Nguồn gốc cải lương và các bài bản
- Thứ bảy - 16/11/2013 07:17
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Khi nói đến cải lương , đối với người miền Nam cũng như người miền Bắc đều nghĩ đến bài Vọng cổ trước tiên . Nhưng ít ai biết đến xuất xứ, hình thành, và diễn tiến của ngành nghệ thuật sân khấu đặc biệt của miền Nam nầy . Trong phạm vi bài này tôi sẽ lần lượt đề cập đến nguồn gốc của hai chữ « Cải Lương », quá trình, hình thành, và cấu trúc dàn nhạc và bộ môn bài bản .
Có nghĩa là đổi những gì cũ còn lại ra thành những gì mới và hay. Danh từ cải lương được xuất hiện đầu tiên trên bảng hiệu của gánh Tân Thinh của ông Trương Văn Thông vào năm 1920. Sân khấu được trang hoàng đẹp đẽ, có màn nhung, có tranh cảnh, và hát bài La Madelon bằng tiếng Việt trước khi kéo màn .
Quá trình và hình thành
Miền
Nam
của
xứ
Việt
Nam
là
nơi
phát
xuất
ra
Hát
cải
lương.
Con
người
miền
Nam
có
một
đời
sống
nhàn
hạ,
sung
túc.
Ruộng
cò
bay
thẳng
cánh.
Cá
đầy
sông
,
rạch.
Không
lo
đói
nhờ
đất
đai
phì
nhiêu,
rau
cải
và
lúa
gạo
đầy
đồng
.
Người
miền
Nam
mang
dòng
máu
của
những
dân
đến
sinh
sống
trên
đất
Nam
kỳ
đầu
tiên.
Họ
thuộc
những
người
bị
triều
đình
Huế
đày
vào
trong
Nam
để
khai
khẩn
đất
hoang
,
hay
bị
bất
mãn
với
sự
phân
tranh
Trịnh
Nguyễn.
Thêm
vào
đó
có
nhiều
người
Tàu
sang
di
trú
vì
không
chịu
thần
phục
nhà
Thanh
.
Dân
ca
miền
Nam
phối
hợp
những
đặc
trưng
của
dân
ca
miền
Bắc,
miền
Trung,
thêm
vào
đó
những
sắc
thái
cổ
truyền
của
nhạc
Cao
Miên,
Trung
Hoa,
Chàm.
Do
đó,
dân
ca
rất
phong
phú
về
giai
điệu
cũng
như
tiết
tấu
qua
những
điệu
lý,
điệu
hò,
nói
thơ.
Lúc
khởi
đầu
vào
cuối
thế
kỷ
thứ
19,
những
cuộc
hát
cúng
đình
hay
hát
bội
được
tổ
chức
hàng
năm
vào
kỳ
lễ
thần
linh.
Có
những
gánh
được
mời
tới
những
gia
đình
khá
giả
vào
dịp
làm
chay.
Vì
vậy
có
câu
«
trong
chay
ngoài
bội
».
Có
những
cuộc
«
hát
chập
»
vào
những
dịp
tiệc
tùng
giải
trí
với
các
ca
sĩ
nổi
tiếng
tới
giúp
vui.
Vào
đầu
thế
kỷ
20,
ngành
ca
hát
được
bành
trướng
hơn
và
trở
thành
một
bộ
môn
giúp
vui
trong
các
dịp
tiệc
tùng
,
cưới
hỏi.
Điệu
hát
được
ưa
thích
nhất
thời
đó
là
điệu
Tứ
đại
oán
với
các
bài
Khóc
chồng,
«
Bùi
Kiệm
thi
rớt
»,
«
Bá
Ngộ
Mai
».
Trước
thế
chiến
thứ
nhất
(1914-18),
nhà
cầm
quyền
Pháp
khuyến
khích
người
Việt
dịch
các
vở
tuồng
của
Molière
hay
của
Victor
Hugo
ra
tiếng
Việt
để
diễn
cho
người
mình
xem.
Ở
miền
Nam
vào
thời
đó,
một
số
nhà
yêu
nhạc
cổ
như
Trần
Văn
Thiệt
(thân
phụ
của
cố
nhạc
sĩ
Duy
Lân),
Tống
Hữu
Định
đã
đưa
một
số
bài
nhạc
cổ
trong
đàn
tài
tử
lên
sân
khấu
vừa
hát
vừa
ra
bộ
diễn
cảnh
Bùi
Kiệm
thi
rớt,
hay
Bùi
Ông
rầy
Bùi
Kiệm
trích
trong
vở
Lục
Vân
Tiên
và
bài
ca
Tứ
đại
oán
được
đem
trình
bày
và
rất
được
ưa
thích
.
