Ngày xưa: yêu nghề lập gánh
- Thứ bảy - 25/05/2013 14:49
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
.
Rạp
hát
cải
lương
những
năm
60.
Cải
lương
ra
đời
từ
năm
1917
ở
Sa
Đéc,
từ
gánh
xiếc
của
thầy
Andrel
Thận,
với
vở
Lục
Vân
Tiên
của
cụ
Đồ
Chiểu.
Đây
là
vở
tuồng
sơ
khai
đầu
tiên,
nhưng
đã
rất
đông
khách.
Năm
1918,
vở
Kim
Vân
Kiều
của
thầy
Năm
Tú
được
đánh
dấu
là
ngày
cải
lương
chính
thức
hình
thành
tại
Mỹ
Tho,
và
ông
Trương
Duy
Toản
được
coi
là
“thầy
tuồng”
đầu
tiên.
Từ
đây,
các
gánh
hát
đồng
loạt
ra
đời,
do
tư
nhân
làm
chủ
gánh.Thời
vàng
son
của
cải
lương
là
thập
niên
60
–
70
thế
kỷ
trước,
với
những
giọng
ca
vàng
như
Út
Trà
Ôn,
Hữu
Phước,
Thanh
Nga,
Út
Bạch
Lan,
Văn
Hường,
Hùng
Cường,
Bạch
Tuyết,
Tấn
Tài,
Ngọc
Giàu,
Phượng
Liên,
Minh
Cảnh,
Minh
Vương,
Minh
Phụng,
Mỹ
Châu,
Lệ
Thuỷ…Mỗi
gánh
hát
bắt
đầu
bằng
một
nền
tảng,
đường
lối,
phong
cách
khác
nhau.
Giới
cải
lương
ai
cũng
biết
đến:
“Nhất
Chưởng
(Kim
Chưởng),
nhì
Thơ
(bầu
Thơ),
tam
Long
(bầu
Long),
Tứ
Út
(Út
Trà
Ôn)”.
Gánh
Kim
Chưởng
nổi
tiếng
vì
bà
bầu
khó
tính,
lăng
xê
rất
thành
công
Minh
Chí
thành
ông
vua
xàng
xê,
Ngọc
Giàu
thành
giọng
ca
thần
sầu.
Đoàn
Thanh
Minh
–
Thanh
Nga
của
ông
Năm
Nghĩa
và
bà
bầu
Thơ,
cùng
nữ
tiểu
chủ
Thanh
Nga,
con
gái
bà
bầu
Thơ
là
gánh
hát
tiêu
biểu
có
tuổi
đời
dài
nhất,
chuyên
diễn
tuồng
xã
hội.
Bà
bầu
đoàn
Hương
Mùa
Thu.
Nghệ
sĩ
Bảo
Quốc,
con
trai
bà
Bầu
Thơ
và
ông
Năm
Nghĩa
kể:
“Bầu
gánh
ngày
xưa
vì
yêu
nghề
mà
lập
gánh
hát,
không
có
mộng
làm
giàu,
nên
không
hưởng
lợi
một
mình
mà
chia
đều
cho
mọi
người,
có
khi
phải
chịu
thiệt
thòi
để
giữ
nghề,
như
giữ
đạo
vậy.
Ba
tôi
ngày
xưa
là
thầy
giáo
dạy
học
ở
Bạc
Liêu,
bạn
thân
của
ông
Cao
Văn
Lầu,
hai
người
hay
đàn
hát
với
nhau.
Còn
má
tôi
buôn
bán
ở
Tây
Ninh.
Đoàn
Thanh
Minh
thành
lập
vào
tiết
Thanh
Minh,
khi
chị
Thanh
Nga
nổi
danh,
ba
má
tôi
kết
hợp
đổi
tên
thành
đoàn
Thanh
Minh
–
Thanh
Nga.
Nghề
làm
bầu
cũng
thăng
trầm
lắm.
Ba
má
tôi
luôn
ký
hợp
đồng
độc
quyền
với
nghệ
sĩ.
Đoàn
hơn
50
người,
khi
mở
màn
hát
dù
có
vai
hay
không
có
vai
cũng
đều
được
lãnh
lương,
có
cơm
ăn
hai
bữa
trưa
và
chiều.
Anh
em
hậu
đài
cũng
được
ký
hợp
đồng
và
được
phục
vụ
ăn
như
diễn
viên,
lương
của
hậu
đài
được
tính
rất
cao.
Đoàn
Thanh
Minh
diễn
luân
phiên
ở
rạp
Hưng
Đạo,
Quốc
Thanh
(nay
thành
trung
tâm
tiệc
cưới!
–
PV),
Nguyễn
Văn
Hảo
(rạp
Công
Nhân
bây
giờ).
