04:24 PST Thứ ba, 28/02/2017
trang music

Ads

Menu

Thăm dò ý kiến

Bạn ưa thích giọng ca nam nghệ sĩ nào của thế hệ vàng nhất?

Út Trà Ôn

Hữu Phước

Thành Được

Thanh Hải

Minh Cảnh

Phương Quang

Thanh Sang

Minh Phụng

Minh Vương

Hùng Cường

Tấn Tài

Dũng Thanh Lâm

Facebook

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 55

Máy chủ tìm kiếm : 7

Khách viếng thăm : 48


Hôm nayHôm nay : 1991

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 209701

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5521794

Đăng nhập thành viên

ỦNG HỘ CÂY MÙA XUÂN NGHỆ SĨ TẾT ĐINH DẬU 2017

Trong tinh thần lá lành đùm lá rách và góp gió thành bảo, trang nhà cailuongvietnam.com đã khởi sự chương trình quà Tết gửi đến các nghệ sĩ khó khăn, già yếu neo đơn từ mùa lễ , mùa yêu thương của 13 năm về trước: 2004.đến nay. Mỗi năm, thì trang nhà đều có góp sức một chút vào các quỹ của Ban Aí...

Trang nhất » Tin Tức » Tìm Hiểu Nghệ Thuật

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

TIN TỨC TỪ DIỄN ĐÀN SÂN CHƠI CHO KHÁN GIẢ - FORUM FOR CLVN LOVERS

CÓ BAO NHIÊU ĐIỆU LÝ , BÀI BẢN CẢI LƯƠNG?

Đăng lúc: Thứ tư - 09/03/2016 09:57 - Đã xem: 2856
2 thầnh đồng xưa Phượng mAI & Hương Lan

2 thầnh đồng xưa Phượng mAI & Hương Lan

CLVNCOM - Nhạc truyền thống của ta nói chung và nhạc Tài tử Cải lương nói riêng được lãnh hội bằng trí nhớ và được truyền đạt, bảo tồn qua nhiều thế hệ bằng giọng người / trí nhớ mà không cần văn tự để ghi chép.
DANH SÁCH CÁC BÀI BẢN CẢI LƯƠNG