Có
một
ban
nhạc
tài
tử
ở
Mỹ
Tho
do
ông
Nguyễn
Tống
Triều
lập
ra,
với
Nguyễn
Tống
Triều
sử
dụng
đàn
kìm,
ông
Bảy
Vô
kéo
đàn
cò,
ông
Chín
Quán
thủ
cây
đàn
độc
huyền,
ông
Mười
Lý
thổi
ống
tiêu,
cô
Hai
Nhiễu
đàn
tranh
và
cô
Ba
Đắc
hát
.
Mỗi
tối
thứ
bảy
ban
nhạc
này
trình
diễn
tại
Minh
Tân
khách
sạn
ở
gần
nhà
ga
xe
lửa
Mỹ
Tho.
Người
đến
nghe
loại
nhạc
tài
tử
này
càng
ngày
càng
đông.
Ông
chủ
rạp
hát
bóng
Casino
ở
Mỹ
Tho
thấy
khách
sạn
Minh
Tân
sao
đông
khách
quá,
mới
nghĩ
đến
việc
đem
ban
nhạc
này
trình
diễn
trước
giờ
chiếu
phim.
Bắt
đầu
từ
đó
mới
có
phụ
diễn
cổ
nhạc
trên
sân
khấu
hát
bóng.
Ca
nhạc
cải
lương
bước
lên
sân
khấu
đầu
tiên
là
sân
khấu
hát
bóng
.
Cô
Ba
Đắc
là
một
nữ
danh
ca
hát
«
sa-lông
»
nổi
tiếng
qua
lối
hát
dậm
thêm
vài
câu
hài
hước
trong
các
bài
«
Đại
lang
dậm
»,
«
Bùi
Kiệm
dậm
»,
Bùi
Kiệm
-Nguyệt
Nga
».
Lúc
đầu
chỉ
ngồi
trên
bộ
ván
để
hát.
Về
sau
mới
đứng
dậy
vừa
hát
vừa
ra
bộ.
Từ
đó
mới
sinh
ra
loại
hát
«
Ca
ra
bộ
».
Từ
loại
hát
Ca
ra
bộ
rất
đơn
sơ
tiến
tới
ca
kịch,
tức
là
vừa
hát
vừa
diễn
tả
lời
ca
với
những
động
tác
.
Bài
bản
được
sáng
tác
thêm,
hay
dựa
trên
một
số
điệu
sẵn
có
như
Hành
Vân,
Bình
Bán
Vắn,
Kim
Tiền
Huế,
Ngũ
Điểm,
Bài
Tạ,
Ngâm
Thơ,vv…
Sau
đó,
có
những
nhóm
ca
kịch
đầu
tiên
của
Hai
Ngọc,
Bộ
Vang
ở
Mỹ
Tho
đi
biểu
diễn
lưu
động
để
giúp
vui
chứ
chưa
nghĩ
đến
việc
kiếm
tiền.
Đây
là
giai
đoạn
tài
tử
chứ
chưa
phải
chuyên
nghiệp.
Đoàn
hát
chuyên
nghiệp
đầu
tiên
được
Thầy
André
Thận
ở
tỉnh
Sa
Đéc
thành
lập
vào
năm
1918
lấy
tên
là
gánh
Thầy
Thận.
Có
đủ
đào
kép,
có
cả
người
soạn
tuồng
và
đặt
lời
ca.
Lúc
đầu
chỉ
hát
ở
các
chợ
nhỏ
trong
làng,
rồi
mới
đi
ra
thành
phố.
Nhưng
gánh
này
sống
không
lâu,
phải
rã
gánh
.
Đào
kép
gánh
Thầy
Thận
mới
nhập
vô
Gánh
Thầy
Năm
Tú
(tên
thật
là
Châu
văn
Tú)
ở
Mỹ
Tho.
Đây
là
một
gánh
hát
đại
quy
mô,
có
soạn
giả
Trương
Duy
Toản
(tác
giả
vở
Kim
Vân
Kiều),
có
họa
sĩ
Trần
Ngọc
Điều
vẽ
phong
sơn
thủy.
Danh
tiếng
gánh
hát
vang
tới
Saigon.
Đoàn
hát
len
diễn
tại
rạp
hát
bóng
Moderne
ở
vùng
Tân
Định.
Hãng
dĩa
Pathé
của
Pháp
đã
sản
xuất
rất
nhiều
dĩa
hát
78
vòng.
Nhờ
vậy
tiếng
tăm
của
gánh
Thầy
Năm
Tú
vang
dội
khắp
ba
miền
Nam
Trung
Bắc.
Sự
hình
thành
gánh
Thầy
Năm
Tú
đánh
dấu
sự
chào
đời
sân
khấu
cải
lương
và
có
tầm
vóc
quốc
giá
hơn
là
địa
phương
.
