Tiếng hát truyền đời từ đình Cầu Quan
- Thứ bảy - 27/04/2013 16:34
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Mái tóc dài như suối, gương mặt, vóc người thuần chất Á Đông, giọng hát thì trong veo, cao vút... NSƯT Quế Trân từ lâu đã là ngọc nữ trong làng cải lương miền Nam. Cô còn là ái nữ trong một dòng họ nổi tiếng năm đời theo nghề hát: đoàn Vĩnh Xuân – Minh Tơ. Bằng những lời lẽ từ tốn, chừng mực, cô kể về quá trình giữ lửa nghề hát của dòng họ mình.
Cha
tôi
kể
lại,
năm
1924
ông
cố
tôi
là
nghệ
sĩ
Hai
Thắng
gom
góp
tiền
bạc
trong
gia
đình,
quyết
định
mua
lại
gánh
hát
bội
của
bà
Ba
Ngoạn,
lập
đoàn
Vĩnh
Xuân.
Gánh
hát
của
ông
bầu
Thắng
chính
là
trụ
cột
của
sân
khấu
cải
lương
tuồng
cổ
về
sau.
Năm
1948,
cha
tôi,
Thanh
Tòng
ra
đời.
Ba
tuổi,
ông
đã
được
ông
nội
dạy
hát,
sáu
tuổi
học
hát
bội,
tám
tuổi
tập
ca
tân
nhạc,
vũ
đạo.
Đầu
năm
1950,
ông
nội
tôi
là
nghệ
sĩ
Minh
Tơ
cùng
các
anh
chị
em
ruột
của
ông
là
Đức
Phú,
Khánh
Hồng,
Bảy
Sự
bắt
đầu
học
hát
cải
lương
của
đoàn
Phụng
Hảo.
Đến
thời
của
cha
thì
cả
gia
đình
hoàn
toàn
hát
cải
lương
tuồng
Tàu.
Năm
1975,
bộ
môn
tuồng
cổ
cải
lương
Minh
Tơ
ra
đời.
Hai
mươi
bốn
tuổi,
cha
tôi
đã
vừa
viết,
dựng,
diễn
cho
nhiều
vở.
Năm
1989,
cha
cũng
là
người
đầu
tiên
đưa
cải
lương
vào
Dù
có
đi
đâu,
làm
gì,
ở
cung
bậc
nào
của
cuộc
sống,
cha
cũng
dạy
anh
em
tôi
sống
phải
luôn
nhớ
đến
gốc
gác
của
mình.
Nghề
hát
thời
của
ông
cố,
ông
nội
thường
trôi
nổi
khắp
nơi
biểu
diễn.
Nhưng
vì
không
muốn
con
cháu
tiếp
tục
sống
đời
gạo
chợ
nước
sông,
năm
1924
ông
cố
tôi
đã
đưa
cả
nhà
về
sinh
sống
tại
đình
Cầu
Quan
(khu
vực
Cầu
Muối
Sài
Gòn)
nhằm
ổn
định
nơi
ăn
ở,
học
hành.
Cha
tôi
chào
đời
dưới
mái
đình
đó.
Xuất
thân
từ
hát
bội
gắn
liền
với
các
tích
tuồng
cổ
nên
cha
và
các
cô
chú
được
đọc
nhiều
sách
thánh
hiền.
Cùng
sống
dưới
một
mái
đình,
trong
một
không
gian
chật
hẹp
nhưng
mọi
thành
viên
trong
đại
gia
đình
Minh
Tơ
luôn
để
trong
đầu
mình
một
câu
tâm
niệm,
sống
phải
biết
sẵn
sàng
hy
sinh
cho
nhau.
Thế
hệ
nối
tiếp
thế
hệ
cùng
bước
vào
nghề,
nắm
giữ
ngọn
lửa
truyền
thống
của
gia
đình
và
có
trách
nhiệm
với
nhau.
Ông
cố
Hai
Thắng
truyền
nghề
lại
cho
ông
nội
Minh
Tơ.
Rồi
ông
nội
lập
nhóm
đồng
ấu
Minh
Tơ,
dạy
cho
cha
Thanh
Tòng,
cô
Xuân
Yến.
Cha
dạy
lại
cho
chú
Bạch
Long,
rồi
chú
tiếp
tục
truyền
nghề
cho
tôi.
Thế
hệ
chúng
tôi
Cũng có một khoảng lặng, đoàn hát bị dư luận định kiến cho rằng mất gốc vì loại hình cải lương tuồng cổ, thậm chí còn bị cấm hát. “Con thuyền” của dòng họ có nguy cơ bị mất lái, cha tôi cùng các cô, chú tìm mọi cách vực dậy đoàn hát, đỏ mắt tìm chỗ đứng cho đoàn. Cha ông làm nghệ thuật nhưng chưa bao giờ ràng buộc con cháu phải theo nghề. Mỗi ngày nhìn mọi người tập luyện, mỗi đêm được nghe hát, lời ca tiếng nhạc thấm vào máu thịt, cái đam mê đó tự nhiên ngấm vào cơ thể mình lúc nào không hay.
Sống cho có nghĩa có tình
Mãi đến sau khi cưới vợ, cha tôi mới tách ra riêng cùng gia đình nhỏ của mình, nhưng những tôn ti, đạo lý của một gia đình Á Đông vẫn được cha giữ gìn cho anh em tôi. Trong nghề, cha là một người nghiêm khắc, trong giáo dục con cái ông rất nghiêm túc. Tám tuổi, tôi mê ánh đèn sân khấu, mê hát ca. Cha để tôi thoả mãn đam mê của mình nhưng ông vẫn luôn nhắc nhở tôi phải học hành, hát chỉ dành cho những ngày hè hoặc lễ hội. Nghề hát lâu nay bị coi thường ít học, cha không muốn anh em tôi trưởng thành với cái đầu ít chữ. Cha dạy tôi hát, còn mẹ tận tuỵ với chiếc xe đạp đưa tôi đến trường, rồi đến sân khấu mỗi khi có dịp được hát. Mẹ cũng là người lo trang phục biểu diễn cho hai cha con. Mẹ là người “ngoại đạo”, nhưng bà luôn bên cạnh, là vị khán giả âm thầm của cha con tôi suốt những năm tháng qua.
Động lực từ mẹ, sự mong mỏi của cha giúp anh em tôi hoàn thành con đường học vấn của mình. Cha tôi đã già nhưng vẫn phải lưu diễn khắp các tỉnh, rồi thức thâu đêm dựng kịch bản, tài chính gia đình phần lớn phụ thuộc vào những chuyến lưu diễn của cha. Tôi bèn khóc, xin cha cho mình tiếp tục lên sân khấu, giúp ông lo gánh nặng gia đình. Mười tám tuổi, tôi nhận huy chương vàng giải Trần Hữu Trang. Cha khóc vì tôi đã có thể giữ gìn nghề của dòng họ, nhưng cha lúc nào cũng căn dặn tôi sống ở đời phải hết sức khiêm nhường, còn nếu tự phụ, tự mãn sẽ tự diệt chính mình. Cha kiệm lời khen với con cái, ông dành từ “khen” đó trong việc trau rèn cho tôi cái thần của nhân vật mỗi khi lên sân khấu. Gia đình tôi dù bận rộn đến đâu cũng cố gắng bên nhau trong bữa cơm chiều. Khoảnh khắc đó, chúng tôi chia sẻ suy nghĩ cùng nhau, về những vấn đề gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Ở những vấn đề đó, cha thường giải thích, cho chúng tôi những lời khuyên sống sao để không thẹn với lòng mình.
Nguyên Cao (ghi)