Danh sách theo thứ tự ABC
1 Ái Tử Kê
2 Ánh Nắng
3 Ánh Trăng
4 Bá Hoa
5 Bát Man Tấn Cống
6 Bắc Sơn Trà
7 Bài Tạ (Tọa Ngọc Lầu)
8 Bắn Nhạn
9 Bình Bán Chấn
10 Bình Bán Vắn
11 Bình Sa Lạc Nhạn
12 Cao Phi
13 Cao San
14 Chi Hoa Trường Hận
15 Chiêu Quân
16 Chinh Phụ Ly Tình (Chinh Phụ)
17 Chuồn chuồn
18 Cổ Bản
19 Cổ Bản Vắn
20 Dạ Cổ Hoài Lang
21 Dạ Khúc
22 Đăng Sơn Lãm Thủy (Xàng xàng liu)
23 Đường Thái Tôn
24 Dì Phạn
25 Đoản Khúc Lam Giang
26 Duyên Kỳ Ngộ
27 Giang Nam
28 Giang Nam Cửu Khúc
29 Giang Tô Điểu Ngữ
30 Hàn Giang
31 Hành Vân
32 Hoài Nam Khúc
33 Hoài Tình
34 Hướng Mã Hồi Thành
35 Khốc Hoàng Thiên
36 Khổng Minh tọa lầu
37 Khúc Ca Hoa Chúc
38 Kiều Nương
39 Kim Tiền Bản
40 Kim Tiền Huế
41 Lạc Âm Thiều
42 Lạc Xuân Hoa
43 Lệ Rơi Thấm Đá
44 Liên Hườn
45 Liêu Giang
46 Liễu Thuận Nương
47 Long Đăng
48 Long Hổ Hội
49 Long Hổ (nhạc cải lương)
50 Long Hổ (nhạc Huế)
51 Long Ngâm
52 Lộng Nguyệt
53 Lưu Thủy Đoản
54 Lưu Thủy Hành Vân (Hoài Cầu)
55 Lưu Thủy Trường
56 Lý Ba Tri
57 Lý Bông Dừa
58 Lý Bông Trang
59 Lý Cái Mơn
60 Lý Cây Bông
61 Lý Qua Cầu
62 Lý Chiều Chiều
63 Lý Chiều Chiều Huế
64 Lý Chim Quyên
65 Lý Chim Xanh
66 Lý Con Khỉ
67 Lý Con Sáo
68 Lý Con Sáo Gò Công
69 Lý Con Sáo Sang Sông (Lý Ở Ở)
70 Lý Đất Giồng (Lý Tình Tang)
71 Lý Đêm Trăng
72 Lý Đương Đệm
73 Lý Giao Duyên
74 Lý Lu Là
75 Lý Kéo Chài
76 Lý Mỹ Hưng
77 Lý Mỹ Trà
78 Lý Năm Căn
79 Lý Phước Châu
80 Lý Phước Kiến
81 Lý Qua Cầu
82 Lý Sâm Thương
83 Lý Son Sắc (Lý Tứ Đại)
84 Lý Trăng Soi
85 Lý Tòng Quân (Lý Mù Sương)
86 Lý Tương Phùng (Lý Tư Phùng)
87 Mạnh Lệ Quân
88 Mẫu Đơn
89 Mẫu Tầm Tử
90 Miên Hậu Hồi Cung
91 Minh Châu
92 Nam Ai
93 Nam Đảo (Đảo Ngũ Cung)
94 Nam Xuân
95 Nặng Tình Xưa
96 Ngươn Tiêu Hội Oán
97 Nguyên Tiêu
98 Nguyệt Bác Xuân Đài
99 Ngự Giá Đăng Lâu
100 Ngũ Điểm
101 Ngũ Điểm - Bài tạ
102 Ngựa Ô Bắc
103 Ngựa Ô Nam
104 Ngũ Đối Hạ (bài Hạ)
105 Ngũ Đối Thượng
106 Nhạn Về
107 Phẩm Tuyết
108 Phi Vân Điệp Khúc
109 Phong Ba Đình
110 Phong Nguyệt
111 Phú Lục
112 Phụng Cầu Hoàng (Phụng Cầu/Phụng Cầu Hoàng Duyên)
113 Phụng Hoàng Lai Nghi (Phụng Hoàng Tài Tử/Phụng Hoàng Cầu)
114 Phụng Hoàng Cải Lương (Phụng Hoàng 12 câu)
115 Phụng Nghi Đình
116 Quý Phi Túy Tửu
117 Song Cước
118 Song Phi Hồ Điệp
119 Sơn Đông Hướng Mã
120 Sương Chiều
121 Sương Chiều - Tú Anh
122 Tam Pháp Nhập Môn
123 Tân Xái Phỉ
124 Tấn Phong
125 Tẩu Mã
126 Tây Mai
127 Tây Thi
128 Thanh Dạ Đề Quyên
129 Thu Hồ
130 Thu Hồ Diệp Lạc
131 Thu Phong
132 Thủ Bình Bán
133 Thủ Phong Nguyệt
134 Tiểu Khúc
135 Tô Võ Mục Dương
136 Trạng Nguyên Hành Lộ
137 Trăng Thu Dạ Khúc
138 Trăng Thu lớp Vĩ
139 Trống Quân
140 Trung Thu
141 Trường Tương Tư
142 Tú Anh
143 Từ Bá Tướng (Đại Bá Đương)
144 Tử Qui Từ
145 Tứ Đại Oán
146 Tùng Lâm Dạ Lãm
147 Ú Liu Ú Xáng (Thiên Bất Túc)
148 Uyên Ương Hội Vũ
149 Vạn Giá
150 Văn Thiên Tường
151 Vạn Huê Trường Hận
152 Vọng Kim Lang
153 Võ Biền Xuất Đội
154 Võ Tắc Biệt
155 Võ Văn Hội Oán
156 Xuân Nữ
157 Xuân Phong
158 Xuân Tình
159 Xàng Xê lớp Hò
160 Xàng Xê lớp Xề
161 Xang Xừ Líu
162 Xế xảng
163 Sâm Thương


CÁC BÀI BẢN TÀI TỬ CẢI LƯƠNG

Nhạc truyền thống của ta nói chung và nhạc Tài tử Cải lương nói riêng được lãnh hội bằng trí nhớ và được truyền đạt, bảo tồn qua nhiều thế hệ bằng giọng người / trí nhớ mà không cần văn tự để ghi chép. Tuy vậy lúc đầu còn ít bài bản (vài chục bài) còn có thể nhớ, ngày nay đã hơn trăm bản không ai nhớ hết được, nếu không ghi chép lại thì dễ bị thất lạc, rất uổng. Hơn nữa ghi chép lại thì phổ biến dễ và mau hơn.

