Miền Tây gánh hát di chuyển đường sông
- Chủ nhật - 06/04/2014 09:55
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này

Ðôi
nghệ
sĩ
Trọng
Hữu-Lê
Thủy
và
các
nghệ
sĩ
di
chuyển
đường
sông
đi
hát
ở
miền
Tây.
(Hình:
Bộ
sưu
tập
của
Ngành
Mai)
Gánh
hát
“Tân
Ðồng
Ban”
ra
đời
ở
Mỹ
Tho
sau
gánh
Thầy
Năm
Tú
vài
năm,
đã
có
một
chiếc
ghe
bầu
vận
chuyển
toàn
bộ
gánh
hát
trên
đường
sông
qua
Vĩnh
Long,
và
lần
lượt
lưu
diễn
khắp
Nam
Kỳ
Lục
Tỉnh.
Lúc
gần
đến
bãi
hát,
trên
ghe
dùng
loa
cầm
tay
quảng
cáo
chương
trình
biểu
diễn
của
gánh
hát.
Giữa
thập
niên
1920,
gánh
hát
Huỳnh
Kỳ-Phùng
Há
của
Bạch
Công
Tử
và
Má
Bảy,
cũng
dùng
2
chiếc
ghe
chài
làm
phương
tiện
đi
lưu
diễn.
Bạch
Công
Tử
là
Lê
Công
Phước,
cũng
có
tên
là
Phước
George
là
con
quan
phủ
ở
Mỹ
Tho,
từng
du
học
bên
Pháp
về.
Vì
quá
mê
mệt
cô
đào
Phùng
Há
nên
lập
gánh
hát
và
câu
chuyện
nếu
kể
ra
đây
thì
rất
dài.
Không
phải
chỉ
khi
xưa
mà
sau
1975
các
gánh
cải
lương
ở
miền
Tây
cũng
đi
lưu
diễn
bằng
ghe
thuyền.
Hầu
hết
đoàn
cải
lương
ở
miền
Tây
đều
phải
trải
qua
bước
đường
lưu
diễn
trên
sông
nước,
không
chỉ
vận
chuyển
mà
nhiều
đoàn
đã
tận
dụng
xuồng,
ghe
đi
quảng
cáo
chương
trình
mỗi
chiều.
Vận
chuyển
trên
sông
thật
vất
vả,
nhứt
là
lên
xuống
đồ
đạc
thì
anh
em
công
nhân
dàn
cảnh
quá
khổ
cực,
có
những
bãi
diễn
xa
bến
sông,
ghe
đậu
cách
cả
trăm
thước.
Rồi
có
những
đêm
diễn
xong,
gặp
lúc
nước
sông
ròng
cạn,
đưa
đồ
đạc
xuống
là
cả
vấn
đề
khó
khăn,
có
khi
đến
2,
3
giờ
khuya
ghe
mới
nhổ
neo
rời
bến.
Và
khi
đến
bến
mới
thì
trời
gần
sáng,
diễn
viên,
công
nhân
vì
quá
mệt
mỏi
sau
đêm
diễn
và
chuyển
bến,
nên
chưa
đến
nơi
họ
đã
ngủ
trên
ghe
thả
hồn
theo
sông
nước.
Trường
hợp
này
năm
1996,
đoàn
cải
lương
Tháp
Mười
từ
Châu
Ðốc
xuống
Cà
Mau,
trên
đường
di
chuyển,
đoàn
cho
ghe
ghé
lại
một
bến,
tạm
nghỉ,
đoàn
mệt
lả
nên
ai
cũng
tìm
giấc
ngủ,
trên
nóc
ghe
chỉ
để
một
ngọn
đèn
dầu
làm
hiệu
thôi.
Sóng
nước
làm
chiếc
ghe
tròng
trành,
đèn
đổ
dầu
phựt
cháy,
khi
mọi
người
hay
được
chỉ
còn
biết
tìm
cách
thoát
thân,
ngọn
lửa
cháy
mạnh
cho
đến
khi
ghe
từ
từ
chìm
lỉm
giữa
lòng
sông.
Tài
sản
của
đoàn
thiệt
hại
gần
95
phần
trăm.
Ðoàn
Bến
Tre
khoảng
năm
1993
phục
vụ
trong
tỉnh
nhà,
chuyển
bến
từ
Bình
Ðại
đi
Chợ
Lách
vào
buổi
trưa,
gần
đến
nơi
ghe
bị
sóng
lớn
ập
vào
làm
mất
thăng
bằng,
nước
tràn
ngập
ghe,
phần
thì
chở
nặng
nên
ghe
nhanh
chóng
chìm
giữa
lòng
sông.