Lần
lượt
các
gánh
khác
được
lập
ra
một
cách
mau
chóng
:
Văn
Hí
Ban
ở
Chợ
Lớn,
Tập
Ích
Ban
ở
Thốt
Nốt,
Nghĩa
Đồng
Ban,
Tân
Thinh.
Gánh
Nam
Đồng
Ban
với
nữ
nghệ
sĩ
Năm
Phỉ
nổi
tiếng
trong
vở
«
Tham
phú
phụ
bần
».
Gánh
Tái
Đồng
Ban
ở
Mỹ
Tho
với
các
nghệ
sĩ
nổi
tiếng
như
Phùng
Há,
Năm
Châu,
Ba
Du.
Các
vở
tuồng
đầu
tiên
đều
lấy
từ
truyện
Tàu
nhưng
cách
ăn
mặc
đi
đứng,
nói
năng
đều
khác
hẳn
với
hát
bội.
Các
vở
tuồng
như
«
Phụng
Nghi
Đình
»,
«
Một
Quế
Anh
»,
«
Hạng
Võ
Biệt
Ngu
Cơ
»,
«
Trảm
Trịnh
Ân
»,
«Hoa
Mộc
Lan
tùng
chinh
»,
«
Mổ
Gan
Tỉ
Can
»,
«
Khương
Hậu
Thọ
Oan
»,
«
Hoàng
Phi
Hổ
phản
Trụ
đầu
Chu
»,
vv..
rất
được
ưa
chuộng
.Dần
dần,
nhiều
bài
hát
khác
được
đưa
vào
cải
lương
như
«
Xuân
Phong
»,
«
Hành
Vân
»,
và
sự
xuất
hiện
của
hai
bài
mới
là
«
Xuân
Nữ
»,
và
«
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
».
Bài
«
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
»
còn
gọi
là
«
Hoài
Lang
».
Bài
này
do
ông
Cao
Văn
Lầu,
biệt
hiệu
là
Sáu
Lầu,
quê
ở
Tân
An,
đến
định
cư
ở
Bạc
Liêu
lúc
còn
nhỏ,
sáng
tác
bài
này
vào
khoảng
năm
1918,
chịu
nhiều
ảnh
hưởng
của
bài
Tứ
Đại
Oán
và
bài
Hành
Vân.
Khởi
đầu
chỉ
có
hai
nhịp
cho
mỗi
câu
(bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
gồm
20
câu
2
nhịp).
Sau
khi
phát
triển
thành
nhịp
tư
được
hát
đầu
tiên
trên
sân
khấu
Tập
Ích
Ban
năm
1921,
và
thành
nhịp
8
trên
sân
khấu
Tái
Đồng
Ban
vào
năm
1922.
Cố
nghệ
sị
Lư
Hòa
Nghĩa,
tự
Năm
Nghĩa,
cũng
do
âm
cảm
tiếng
chuông
chùa
núi
Sam
(Châu
Đốc)
đã
đưa
bản
này
thành
nhịp
16
với
tên
khác
là
Vọng
cổ
Bạc
Liêu
vào
năm
1936.
Khoảng
đầu
năm
1951,
nghệ
sĩ
Nguyễn
Thành
Út,
biệt
hiệu
Út
Trà
Ôn
đã
biến
thành
Vọng
cổ
nhịp
32
mà
đa
số
nghệ
sĩ
cải
lương
hiện
nay
vẫn
còn
hát.
Vọng
cổ
nhịp
64
bắt
đầu
phát
triển.
Có
người
còn
hát
thành
nhịp
128
nhưng
không
mấy
phổ
biến
.
Các
nghệ
sĩ
muốn
được
nổi
tiếng
và
thành
công
thì
phải
hát
thật
mùi
bài
Vọng
cổ.
Nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn
đã
nhờ
bài
Vọng
cổ
mà
được
nổi
tiếng
trong
giới
cải
lương
.
Cải
lương
dần
dần
lan
ra
Trung
và
Bắc
sau
thế
chiến
thứ
nhất
(1914-18).
Người
đầu
tiên
giới
thiệu
nghệ
thuật
cải
lương
trên
sân
khấu
Hà
nội
là
ông
Nguyễn
Văn
Súng,
tự
Sáu
Súng
.
Đúng
ra,
là
một
gánh
xiệc
có
chen
vào
giữa
chương
trình
một
vài
bài
hát
cổ
nhạc,
chưa
có
tuồng
tích
rõ
ràng.
Ít
lâu
sau
mới
có
hai
gánh
Phước
Hội
và
Tân
Lập
Ban
từ
Nha
Trang
ra
Hà
Nội
trình
diễn
tại
rạp
Quảng
Lạc
.
Cho
tới
năm
1925,
Hà
Nội
vẫn
chưa
có
gánh
hát
cải
lương
chuyên
nghiệp.
