rói, bởi tuy trả lương cho đào kép nhiều hơn, nhưng so với số thu vô thì họ còn lời chán, bởi vé tăng tiền lên gấp rưỡi vẫn không đủ vé bán. Sân khấu còn đang trình diễn mà suất hát kế tiếp đã treo bảng “hết vé” rồi! Ðó là chưa kể tiền cửa, tức trả tiền tại cửa rồi vào rạp đứng coi, chớ đâu có ghế ngồi. Tiền vô cửa giá ngang bằng với vé ngồi hạng ba và cũng thu vô liền tay, bỏ đầy thùng.
Có những gánh lớn ngày Tết chia ra hát hai nơi, bởi vậy có một số đào kép vừa hát xong ở rạp này thì cấp tốc chạy sang rạp thứ hai. Bởi vậy có những cái Tết người ta thấy một gánh hát mà treo bảng ở hai địa điểm, mà chỗ nào cũng đông nghẹt người coi. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga từng kể lại rằng từ lúc 10 tuổi cô đã ra sân khấu. Hồi ấy, đoàn Thanh Minh nhân dịp Tết chia ra hai gánh, nói cho đúng là chia thành hai nhóm hát ở hai rạp khác nhau. Một ở rạp Thuận Thành, Ða Kao và một ở bên Chánh Hưng (phía bên kia cầu chữ Y). Mới 10 tuổi nên cô được thủ vai “đào con” ở cả 2 bên. Thời đó gánh hát còn nghèo, đâu có xe hơi riêng, thành thử cô phải đeo xe cam nhông không mui để chạy rạp cho kịp tuồng.
Cái đặc biệt của cải lương hát Tết là khán giả không hề kén chọn tuồng, cũng không kén chọn đào kép, diễn viên, tuồng hay, tuồng dở gì cũng chật rạp, và hầu như tuồng nào cũng bị nhận lớp ít hay nhiều, chứ nếu không thì đâu đủ giờ hát suất sau.
Cải lương hát Tết ngon lành như vậy, bảo sao khi xưa mấy tháng cuối năm là ở các địa phương xa gần, tỉnh nào cũng có thêm gánh hát mới ra lò, với không khí đầy hy vọng. Họ vẽ bảng hiệu mới, vẽ tranh cảnh mới và người ta cũng nghe ca hát tập tuồng ngày đêm. Ðây là thời gian mà bầu gánh hát mới chuẩn bị cho ngày Tết ra quân, khai trương bảng hiệu để lượm bạc, ít nhứt cũng đầy túi trong 3 ngày Xuân. Sau ngày mùng 4 thì hát trở lại bình thường nhưng khán giả cũng còn đông đảo, kéo dài cho đến Rằm Tháng Giêng thì khán giả mới thưa dần.
Thế nhưng, cái thời kỳ mà Tết đến thiên hạ nô nức rủ nhau đến rạp cải lương kia nó đã không còn nữa, khi Việt Nam bắt đầu có truyền hình. Người ta nằm nhà coi cải lương trên truyền hình, bởi đài cũng chọn tuồng hay để phát vào dịp Tết, và dĩ nhiên sân khấu chẳng còn đông người coi, có gánh khán giả thưa thớt, phải đóng màn chịu trận cho qua ba ngày đầu Xuân. Nhiều đoàn đã cho đào kép nghỉ “ăn Tết” với cái túi trống rỗng, chớ mở màn thì có mấy người đi coi đâu, bởi thiên hạ đổ dồn về những nơi có máy truyền hình để coi tuồng của gánh lớn.
Và giờ đây cải lương lại thêm một cái Tết điêu tàn, cái thời kỳ hoàng kim của cải lương đã lui về dĩ vãng, và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại. Người ta chỉ mong mỏi sao bộ môn nghệ thuật này được bảo tồn là may lắm rồi!
Ngành Mai