Phần còn lại của bài này được chia thành 5 phần:
A. Những Sưu Tầm Đầu Tiên
B. Các Sưu Tập Sau Này
C. Phân Loại Các Bài Bản
D. Cách Dùng Các Bài Bản
E. Liệt Kê Các Bài Bản

Phần A điểm qua những tuyển tập đầu tiên về các bản đờn và lời hát của các điệu hát cải lương.
Phần B nhắc đến các quyển sách “tương đối” cập nhựt hơn.
Phần C phân loại các bài bản cải lương dựa theo các tài liệu cũ. Phần D điểm qua các bài bản thông dụng / thường hay dùng.
Phần E liệt kê tất cả các bài bản được biết cho tới nay.

A. Những Sưu Tầm Đầu Tiên

Bộ sưu tập các bản đờn và lời ca cải lương được in / xuất bản xưa nhất có lẽ là ở khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 (không kể các bộ sưu tập chép tay, không được biết tới). Ông Vương Hồng Sển, trong cuốn “Hồi Ký 50 Năm Mê Hát” của ông, do cơ sở Phạm Quang Khải xuất bản, 08.1968, cho biết ông còn giữ được các tài liệu sau:

“Bản Đờn Tranh & Bài Ca”, 12.1909, do Phụng Hoàng San chủ bút, Đinh Thái Sơn (còn tên khác là Phát Toán) xuất bản lần thứ tư tại nhà in Libraire-Imprimeur, 55-57 rue d’Ormay, Saigon.
Trong quyển này có các bản đờn của 11 điệu và lời của 24 bài hát: Lưu Thủy Trường (1), Phú Lục (1), Bình Bán Chấn (1), Xuân Tình (1), Bình Bán Vắn (1), Bát Man Tấn Cống (1), Tứ Đại (7), Phụng Hoàng (1), Nam Xuân (1), Nam Ai (2), Tứ Đại Cảnh (7).

“Lục Tài Tử”, 12.06.1915, của Đặng Tiền Nhiều, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca, có 18 lời hát của các điệu: Tứ Đại (14), Phụng Hoàng (2), Nam Ai (1), Nam Xuân (1).

“Thập Tài Tử”, 15.06.1915, của Đặng Đắc Lợi, Đinh Thái Sơn xuất bản kỳ nhứt, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon.
Đây là một tập bài ca, có 19 lời hát của các điệu:
Tứ Đại (16), Phụng Hoàng (1), Phú Lục (1), Lý 6 bài Bắc (6).

“Tứ Tài Tử”, 16.06.1915, của Đặng Nhiều Hơn, do Đinh Thái Sơn xuất bản – nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca, có 21 lời hát của các điệu: Tứ Đại (16), Nam Xuân (2), Lưu Thủy (2), Bình Bán Vắn (1).

“Bát Tài Tử”, 29.08.1915, của Nguyễn Tùng Bá, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca với 21 lời hát của bài Tứ Đại.

Với các cuốn “Lục Tài Tử”, “Thập Tài Tử” và “Tứ Tài Tử” ông Vương Hồng Sển nghi rằng tên họ tác giả trên bìa sách là không đúng sự thật và có khi bịa đặt (vì các tên hơi giống nhau và hơi kỳ quặc: Đặng Tiền Nhiều, Đặng Đắc Lợi, Đặng Nhiều Hơn ?!?), có thể chỉ là người sưu tầm / trích lục mà không đề tên thật.

Để ý là “Bản Đờn Tranh & Bài Ca” xuất bản tháng 12 năm 1909 là tái bản / in lần thứ 4, vậy lần xuất bản đầu tiên cũng khoảng 1-2 năm trước đó: 1907-1908.