Chỉ
có
một
số
người
ưa
thích
cải
lương
hợp
nhau
lại
đóng
tuồng
với
danh
nghĩa
cứu
trợ
trong
chiến
dịch
«
Nam
Kỳ
tương
tế
».
Năm
1923,
một
nhóm
sinh
viên
trường
Luật
diễn
tuồng
«
Bội
phụ
quả
báo
»
của
Phạm
Công
Bình
tại
rạp
Philharmonique.
Năm
1925,
một
nhóm
sinh
viên
cao
đẳng
diễn
tuồng
«
Châu
Trần
Tiết
Nghĩa
»
của
Nguyễn
Văn
Tệ.
Năm
1927
một
nhóm
phụ
nữ
ở
Hà
Nội
diễn
tuồng
«
Trang
Tử
Cổ
Bồn
»
dựa
vào
tích
xưa.
Dư
luận
thời
đó
đã
công
kích
ban
«
Nữ
tài
tử
»
với
những
lời
chỉ
trích
các
bà
thích
lên
sân
khấu
làm
trò
.
Đến
cuối
năm
1925
và
đầu
năm
1926
mới
có
nhóm
tài
tử
Đồn
Ấu
ở
Sán
Nhiên
Đài
và
nhóm
tài
tử
phố
Hàng
Giấy
mướn
rạp
ông
Ba
Bỏ
ở
Ô
Chợ
Dừa.
Năm
1927,
gánh
Nghĩa
Hiệp
Ban
ra
Bắc
với
những
tuồng
Tàu
như
«
Lã
Bố
Điêu
Thuyền
»,
«
Tra
Ấn
Quách
Hòe
»,vv…
Rạp
Quảng
Lạc,
rồi
rạp
chèo
Sán
Nhiên
Đài
đều
đổi
thành
rạp
cải
lương
.
Đến
giai
đoạn
1928-37,
các
tuồng
Tàu,
tuồng
Tây
được
đem
đi
diễn
khắp
nơi
và
nhiều
điệu
hát
mới
được
sáng
tác
như
bài
«
Tiếng
Nhạn
Trong
Sương
»,
«
Hoài
Tình
»
,
«
Chuồn
Chuồn
».
Những
bài
hát
Tây
được
dịch
ra
lời
Việt
như
«
Pouët
Pouët
»
trong
vở
tuồng
Tiếng
Nói
Trái
Tim,
bản
«
Tango
mystérieux
»
trong
vở
Đóa
Hoa
Rừng.
Nhiều
soạn
giả
phóng
tác
những
tác
phẩm
văn
học
Pháp
như
«
Giá
Trị
Danh
Dự
»
(Le
Cid
của
Corneille),
«
Túy
Hoa
Vương
Nữ
»
(Marie
Tudor
của
Victor
Hugo),
«
Tơ
Vương
Đến
Thác
»
(La
Dame
aux
Camélias
của
Alexandre
Dumas).
Một
số
truyện
của
văn
sĩ
Việt
cũng
được
đưa
lên
sân
khấu
như
«
Lan
và
Điệp
»
phỏng
theo
tiểu
thuyết
«
Tắt
Lửa
Lòng
»
của
Nguyễn
Công
Hoan,
«
Bùn
Lầy
Nước
Đọng
»
phỏng
theo
tác
phẩm
«
Tắt
Đèn
»
của
Ngô
Tất
Tố.
Trong
thời
gian
này,
một
đoàn
cải
lương
thường
có
hai
dàn
nhạc
:
dàn
nhạc
cải
lương
thì
ngồi
ở
cánh
gà
đàn
ra,
còn
dàn
nhạc
Tây
phương
với
dương
cầm
(piano),
saxo,
các
loại
kèn
Tây,
trống
thì
ngồi
ở
phía
trước
sân
khấu
để
đàn
lúc
trước
khi
kéo
màn
khai
diễn
và
những
tuồng
Tây.
Sau
đó
mới
tới
giai
đoạn
tuồng
Phật,
tuồng
Tiên
với
những
màn
đấu
phép
biến
hóa
song
song
với
các
vở
tuồng
kiếm
hiệp
La
Mã.
Nhạc
sĩ
Mộng
Vân
là
người
viết
rất
nhiều
bài
bản
cho
loại
tuồng
kiếm
hiệp.
Loại
nhạc
này
còn
được
gọi
là
nhạc
cà
chía
.
Từ
năm
1935
tới
năm
1941
nhiều
gánh
hát
được
thành
lập
ở
miền
Bắc
như
Nhật
Tân
Ban,
Quốc
Hoa,
Tố
Như,
Ái
Liên
(nữ
nghệ
sĩ
Ái
Liên
là
mẹ
của
nữ
ca
sĩ
Ái
Vân,
nữ
ca
sĩ
Ái
Xuân,
từ
trần
năm
1992),
Đức
Huy,
Nam
Hồng,
vv…
Nhiều
gánh
còn
vô
trong
Nam
diễn
được
thành
công
.
