NS MỘNG TUYỀN với MUÀ GIÁNG SINH trong Tân Cổ Giao Duyên
- Thứ ba - 25/12/2012 19:47
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
“ Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo nhưng tin có Chúa ngự trên cao.
Mùa sao sáng năm xưa lại về đêm sinh nhật Chúa,
Sao người năm xưa quên lời hứa chưa về (hò 1).
Chạnh nhớ ngày xưa đôi bóng giao kề (hò 2). "
Chênh chếch mùa sao lạc loài.
Ôi! Những mùa sao lẻ đôi.
Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào,
Thương những mùa sao hồng đào.
Ôi! Những mùa sao cách xa.”
Sân khấu bềnh bồng như trôi dạt trong ánh sáng nhiệm mầu đêm Thánh lễ, khán giả đắm chìm trong tiếng đàn Tam tấu cổ nhạc Văn Vĩ, Năm Cơ và Hai Thơm là những đệ nhất danh cầm cổ nhạc cải lương miền Nam thời đó, cùng quăng bắt nhau, tung hứng cho nhau thật điệu nghệ, trong khi Ban tân nhạc Lê văn Thiện chờ lúc cao trào, chụp bắt, rượt đuổi Ban cổ nhạc, khi trao qua khi nhận lại, hình thành một cấu trúc nghệ thuật mới của thời đại 1960-1970, định danh là Tân cổ giao duyên. Theo mạch nhạc hết câu 5 rồi chuyền sang qua câu 6 vọng cổ, ca sĩ và hai ban Tân và Cổ nhạc như quyện vào nhau, mắt không rời nhau, khi vào Tân khi ra Cổ, nghệ sĩ Mộng Tuyền lúc thì song hành, khi thì bứt phá, rồi đợi khi Ban cổ nhạc xuống xề 24, và Ban tân nhạc “chầu” thêm nhịp 25, ca sĩ vào nhịp 26 với lời thơ áo não trong đêm Giáng Sinh thời chinh chiến:
Mong về tương ngộ giữa mùa hội sao.
Niềm tin xóa hết thương đau,
Mùa sao đất Việt, mùa sao thanh bình."
Bài Tân cổ giao duyên Mùa Sao Sáng của soạn giả Đông Phương Tử đã ra đời trong thời binh lửa như thế, khi khắp miền Nam đã có mất mát, tang thương. Thuở đó, không khí chiến tranh lan tràn đến từng nhà, gia đình nào cũng có người thân vào quân đội. Những buổi chia tay, những giờ hò hẹn ngắn ngủi trên sân ga, trên bến tàu đưa tiễn người vào quân trường hay đi ra mặt trận, đã thấm đẩm vào thơ ca và âm nhạc. Bản Tân cổ giao duyên Mùa Sao Sáng nhanh chóng lan truyền từ sân khấu đến các Đài Phát Thanh và Truyền Hình rồi thâu vào băng và đĩa nhạc 45 tours. Miền Nam thời đó, nhứt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các tỉnh Cần Thơ - Bạc Liêu vốn là cái nôi của bài ca Vọng cổ hoài lang của Cao văn Lầu, các ban đờn ca tài tử miền sông nước này bị mê hoặc cuốn hút trước một làn điệu canh tân mới mẻ, đã chung tay tiếp sức cho bài Tân cổ giao duyên bay xa. Mộng Tuyền, nghệ sĩ cải lương sân khấu vừa là minh tinh màn bạc, nổi tiếng tài sắc trong vở tuồng cải lương Dương Quí Phi và An Lộc Sơn, bạn diễn với Thanh Nga, Ngọc Giàu của đoàn Thanh Minh, đặc biệt với vai diễn để đời là sơn nữ Klai trong vở tuồng Mưa Rừng, Mộng Tuyền đã mang lại cho khán giả niềm say mê qua các bài tân cổ giao duyên Thầm Kín, Ngày Xưa Anh Nói, Thương Về Mùa Đông Biên Giới, Mùa Sao Sáng v v của soạn giả Đông Phương Tử, một bút danh của Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông.

Bài Tân cổ giao duyên Mùa Sao Sáng khi trình diễn ở Đài Truyền Hình được dàn dựng thành một liên khúc gồm hai bài Mùa Sao Sáng và Thương Về Mùa Đông Biên Giới. Khi các giáo đường vang lên bài thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời” thì cũng là lúc người hậu phương nhớ người ngoài tiền tuyến, những chiến sĩ trấn đóng nơi miền biên giới xa xôi hay đang xông pha nơi chiến trường giửa mùa Đông lạnh lẽo. Truyền hình có thế mạnh chuyển cảnh nhanh nên khi ca sĩ hát dứt câu 6 vọng cổ bài Mùa Sao Sáng thì màn hình chiếu tiếp theo một loạt hình hoạt cảnh chiến trường trong tiếng nhạc hòa ca bài “Thương về mùa Đông biên giới”:
Ú u ù u, ú u ù u ……………………
Hiu hắt trời mây, hàng cây xơ xác gió lay,
Bên thềm ngập lá thu gầy, lạnh lùng em thương nhớ ai.”