Hợp
đồng
rạp
ký
trước
một
năm,
khi
đoàn
khác
muốn
đến
hát
phải
thuê
lại
của
mình.Ba
tôi
mất
sớm,
người
chịu
trách
nhiệm
về
kinh
doanh
chủ
yếu
là
má
tôi.
Bà
gồng
gánh
cả
đoàn
hát
với
một
tư
chất
mạnh
mẽ,
rất
có
uy,
khiến
các
nghệ
sĩ
lớn
rất
nể
trọng.
Tôi
nhớ
sáng
sáng,
9
giờ
tập
tuồng
thì
8
giờ
bà
già
đã
ngồi
trên
bộ
ván,
miệng
nhai
trầu
bỏm
bẻm.
Đào
kép
nào
đến
trễ
đều
toát
mồ
hôi
hột
trước
sắc
diện
của
bà.
Mỗi
tháng,
đoàn
đều
ra
một
vở
mới,
cảnh
trí
mới.
Sau
giải
phóng,
cải
lương
được
phục
hồi,
hưng
thịnh
lắm.
Người
ta
xếp
hàng
từ
7
giờ
sáng
trước
rạp
Hưng
Đạo,
cả
ngàn
vé
đến
9
giờ
đã
bán
sạch.
Các
đoàn
khác
cũng
rất
mạnh.
Mỗi
lần
mở
màn,
khi
đèn
từ
từ
sáng
lên
là
khán
giả
vỗ
tay
rần
rần
vì
cảnh
trí
rất
đẹp.
Mỗi
lần
chuyển
bến
nhà
tôi
phải
tốn
đến
ba
xe
tải,
trong
đó
hai
xe
là
dành
để
chở
cảnh
trí.
Má
tôi
thường
nói:
“Muốn
giữ
chân
khán
giả
phải
đặt
nghệ
thuật
lên
trên
hết,
dù
tốn
kém
mấy
cảnh
trí
phải
đẹp”.Bây
giờ,
sân
khấu
cách
điệu
nhiều
quá
khiến
người
diễn
không
thể
nhập
vai
được,
người
xem
cũng
không
thích.
Ngày
trước,
trang
phục
cũng
đầu
tư
rất
kỹ
lưỡng.
Người
nghệ
sĩ
mỗi
lần
bước
ra
sân
khấu
thấy
hào
hứng
lắm.
Không
có
chuyện
thay
vai,
trừ
trường
hợp
bệnh
nặng
hoặc
bị
tai
nạn,
vì
mỗi
lần
thay
vai
khán
giả
trả
vé
liền,
tốn
kém
dữ
lắm.
Đoàn
nuôi
một
bộ
phận
soạn
giả
gồm
Hà
Triều,
Hoa
Phượng,
Nhị
Kiều,
Hoàng
Khâm,
Kiên
Giang…
Mỗi
soạn
giả
đều
được
hưởng
6%
doanh
thu
mỗi
đêm
khi
có
vở
diễn.
Việc
trở
thành
ngôi
sao
là
cơ
hội
dành
cho
tất
cả
mọi
người,
từ
quân
sĩ,
cung
nữ
cũng
được
học
ca,
nếu
đóng
thế
thành
công
thì
cuộc
đời
sẽ
lên
hương
liền…”.
Bầu
gánh
ngày
xưa
vì
yêu
nghề
mà
lập
gánh
hát,
không
có
mộng
làm
giàu
nên
không
hưởng
lợi
một
mình
mà
chia
đều
cho
mọi
người,
có
khi
phải
chịu
thiệt
để
giữ
nghề
như
giữ
đạo
vậy.Trong
giới
cải
lương
ai
cũng
biết
đến
hợp
đồng
trị
giá
hai
triệu
bạc,
mức
cát
sê
kỷ
lục
nhất
của
đoàn
Thanh
Minh
–
Thanh
Nga
dành
cho
Út
Trà
Ôn.
Nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn
khởi
nghiệp
với
những
vai
nhỏ,
nhưng
lương
chẳng
được
bao
nhiêu.
Năm
1953,
bà
bầu
Thơ
và
ông
Năm
Nghĩa
mời
ông
về
đoàn
Thanh
Minh
–
Thanh
Nga.
Từng
ca
cặp
với
Út
Trà
Ôn,
nên
ông
Năm
Nghĩa
hiểu
sức
hút
của
giọng
ca
này.
Lập
tức
Út
Trà
Ôn
trở
thành
“đệ
nhất
danh
ca”,
sánh
vai
cùng
ba
đào
chánh
là
Kim
Chưởng,
Thuý
Nga,
Kim
Anh,
và
từ
đó,
ông
không
hề
bỏ
gánh,
sau
này
tái
ký
hợp
đồng,
Út
Trà
Ôn
vẫn
được
giữ
nguyên
mức
cát
sê
như
cũ
.
Kim Yến – ảnh: tư liệu Huỳnh Công Minh