Một
số
gánh
hát
như
An
Lạc
Ban,
Phước
Cương,
Tân
Hí
Ban,
Trần
Đắt,
Năm
Phỉ,
Phụng
Hảo,
Thanh
Tùng,
Năm
Châu,
Kim
Thoa
ra
Bắc
được
khán
giả
mến
mộ.
Giai
đoạn
1940-45,
các
loại
tuồng
vừa
kể
trên
không
còn
ăn
khách
nữa
.
Cố
nghệ
sĩ
Năm
Châu
mới
viết
một
số
tuồng
xã
hội
như
«
Tìm
Hạnh
Phúc
»,
«
Khi
Người
Điên
Biết
Yêu
»
nói
lên
tâm
trạng
xã
hội
Việt
Nam
thời
đó
và
rất
được
hoan
nghinh.
Tuồng
dã
sử
rất
được
ăn
khách
trong
thời
này
.
Sau
thế
chiến
thứ
hai
(1939-45),
một
số
tuồng
chiến
tranh
do
cố
nghệ
sĩ
Bảy
Cao
đề
xướng
và
tạo
một
chỗ
đứng
đặc
biệt
trong
làng
cải
lương
.
Giai
đoạn
1960-70,
loại
hồ
quảng
dù
đã
được
phát
hiện
từ
năm
1935
với
nữ
nghệ
sĩ
lão
thành
Phùng
Há,
bắt
đầu
phát
triển
mạnh
mẽ.
Nữ
nghệ
sĩ
Phượng
Mai
(hiện
chuyển
sang
tân
nhạc
ở
hải
ngoại)
đã
được
nổi
tiếng
trong
lĩnh
vực
này
trước
1975
cùng
với
nữ
nghệ
sĩ
Bạch
Lê
(hiện
sinh
sống
tại
Pháp).
Ở
miền
Nam
,
ký
giả
kịch
trường
Trần
Tấn
Quốc
đã
sáng
lập
ra
giải
Thanh
Tâm
hàng
năm
tặng
cho
một
nghệ
sĩ
cải
lương
.
Người
đầu
tiên
nhận
giải
là
cố
nữ
nghệ
sĩ
Thanh
Nga.
Sau
đó
Ngọc
Giàu,
Bạch
Tuyết
,
Lệ
Thủy,
Mộng
Tuyền,
Diệp
Lang,
vv...
đã
tiếp
nối
nhận
giải
cho
tới
năm
1975.
Sau
bao
biến
chuyển
trong
cải
lương
với
những
đề
tài
khác
nhau,
bài
vọng
cổ
càng
ngày
càng
có
một
chỗ
đứng
quan
trọng
trong
cải
lương
nói
riêng,
và
trong
cổ
nhạc
nói
chung.
Không
một
vở
tuồng
nào
không
được
nghe
ít
nhất
là
năm
hay
sáu
lần.
Khán
giả
đi
xem
hát
cải
lương
với
mục
đích
là
để
nghe
hát
bài
vọng
cổ
cho
thật
mùi
.
Năm
1975,
sau
khi
chấm
dứt
chiến
tranh
giữa
miền
Nam
và
miền
Bắc,
một
số
nghệ
sĩ
cải
lương
ra
đi
tỵ
nạn.
Việt
Hùng
phối
hợp
với
một
số
nghệ
sĩ
như
Vương
Kiệt,
Hùng
Cường
(sang
Mỹ
từ
năm
1982
và
từ
trần
năm
2002
?),
Kim
Tuyến
để
lập
thành
đoàn
hát
cải
lương
nhưng
rồi
phải
dẹp
gánh.
Bên
Pháp,
một
số
nghệ
sĩ
tài
danh
như
Hữu
Phước
(từ
trần
năm
…..),
Chí
Tâm
(sang
Mỹ
định
cư
năm
1990),
Hương
Lan
(rời
bỏ
cải
lương
sang
hát
tân
nhạc
và
cũng
định
cư
ở
Mỹ
từ
1987),
Phương
Thanh,
Hà
Mỹ
Liên,
Kiều
Lệ
Mai,
Minh
Đức,
Minh
Thanh,
Kim
Chi,
Tài
Lương
,
Minh
Tâm,
Ngọc
Lưu
với
sự
cộng
tác
của
nữ
nghệ
sĩ
lão
thành
Bích
Thuận
đã
thành
lập
một
đoàn
hát
Năm
Châu
Paris
vào
năm
1983
với
hy
vọng
bảo
tồn
và
duy
trì
nghệ
thuật
cải
lương
ở
hải
ngoại.