B. Các Sưu Tập Sau Này

Giới đàn ca tài tử trước đây thường nhắc tới hai cuốn:
“Cầm Ca Tân Điệu”, của Lê Văn Tiến, xuất bản ở Sài Gòn, khoảng năm 1930.
“Cổ Nhạc Tầm Nguyên”, do một số nghệ sĩ và nhạc sĩ sưu tầm, xuất bản ở Sài Gòn, không rõ năm nào.

Hai cuốn này thì Chín Đờn Cò cũng chỉ nghe qua thôi chớ chưa biết / thấy hình dung ra sao (vì xưa quá). Còn nhiều quyển nữa của các nhạc sĩ Sáu Tửng, Năm Hưng, v.v… cũng xuất bản tại Sài Gòn. Bà con nào có các quyển nói trên xin vui lòng lên tiếng và chỉ bảo cho mọi người.

Phần lớn đi học trực tiếp ở các thầy đờn / nghệ sĩ / nghệ nhân hoặc học qua bạn bè. Đờn / nghe riếc rồi thấm, rồi thuộc lòng không cần ghi chép. Chỉ có loại u mê như Chín Đờn Cò, học mười hiểu một, mới phải lui cui chép lại các bài bản rồi từ từ học.

Gần đây có quyển “Tìm Hiểu Âm Nhạc Cải Lương” của Đắc Nhẫn, xuất bản ở Sài Gòn, năm 1987. Quyển này chủ yếu dựa vào “Cầm Ca Tân Điệu” của Lê Văn Tiến, có bổ sung thêm và xếp loại lại. Nhiều chi tiết trong bài viết này được trích từ quyển này.

Nên nhắc qua là các bản đờn trong các sách nói trên có tính ước lệ / “lòng bản”, tức là chỉ chứa các âm chính, tiêu biểu cho điệu hát. Các bản đờn được ký âm bằng hệ thống ngũ âm cổ truyền (Hò – Xự – Xang – Xê – Cống – …). Bản đờn với cách ghi này thường có các chữ đờn tương đối rời rạc, chỉ dùng để hát / xướng âm và để lưu trử, bởi vì nếu đờn sao ghi vậy thì rất dài dòng, phức tạp. Mỗi người đờn mỗi khác, không ai giống ai. Ngay cả đối với cùng một người thì cũng có khi đờn lúc này, lúc khác, không cố định, chỉ có hát là tương đối giống nhau thôi.

Với cách xướng âm có tính tượng trưng / ước lệ như vậy thì đờn từng chữ, đúng theo như bản ghi, thì khó mà nghe ra nhạc. Người đờn trên thực tế phải thêm / bớt các chữ đờn sao cho nghe được liền lạc, trôi chảy (nhưng không được vượt ra ngoài lòng bản). Đờn cải lương thường là để hòa với người hát, chỉ cần giữ đúng NHỊP và đúng những chữ đờn quan trọng (thường là ở cuối mỗi câu) để cho ra ĐIỆU, còn những chổ khác thì … tự do. Đờn làm sao mà hài hòa với lời hát là được.

C. Phân Loại Các Bài Bản Tài tử cải Lương

Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:

Nhứt Lý : các điệu Lý
Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc …
Tam Nam : ba bài Nam lớn
Tứ Oán : các bài Oán
Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
Lục Xuất : sáu bài ngắn
Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
Bát Ngự : tám bài Ngự
Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn
Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãi.

Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậy.

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :

Lý Con Sáo
Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
Lý Thập Tình
Lý Giao Duyên
Lý Vọng Phu
Lý Chiều Chiều
Lý Cái Mơn
Lý Huế
Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Ai. Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm

Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam

Gồm ba bài Nam:
Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.
Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dung nhất.
Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

Trong “Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam” của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam Chạy.
Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (trong Bát Ngự).
Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán

Gồm các bài:
Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.
Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo não. Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dung lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.
Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dựng.
Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.
Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.
Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường.
Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm

Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.
Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).
Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).
Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.
Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.
Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).
Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất

Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
Bình Bán Vắn
Tây Thi Vắn
Cổ Bản Vắn
Xuân Phong
Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhau.
Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọi.

7. Thất Chinh

Gồm bảy bài:
Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.
Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
Vạn Giá
Tiểu Khúc

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự

Gồm tám bài:
Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng.
Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã vui tươi.
Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo não. Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Ai. Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư.

9. Cửu Nhĩ

Gồm hai bài:
Hội Nguyên Tiêu
Bát Bản Chấn
Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ

Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóa. Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhau.