Những
người
bơi
giỏi
cứu
người
không
biết
bơi,
tất
cả
được
thoát
chết,
rồi
cùng
chính
quyền
và
bà
con
địa
phương
trục
vớt
đồ
đạc,
âm
thanh,
phong
màn
đem
lên
bờ
phơi
và
sửa
chữa.
Ðến
hôm
sau
thì
đoàn
lại
kéo
màn
trình
diễn
và
khán
giả
đến
xem
ủng
hộ
rất
đông
nên
cũng
đỡ
khổ.
Cũng
không
ít
những
đoàn
đã
gặp
tương
tự
như
Bến
Tre.
Có
những
năm
kép
Trọng
Hữu
và
đào
Lệ
Thủy
kết
hợp
đi
tăng
cường
cho
các
đoàn
hát
ở
miền
Tây
kiếm
khá
nhiều
tiền
(gần
20
đoàn
giành
giựt
để
có
Lệ
Thủy).
Do
bởi
đồng
bào
ở
vùng
sông
nước
xa
xôi
hiếm
khi
có
dịp
thấy
tận
mắt
đôi
nghệ
sĩ
nói
trên.
Họ
thu
xếp
mọi
công
việc
làm
cho
ổn,
chuẩn
bị
một
số
tiền
khả
dĩ
để
coi
hát,
có
nhà
phải
đi
vay
nợ
hoặc
bán
nông
sản
dự
phòng
để
lấy
tiền
đi
xem
nghệ
sĩ
tài
danh
biểu
diễn.
Từ
chiều,
nếu
cả
gia
đình
muốn
đi
coi
hát
thì
phải
lo
nấu
cơm
sớm,
ăn
không
kịp
thì
gói
lại
mang
đến
bãi
hát
tranh
thủ
kiếm
chỗ
cho
cả
gia
đình.
Ðó
là
chưa
kể
chuyện
mưa
nắng
hay
phải
đứng
chen
chúc,
nhón
gót
cả
tiếng
đồng
hồ
để
coi
hát...
Có
người
ở
xa
điểm
diễn
hàng
chục
cây
số
phải
chèo
xuồng
đi
từ
xế
để
mong
kiếm
chỗ
ngồi
tốt.
Ở
nhiều
vùng
sông
nước,
trong
đêm
diễn
ghe,
xuồng
chiếm
dầy
đặc
cả
một
khúc
sông,
với
đủ
loại
ánh
sáng
tự
có
được
tỏa
sáng
cả
một
vùng.
Sông
nước
thôn
quê
bỗng
nhiên
rực
sáng,
huyên
náo
như
ngày
hội,
mà
thật
ngày
hội
cũng
chưa
chắc
đông
vui
và
có
sức
hút
kỳ
diệu
như
thế.
Nói
chung
dù
gặp
những
khó
khăn
vận
chuyển
trên
sông,
lũ
lụt,
mưa
bảo
anh
chị
em
nghệ
sĩ
vẫn
cùng
sát
cánh
bên
nhau
khắc
phục
hoàn
cảnh
thiên
nhiên
để
đem
đến
món
ăn
tinh
thần
cho
khán
giả
ở
những
vùng
xa
xôi
hẻo
lánh
đó.
Bù
lại
là
niềm
vui
trên
sông
nước,
khi
ghe
vận
chuyển
vào
ban
ngày
thì
mát
mẻ,
thỏa
thích
ngắm
cảnh
đẹp
của
những
dòng
sông
quê
hương
vậy.
Theo
như
Trọng
Hữu
thì
người
dân
ở
vùng
sâu
miền
Tây
sông
nước,
có
lẽ
90
phần
trăm
là
người
nghèo,
nhưng
rất
ái
mộ
nghệ
sĩ,
vé
bán
bao
nhiêu
bà
con
cũng
mua.
Nhiều
người
di
“mần
mướn,”
vậy
mà
họ
dám
nhín
ăn
một
bữa
để
đi
coi
hát,
coi
mặt
nghệ
sĩ.
Không
đủ
tiền
mua
vé,
có
người
bán
cả
đồ
đạc,
gọi
là
đi
coi
cho
biết
một
lần.
Nhiều
bà
con
bịnh
tật
không
có
cả
tiền
mua
thuốc
men
nói
gì
đi
coi
hát,
nên
họ
cố
nài
nỉ
xin
coi
mặt
nghệ
sĩ
rồi
ra
cổng
đứng,
chứ
không
dám
xin
được
coi
hát.
Trọng
Hữu
nói:
“Chị
Lệ
Thủy
và
tôi
cũng
nhiều
lần
đề
nghị
đoàn
giải
quyết
cho
những
bà
con
ấy
vào
xem.”