Chỉ
ít
lâu
sau
rồi
phải
tự
rã
gánh
.
Sau
đó
,
có
hai
đoàn
cải
lương
được
thành
lập.
Đoàn
Nghệ
sị
tỵ
nạn
Paris
với
Hữu
Phước,
Kiều
Lệ
Mai,
Minh
Đức,
Hà
Mỹ
Liên,
và
đoàn
Hội
Nghệ
Sĩ
Trẻ
với
Chí
Tâm,
Tài
Lương
,
Minh
Tâm.
Hai
đoàn
này
hoạt
động
mạnh
trong
năm
1987
rồi
hai
năm
sau
lại
giải
tán
.
Hai
nghệ
sĩ
Thành
Được
và
Phượng
Mai
tỵ
nạn
ở
Đức
có
một
thời
gian
đi
lưu
diễn
Âu
châu,
Mỹ
châu
và
Úc
châu
nhưng
không
lâu
dài
.
Cả
hai
cũng
sang
định
cư
ở
Mỹ
.
Thành
Được
giải
nghệ
nghề
hát
,
mở
nhà
hàng
ở
San
Jose,
California,
Mỹ
.
Sau
này
có
một
số
nghệ
sĩ
cải
lương
nổi
tiếng
như
Phượng
Liên,
Bích
Sơn
,
rồi
Ngọc
Huyền,
Tài
Linh
sang
định
cư
ở
Mỹ
nhưng
không
thể
gầy
dựng
một
đoàn
cải
lương
dù
số
nghệ
sĩ
danh
tiếng
có
thừa
,
cũng
như
số
nhạc
sĩ
cổ
nhạc
đủ
sức
lập
thành
dàn
nhạc
.
Tại
Saigon,
sau
khi
nữ
nghệ
sĩ
Thanh
Nga
từ
trần
trong
một
«
tai
nạn
»
mà
tới
nay
vẫn
chưa
tìm
được
nguyên
do
vì
sao,
những
nghệ
sĩ
kỳ
cựu
như
Phùng
Há,
Bảy
Nam
(từ
trần),
Kim
Cúc
(từ
trần),
Kim
Lan
(từ
trần),
Út
Trà
Ôn
(từ
trần),
hay
các
nghệ
sĩ
Văn
Thái,
Ánh
Tuệ,
Khánh
Hợi
của
cải
lương
miền
Bắc,
những
nghệ
sĩ
cải
lương
còn
lại
của
chế
độ
cộng
hòa
miền
Nam
vẫn
tiếp
tục
trình
diễn
và
gặt
hái
nhiều
thành
công
như
Ngọc
Giàu,
Bạch
Tuyết,
Lệ
Thủy,
Kim
Cương,
Thanh
Vi,
Mỹ
Châu,
Thanh
Kim
Huệ,
Minh
Vương,
Diệp
Lang.
Những
tài
năng
trẻ
tiếp
nối
cũng
rất
ăn
khách
như
Vũ
Linh,
Vũ
Luân,
Thoại
Mỹ,
Thoại
Miêu,
Phượng
Loan,
Phượng
Hằng,
Trọng
Phúc,
Tài
Linh
(định
cư
ở
Mỹ
năm
2005),
Ngọc
Huyền
(định
cư
ở
Mỹ),
Kim
Tử
Long,
Tú
Sương,
Ánh
Hoa.
Các
nghệ
sĩ
có
nhiều
triển
vọng
qua
các
giải
Trần
Hữu
Trang
cho
thấy
số
lượng
ngày
càng
đông,
đặc
biệt
là
trong
năm
2007
những
giọng
ca
có
thể
trở
thành
những
nghệ
sĩ
tài
danh
trong
tương
lai
như
Hồ
thị
Ngọc
Trinh,
Phan
Minh
Đức,
Oanh
Kiều,
Hoa
Phượng,
Thi
Nhung,
Diễm
Kiều,
Ngọc
Tuyền,
Trung
Thảo,
Trúc
Ly,
Hoàng
Khanh,
Mỹ
Vân,
Hải
Yến,
Hải
Long
,
vv…Giờ
đây
diễn
xuất
giữ
phần
quan
trọng
hơn
là
có
giọng
ca
mùi
như
xưa
.
Nghệ
sĩ
phải
thuộc
tuồng
chứ
không
có
người
nhắc
tuồng
như
trước.
Cấu
trúc
dàn
nhạc
Ban
nhạc
tài
tử
lúc
hòa
tấu
ở
phòng
khách
(đàn
hát
sa-lông)
thường
gồm
có
:
1
đàn
kìm,
1
đàn
tranh,
1
đàn
cò,
1
đàn
độc
huyền,
1
sáo
hay
tiêu.
