Dạ cổ hoài lang: Kết nối những hành trình ngót trăm năm
- Thứ tư - 26/09/2018 21:01
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
DCHL
Ra đời vào Trung thu năm 1919, bản DCHL của nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã đặt viên gạch đầu tiên cho nền ca kịch sân khấu cải lương. Người ta đúc kết rằng “phi vọng cổ bất thành cải lương”, vì vọng cổ là bài ca vua trên sân khấu cải lương Nam bộ. DCHL lại là khởi nguồn, là tiền thân của bản vọng cổ, được “nên vóc nên hình” để thành bài ca vua là nhờ trí tuệ, tài năng và tâm huyết của biết bao thế hệ tiền nhân. Vậy thì tôn vinh DCHL, và những người có công hay đề xuất DCHL là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia luôn là những việc làm cần thiết và thật sự cấp thiết. Mỗi năm, cứ đến rằm tháng 8 âm lịch, chúng ta lại nhớ về khởi nguồn của bản nhạc lòng ấy. Một năm nữa thôi, DCHL sẽ tròn trăm tuổi. Tài liệu, tư liệu, hình ảnh và những gì liên quan đến DCHL và hành trình tiến bước của DCHL phải nói là vô số. Nhưng, khó có thể có một bài viết, một tư liệu nào tóm lược, ghi chép cho đủ đầy, chính xác nhất hành trình ngót trăm năm ấy của một bài ca.