Phẩm Tuyết
Nguyên Tiêu
Hồ Quảng
Liên Hoàn
Bình Bản (Bình Nguyên)
Tây Mai
Kim Tiền Huế
Xuân Phong
Long Hổ
Tẩu Mã
Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950. Cho đến nay đã có hơn 100 bài được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn.
Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ – trung bình, trung bình – lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi …)

D. Cách Dùng Các Bài Bản

Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng … mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các bản: Long Hổ Hội, Ngũ Điểm – Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều, Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản : Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dung các bản : Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê.
Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản:
Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng : Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Tạ.

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v…

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi mà thôi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiều. Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữa. Các soạn giả chỉ sáng tác lời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).


Sưu Tầm
Email liên hệ; thiengia@cailuongvietnam.com

Nguồn tin: khangianhandan tổng hợp - CLVNCOM
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
tế

Xem ngày trong tuần

Ngày 28/02/2017 nhằm ngày 03/02/2017 ÂL (ngày Bính Tuất tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Thiên Lao Hắc Đạo.
Trực: Thành.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Dậu (17-19), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Mậu thìn,Nhâm ngọ,Nhâm thìn*,Nhâm tý,Nhâm tuất.

Ngày 01/03/2017 nhằm ngày 04/02/2017 ÂL (ngày Đinh Hợi tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Nguyên Vũ Hắc Đạo.
Trực: Thu.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Kỷ tỵ,Quý mùi,Quý tỵ*,Quý sửu,Quý hợi.

Ngày 02/03/2017 nhằm ngày 05/02/2017 ÂL (ngày Mậu Tý tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (-1) - Xấu.
Ngày: Tư Mệnh Hoàng Đạo.
Trực: Khai.
Không nên: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Thân (15-17), Dậu (17-19).
Tuổi xung khắc với ngày: Giáp ngọ,Bính ngọ.

Ngày 03/03/2017 nhằm ngày 06/02/2017 ÂL (ngày Kỷ Sửu tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Câu Trận Hắc Đạo.
Trực: Bế.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Mão (5-7), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Ất mùi,Đinh mùi.

Ngày 04/03/2017 nhằm ngày 07/02/2017 ÂL (ngày Canh Dần tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (2) - Quá tốt.
Ngày: Thanh Long Hoàng Đạo.
Trực: Kiến.
Tốt đối với: Khai trương/ Tế tự, tế lễ/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ An táng, mai táng/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Mùi (13-15), Tuất (19-21).
Tuổi xung khắc với ngày: Giáp tý,Nhâm thân,Giáp ngọ,Mậu thân.

Ngày 05/03/2017 nhằm ngày 08/02/2017 ÂL (ngày Tân Mão tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (1) - Tốt.
Ngày: Minh Đường Hoàng Đạo.
Trực: Trừ.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Dần (3-5), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Dậu (17-19).
Tuổi xung khắc với ngày: Ất sửu,Quý dậu,Ất mùi,Kỷ dậu.

Ngày 06/03/2017 nhằm ngày 09/02/2017 ÂL (ngày Nhâm Thìn tháng Quý Mão năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Thiên Hình Hắc Đạo.
Trực: Trừ.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Dậu (17-19), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Bính dần,Giáp tuất,Bính tuất*,Bính thân,Bính thìn.

du lich

CHUYỂN ĐẾN

Ủng hộ quỹ cây mùa xuân NS 2017

san choi cho khan gia noel
NSMAU

Tỷ giá ngoại tệ

Tháng Hai 28, 2017, 3:25 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 17,300.09 17,404.52 17,559.73
CAD 17,017.42 17,171.97 17,394.55
CHF 22,310.19 22,467.46 22,758.67
DKK - 3,194.95 3,295.15
EUR 23,930.62 24,002.63 24,216.68
GBP 27,979.67 28,176.91 28,428.18
HKD 2,892.29 2,912.68 2,956.34
INR - 340.52 353.89
JPY 199.76 201.78 203.58
KRW 18.59 19.57 20.80
KWD - 74,465.95 77,389.05
MYR - 5,094.38 5,160.41
NOK - 2,681.62 2,765.73
RUB - 357.13 436.87
SAR - 6,058.71 6,296.54
SEK - 2,486.44 2,549.08
SGD 16,032.20 16,145.22 16,321.81
THB 639.87 639.87 666.57
USD 22,740.00 22,740.00 22,810.00
tet binh than

“Tư Ếch” Văn Hường hội ngộ "cô đào" Lệ Thủy

Nghệ sĩ Văn Hường nói ông không định cư ở Mỹ như lời đồn mà sống ẩn tích tại quê nhà, quận 9, Saigon..