Khi
có
người
hát
thì
thêm
phách
hay
song
lang
.
Khi
trở
thành
dàn
nhạc
cải
lương
thì
số
lượng
nhạc
cụ
trở
thành
quan
trọng
hơn
:
1
trống
ban,
1
song
lang,
1
cặp
não
bạt,
1
đồng
la,
1
đàn
cò,
1
đàn
gáo,
1
đàn
kìm,
1
đàn
tam,
1
đàn
đoản,
1
đàn
tranh.
Lại
có
thêm
sáo,
tiêu,
kèn
củn,
kèn
nàm.
Sau
này
có
thêm
đàn
độc
huyền,
đàn
xến,
ghi
ta
phím
lõm
(còn
gọi
là
lục
huyền
cầm),
tam
thập
lục,
vi-ô-long,
hạ
uy
cầm
nhứt
là
ở
miền
Nam.
Câu
lục
huyền
cầm
hay
ghi-ta
phím
lõm
có
nhiều
khả
năng
về
cung
bực,
âm
thanh
trầm
bỏng
lại
có
thể
luyến
láy
do
phím
móc
sâu.
Từ
40
năm
nay,
ghi-ta
phím
lõm
giữ
vai
trò
chánh
trong
dàn
nhạc
cải
lương,
và
mấy
lúc
sau
này
đàn
ghi
ta
phím
lõm
có
gắn
điện
giống
ghi-ta
điện
của
nhạc
trẻ
kích
động
.
Cố
nhạc
sĩ
Văn
Vĩ
là
người
có
ngón
đờn
ghi-ta
phím
lõm
huyền
diệu
nhất.
Ngoài
dàn
nhạc
cổ,
còn
có
thêm
dàn
nhạc
Tây
phương
với
piano,
saxo,
clarinette,
trống
,
ghi-ta
điện,
và
đàn
synthé
(hay
organ).
Làn
điệu
hát
trên
sân
khấu
cải
lương
Những
bài
bản
được
nghe
trong
tuồng
cải
lương
đều
phát
xuất
từ
dân
ca
cổ
nhạc
miền
Nam
phần
lớn,
và
những
làn
điệu
trong
nhạc
đàn
tài
tử,
một
loại
nhạc
thính
phòng
miền
Nam.
Có
thể
phân
loại
một
số
bài
bản
thông
dụng
như
sau
:
1.
Từ
những
điệu
ca
dân
gian
như
những
điệu
Lý
.
Trong
Nam
có
hàng
chục
bài
Lý
:
Lý
con
sáo,
Lý
thập
tình,
Lý
ngựa
ô,
Lý
giao
duyên,
Lý
vọng
phu,
Lý
chiều
chiều,
Lý
bình
vôi,
Lý
chuồn
chuồn,
vv…
Có
Lý
ngựa
ô
Bắc,
lý
ngựa
ô
Nam.
Từ
điệu
Lý
ngựa
ô
biến
thành
điệu
cải
lương
Ô
Mã
18
câu
nhịp
đôi.
Mỗi
một
bài
diễn
tả
một
tâm
trạng
mà
người
viết
tuồng
phải
nắm
vững
để
tránh
bị
sai
lầm.
Khi
vui
tươi
thì
sử
dụng
điệu
Lý
ngựa
ô.
Khi
bâng
khuâng
thì
điệu
Lý
con
sáo.
Lúc
kể
lể
thương
đau
thì
hát
Lý
chuồn
chuồn.
Khi
ru
con
thì
hát
Lý
giao
duyên,
vv…
Đến
những
điệu
ngâm
cũng
phải
biết
lúc
nào
ngâm
theo
thể
ngâm
nào
.
Có
nhiều
loại
ngâm
như
Ngâm
Kiều
(còn
gọi
là
Lẫy
Kiều),
ngâm
Sa
Mạc,
Bồng
Mạc,
ngâm
Sổng,
nói
thơ
Lục
Vân
Tiên,
ngâm
thơ
Tao
Đàn
,
hò
.
2.
Từ
những
bài
nhạc
lễ
cung
đình
trong
hát
bội
sau
được
cải
biên
dùng
trong
cải
lương
như
Vũ
Biền
Xuất
Đôi,
Nam
Xuân,
Nam
Ai,
Nam
Đảo,
Ngũ
Đối
Thượng,
Ngũ
Đối
Hạ,
Long
Đăng,
Tiểu
Khúc,
vv…
3.
Từ
những
sáng
tác
mới
sau
này
khi
có
ca
ra
bộ,
hát
cải
lương
như
Văn
Thiên
Tường,
Tứ
Đại
Oán,
Trường
Tương
Tư,
Lưu
Thủy
Trường,
Ái
Tử
Kê,
Vọng
Cổ,
vv…
4.