Bài Tân cổ giao duyên “Thương Về Mùa Đông Biên Giới” có cấu trúc với thơ và nhạc chen vào giữa các câu vọng cổ, chia ra câu 1 đi liền với câu 2, rồi tiếp đến câu 5 liền với câu 6 vọng cổ. Khác với nguyên thủy bản gốc vọng cổ gồm có 6 câu, nhưng khi chuyển tác sang Tân cổ giao duyên thì bớt đi câu 3 và câu 4. Nguyên tác của nó là bài “Dạ cổ hoài lang” của Cao văn Lầu, một thời gian sau ông đổi tên thành bài “Vọng cổ hoài lang” với ca từ sau đây:
Bảo kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng
Đêm năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi! Gan vàng quặn đau
Đường dầu xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Về đêm luống trông tin bạn
Ngày mòn mỏi như đá vọng phu
Vọng phu vọng, luống trông tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng
Chàng hỡi, chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây xum vầy
Duyên sắt cầm đừng lạt phai
Thiếp cũng nguyện cho chàng.
Nguyện cho chàng hai chữ bình an
Mau trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi.”
Theo
thời
gian,
bài
Vọng
cổ
Hoài
Lang
được
chế
tác
thành
6
câu
vọng
cổ,
mỗi
câu
có
một
cấu
trúc
khác
nhau.
Như
câu
1
vọng
cổ
có
cấu
hình
là
hò
1,
hò
2
rồi
XÊ
24,
SANG
28,
CỐNG
32
thì
câu
2
vọng
cổ
tiếp
theo,
sau
hò
1
hò
2
là
XÊ
24,
rồi
XÊ
28,
SANG
32.
Và
4
câu
kế
tiếp
theo
là
sự
trao
đổi
vị
trí
của
HÒ,
XÊ,
SANG,
CỐNG,
XÊ,
SANG.
Gối
đầu
bài
vọng
cổ
có
thể
là
bài
thơ
hay
một
bài
bản
nhỏ
cổ
nhạc.
Nhìn
vào
bản
in
bài
Tân
cổ
giao
duyên
“Thương
về
mùa
Đông
biên
giới”
của
soạn
giả
Đông
Phương
Tử,
một
bút
danh
của
Nhạc
sĩ
Nguyễn
Văn
Đông,
trình
bày
dưới
đây,
người
đọc
thấy
những
hàng
chữ
dẫn
giải
phương
cách
trình
tấu
giữa
hai
ban
tân
và
cổ
nhạc
cũng
như
cách
ca
sĩ
bắt
nhịp
vào
hát
trong
một
bài
Tân
cổ
giao
duyên
của
thời
đại
mới.
Thuật
ngữ
âm
nhạc
truyền
thống
và
thời
đại
được
dùng
trong
trường
hợp
này
như:
Ban
cổ
nhạc
chơi
dây
Đào
hò
5,
còn
ban
Tân
nhạc
trổi
“ton”
Ré
mineur,
cho
ta
thấy
có
danh
từ
xưa
đi
liền
với
từ
mới
thời
nay.
Hoặc
giả
trong
phần
hướng
dẫn
trình
tấu
nhạc,
soạn
giả
Đông
Phương
Tử
đã
tỉ
mỉ
ghi
trong
bài
ca
như
cầm
tay
chỉ
việc:
“
Khi
dứt
Xề
32,
Ban
cổ
nhạc
chầu
tiếp
thêm
4
nhịp
rồi
chuyển
giao
cho
Ban
tân
nhạc
đệm
thêm
một
nhịp
nữa,
khi
ấy
ca
sĩ
mới
bắt
vào
nhịp
thứ
6
mà
chữ
“SANG”
phải
hát
rớt
đúng
vào
nhịp
chánh
này”.
Khi
hiểu
được
cấu
trúc
của
một
bài
tân
cổ
giao
duyên
như
thế
nào
thì
sự
thưởng
thức
sẽ
mang
lại
cho
ta
thêm
phần
thú
vị
trong
bài
Tân
cổ
giao
duyên
Thương
Về
Mùa
Đông
Biên
Giới
sau
đây.
Phan
Anh
Dũng