Hoạt cảnh trong lễ hội Dạ cổ hoài lang. Ảnh: C.K
Chính
vì
vậy,
những
hội
thảo
về
DCHL
luôn
đón
nhận
những
tư
liệu
mới
hơn,
những
nội
dung
luôn
cần
để
bổ
sung
cho
thêm
dày,
thêm
đầy.
Tìm
lại
những
tư
liệu
nói
về
DCHL,
chúng
tôi
ghi
nhận
có
ít
nhất
4
hội
thảo
lớn
bàn
về
DCHL.
Lần
thứ
nhất,
năm
1963,
tại
rạp
Quốc
Thanh
-
Sài
Gòn,
một
số
nghệ
nhân,
nghệ
sĩ,
nhà
báo
đã
tổ
chức
buổi
nói
chuyện
về
bản
DCHL,
nguồn
gốc
phát
triển
của
bản
vọng
cổ
và
tri
ân
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu.
Lần
thứ
2
là
hội
thảo
về
Cao
Văn
Lầu
nhân
kỷ
niệm
70
năm
ra
đời
bản
DCHL
vào
năm
1989,
do
UBND
tỉnh
Minh
Hải
(nay
là
Cà
Mau
và
Bạc
Liêu)
tổ
chức.
Lần
thứ
3
là
hội
thảo
khoa
học
với
chủ
đề
“90
năm
bản
DCHL”
tại
Trường
Sân
khấu
-
Điện
ảnh
TP.
HCM
do
Sở
VH-TT&DL
Bạc
Liêu
phối
hợp
với
Hội
Sân
khấu
TP.
HCM
tổ
chức.
Lần
thứ
4
là
nhân
kỷ
niệm
91
năm
ra
đời
bản
DCHL,
UBND
tỉnh
Bạc
Liêu
đã
chỉ
đạo
Sở
VH-TT&DL
tổ
chức
tọa
đàm
xác
định
bản
DCHL
chuẩn.
Cuộc
tọa
đàm
này
đã
có
sự
tham
dự
của
nhiều
học
giả,
nhà
nghiên
cứu
âm
nhạc
truyền
thống,
nghệ
nhân,
nghệ
sĩ
và
những
nhà
quản
lý
thâm
niên
trong
ngành
Văn
hóa…
Những
hội
thảo
ấy
dù
có
đủ
đầy
tài
liệu,
được
nhiều
đại
biểu
bàn
bạc,
phân
tích
thấu
đáo
nhưng
không
đặt
dấu
chấm
cho
hành
trình
kết
nối
từ
một
bài
ca.
Từng
hội
thảo
lại
mở
ra
những
điều
hay,
ý
đẹp
để
DCHL
được
trải
dài,
công
lao
những
thế
hệ
tiền
nhân
được
tôn
vinh
xứng
đáng.
Nói
“trước
hết
là
hành
trình
của
một
bộ
môn
nghệ
thuật”,
vì
sau
đó,
còn
là
hành
trình
của
những
người
con
xa
quê
hương.
Vâng!
DCHL
hay
câu
vọng
cổ
có
khả
năng
nối
lại
những
hành
trình,
những
khoảng
cách
không
gian
dài
đến
vô
cùng.
Những
người
con
dù
cách
xa
Tổ
quốc,
biền
biệt
nơi
chôn
nhau
cắt
rốn
vẫn
đau
đáu
nhớ
về
quê
hương
khi
bất
chợt
nghe
câu
vọng
cổ,
hay
nghe
bài
ca
nào
đó
len
lỏi
trong
đó
mấy
câu
“đường
dù
xa
ong
bướm,
xin
đó
đừng
phụ
nghĩa
tào
khang…”.
Trong
câu
chuyện
về
chuyến
đi
biểu
diễn
ở
Mỹ
của
nhóm
nghệ
nhân
đờn
ca
tài
tử
huyện
Phước
Long
hồi
năm
2007,
điều
để
lại
ấn
tượng
trong
tôi
nhất
chính
là
chuyện
về
một
người
thiếu
phụ
ngồi
nghe
DCHL
mà
ngậm
ngùi
lau
những
dòng
nước
mắt.
Có
rất
nhiều
người
nghe
DCHL
hay
xem
vở
kịch
cùng
tên
này
mà
đã
rớt
nước
mắt,
khóc
vì
nhớ
quê
cha
đất
tổ
của
mình.
DCHL
trỗi
khúc
thường
đi
vào
tâm
tư,
tình
cảm
con
người
nên
rất
nhiều
nhạc
sĩ
đã
mượn
những
tinh
túy
của
DCHL
mà
đưa
vào
những
sáng
tác
của
mình.
“Đêm
Gành
Hào
nghe
điệu
hoài
lang”
của
nhạc
sĩ
Vũ
Đức
Sao
Biển
là
một
điển
hình
tiêu
biểu
nhất.
Từ
một
DCHL
thôi
lại
có
một
chặng
hành
trình
không
có
điểm
dừng,
một
dòng
chảy
mải
miết
ngót
trăm
năm.
Cũng
từ
một
DCHL,
qua
tài
nghệ
của
bao
con
người
đã
làm
cho
bài
ca
hóa
thành
niềm
thương
nỗi
nhớ,
kết
nối
không
biên
giới
những
không
gian
dài
và
rộng.
Cải
lương
còn
ngân
nga
thì
DCHL
còn
mãi
niềm
tự
hào.
Bản
nhạc
lòng
ngót
trăm
năm
đã
được
dưỡng
nuôi
đẹp
cả
về
sắc
vóc
lẫn
tâm
hồn
như
chính
ý
nguyện
của
người
cha
đẻ
ra
mình:
“43
năm
trước
bản
Hoài
lang
tôi
đặt
ra
do
than
thân
trách
phận
dùm
vợ
tôi…
Bây
giờ,
bản
vọng
cổ
nhịp
4
trở
thành
nhịp
32
là
công
sửa
đổi
của
quý
vị
nhạc
sư,
nhạc
sĩ,
soạn
giả
để
trở
thành
đứa
con
tinh
thần
chung
của
quý
vị.
Tôi
xin
giao
đứa
con
ấy
cho
quý
vị,
thương
yêu
nó
mà
giữ
dùm
nó,
đừng
biến
nó
thành
đứa
con
hoang
mất
hết
căn
gốc,
nhịp
điệu
và
lời
ca…
Tôi
tin
đứa
con
riêng
của
tôi,
đứa
con
chung
của
quý
vị
sẽ
được
nuôi
dưỡng,
săn
sóc
với
tất
cả
tấm
lòng
yêu
chuộng
bản
Hoài
lang
hay
bản
vọng
cổ”
(lời
tâm
nguyện
của
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu
vào
năm
1963).
CẨM
THÚY
Chương trình kỷ niệm 99 năm ngày ra đời bản Dạ cổ hoài lang và Ngày Sân khấu Việt Nam năm 2018: Tôn vinh bản Dạ cổ hoài lang và tri ân tổ nghiệp
Đặc sắc, sâu lắng và đầy ấn tượng, đó là điều đọng lại từ chương trình kỷ niệm 99 năm ngày ra đời bản Dạ cổ hoài lang (DCHL) và Ngày Sân khấu Việt Nam vào tối 20/9. Chương trình do Liên hiệp các Hội VH-NT Bạc Liêu chủ trì, Nhà hát Cao Văn Lầu - Trung tâm Văn hóa tỉnh dàn dựng và biểu diễn đã tôn vinh xứng tầm bản DCHL của nhạc sĩ Cao Văn Lầu và tri ân thành kính đối với những bậc thầy - tổ nghiệp của sân khấu cải lương.
Lãnh đạo tỉnh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự nghiệp văn hóa nói chung, nền VH-NT địa phương nói riêng. Kỷ niệm ngày ra đời bản DCHL hàng năm, hoạt động không thể thiếu đó là việc các vị lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành tổ chức đoàn đến thắp hương tại Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu (ảnh 1, 2).
.jpg)
.jpg)
Chương trình nghệ thuật được dàn dựng khá công phu, từ khâu xây dựng kịch bản đến diễn xuất, cảnh trí. Bản DCHL như một sợi chỉ đỏ nối mạch xuyên suốt toàn chương trình, đặc biệt là ca cảnh “Dạ cổ hoài lang” gợi lại bối cảnh ra đời bản nhạc lòng bất hủ (ảnh 3, 4, 5).



Bản DCHL phát triển từng giai đoạn như bước lên những nấc thang ngày một cao hơn để vọng cổ ngày nay trở thành "bài ca vua" trên sân khấu cải lương. Lòng yêu nghề, kiếp tằm vương tơ của người nghệ sĩ thể hiện trên sân khấu của chương trình đã gây xúc động với khán giả mộ điệu (ảnh 6, 7).


Kỷ
niệm
lần
thứ
VIII
Ngày
Sân
khấu
Việt
Nam,
nghi
thức
Giỗ
Tổ
sân
khấu
do
các
diễn
viên
Nhà
hát
Cao
Văn
Lầu
đảm
trách
thể
hiện
sự
tôn
nghiêm,
trang
trọng,
tỏ
lòng
tri
ân
đối
với
những
bậc
thầy
-
tổ
nghiệp
của
nền
sân
khấu
Việt
Nam
(ảnh
8,
9).