Từ
những
điệu
hát
lấy
từ
nhạc
nước
ngoài
nhứt
là
từ
Trung
quốc,
nhạc
Quảng
Đông
xuyên
qua
các
bài
Xang
Xừ
Líu,
Khốc
Hoàng
Thiên,
Liễu
Xuân
Nương,
Bản
Tiều,
Lạc
Âm
Thiều,
vv…
Theo
một
vài
giả
thuyết
cho
rằng
thầy
ký
Trần
Quang
Quờn,
tự
Thầy
Ký
Quờn,
quê
ở
Vĩnh
Long,
đã
sáng
tác
hai
bài
Tứ
Đại
Oán
và
Văn
Thiên
Tường
cách
đây
hơn
80
năm.
Đặc
biệt
là
bài
Tứ
Đại
Oán
đã
khơi
nguồn
cho
hát
ca
ra
bộ
trước
khi
hát
cải
lương
thành
hình
.
Một
điệu
hát
quen
thuộc
khác
đã
được
ông
Sáu
Lầu
sáng
tác
là
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
,
trở
thành
Vọng
Cổ
Hoài
Lang
(1936)
và
Vọng
Cổ
sau
đó.
Chính
bài
hát
này
đã
dính
liền
với
sân
khấu
cải
lương
.
Nhạc
sĩ
và
thầy
tuồng
Nguyễn
Tri
Khương
(từ
trần
1962)
(cậu
của
GS
Trần
Văn
Khê,
và
ông
cậu
của
tôi)
đã
sáng
tác
một
số
bài
bản
mới
như
«
Bắc
Cung
Ai
»,
«
Phong
Xuy
Trịch
Liễu
»,
«
Yến
Tước
Tranh
Ngôn
»
cho
vở
tuồng
«
Giọt
lệ
chung
tình
»
vào
năm
1927
cho
gánh
hát
Đồng
Nữ
Ban
do
bà
cô
ba
của
tôi
là
Trần
Ngọc
Viện
sáng
lập.
Nhưng
cho
tới
ngày
nay
không
thấy
ai
dùng
các
bài
này
trong
cải
lương.
GS
Trần
Văn
Khê
có
thu
vào
dĩa
hát
bên
Pháp
vào
năm
1959.
Nhạc
sĩ
Tư
Chơi
đã
sáng
tác
một
số
điệu
hát
vào
năm
1937
như
Trông
Thấy
Ai
Xinh
Thay
!
và
Xin
Thề.
Cố
nghệ
sĩ
Bảy
Nhiêu
đã
sáng
tác
bài
Hoài
Tình
.
Nhạc
sĩ
Mộng
Vân
trong
những
năm
1939-40
đã
sáng
tác
nhiều
bài
ngắn
như
«
Tấn
Phong
»,
«
Túy
Tửu
»,
«
Thu
Phong
Nguyệt
»,
«
Giang
Tô
»,
«
Sương
Chiều
»,
«
Tú
Anh
»,
«
Tô
Vũ
»,
«
Nặng
Tình
Xưa
»,
vv…Nhạc
của
Mộng
Vân
có
điệu
gần
gủi
với
phong
cách
cải
lương,
nhưng
cũng
có
điệu
lai
căng,
chịu
nhiều
ảnh
hưởng
Tây
phương
.
Ở
hải
ngoại,
môi
trường
không
có.
Nghệ
sĩ
phải
hành
nghề
phải
hành
nghề
khác
để
mưu
sinh
cầu
thực.
Cho
nên
nghệ
thuật
cải
lương
ở
hải
ngoại
bị
dừng
lại.
Thế
hệ
trẻ
của
cộng
đồng
Việt
Nam
ở
nước
ngoài
có
lẽ
sẽ
không
còn
hiểu
hay
không
biết
gì
về
ngành
cải
lương
trong
tương
lai.Trong
nước
có
tờ
tuần
báo
«
Sân
khấu
thành
phố
»
thông
tin
những
sinh
hoạt
của
các
nghệ
sĩ
cải
lương.
Trang
nhà
http://cailuongvietnam.com
đăng
tải
những
tin
tức
nghệ
sĩ
,
hình
ảnh,
những
bài
viết
về
cải
lương
nói
chung
và
một
số
trang
nhà
cho
nghe
và
xem
những
vở
tuồng
cải
lương
hiện
tại
giúp
cho
chúng
ta
có
một
cái
nhìn
trung
thực
về
hiện
trạng
của
nghệ
thuật
cải
lương.
Nghệ
thuật
cải
lương
ngày
nay
vẫn
tiếp
tục
phát
triển
trong
nước
và
hy
vọng
rằng
được
bành
trướng
rộng
lớn
trong
tương
lai
.
(Trần
Quang
Hải)