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/letvh.jpg

Cần “triệt” game show truyền hình vô bổ

Nhiều người kêu gọi cơ quan chức năng nên sàng lọc các game show truyền hình vô bổ để dành thời lượng cho những chương trình mang tính giáo dục

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/gameshow.png

Elvis Phương được vợ chăm sóc chu đáo trong hậu trường "Tình khúc vượt thời gian"

Cùng xuất hiện trong buổi ghi hình chương trình "Tình khúc vượt thời gian", vợ chồng danh ca Elvis Phương nhận được nhiều sự chú ý của khán giả. Danh ca được vợ chăm sóc tận tình, chu đáo trong hậu trường.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/elvis-phuong.jpg

Một cách thưởng tuồng xấu xí

Từ tháng Giêng đến tháng Năm (âm lịch), các làng biển Bình Định thường tổ chức lễ hội cầu ngư. Trừ những trường hợp hy hữu, còn lại, trong lễ hội chắc chắn sẽ có hát tuồng. Trong hát tuồng, ắt phải có tiếng trống chầu. Tiếng trống chầu giữ vai trò quan trọng trong đêm diễn, nó là cầu nối giữa khán giả và diễn viên, tiếng trống chầu thể hiện khen - chê, thưởng - phạt với vở diễn, với diễn viên.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/chau.jpg

Đoàn Cải lương Tây Đô dựng vở mới về đề tài xây dựng nông thôn mới

Đoàn Cải lương Tây Đô (thuộc Nhà hát Tây Đô) vừa hoàn thành tập dợt vở cải lương "Tình quê". Vở diễn do tác giả Nguyễn Quốc Vinh viết kịch bản, đạo diễn Kiều Mỹ Dung dàn dựng, NSƯT Hồ Văn Thành chỉ huy dàn nhạc.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/131.jpg

Bộ phim điện ảnh Việt Nam đầu tiên được đề cử tranh “Giải Remi”

“Cha cõng con - Father and Son” trở thành bộ phim điện ảnh Việt Nam đầu tiên được đề cử tranh “Giải Remi” - Liên hoan phim quốc tế Houston lần thứ 50, sẽ diễn ra từ ngày 21-30.4, tại bang Texas, Mỹ.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/cha.png

Làm sân khấu "tử tế": Cần “bàn tay” nâng đỡ

Đừng để những vở kịch có chất lượng nghệ thuật cao, đậm tính nhân văn phải tự bơi trong cuộc tranh đua ở thị trường

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/htt.jpg

Thầy, trò và cải lương

Trong khó khăn, nhiều nghệ sĩ cải lương đặt mình vào vị trí làm thầy đã chọn những diễn viên trẻ và xem họ như hậu duệ, khơi dòng chảy chân truyền

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/gan.jpg

Danh hài Bảo Quốc: 'Mấy ngày tết, yêu nhất nồi thịt kho vợ nấu'

Tết này, sau một năm không gặp khán giả VN, NSƯT Bảo Quốc đã thu xếp trở về nước để kịp đón Tết Đinh Dậu cùng gia đình. Trông ông khỏe ra và vui vẻ trò chuyện với PV Tuổi Trẻ trong không khí xuân mới.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/bq.jpg

Tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê

“Mộ Nguyễn Hiến Lê hả? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ” - chị D. lắc đầu. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật. Tôi cứ nghĩ một học giả tài đức vẹn toàn như cụ thì ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ chị - người công tác trong lĩnh vực văn hóa.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/nguyen-hien-le.jpg

Vĩnh biệt đạo diễn vang bóng một thời của Sài Gòn

Đạo diễn Lê Mộng Hoàng, một tên tuổi của điện ảnh Sài Gòn trước 1975 đã qua đời vào 3 giờ sáng 23-2 tại nhà riêng ở đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận (TP.HCM).

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/le-mong-hoang3_vgwy.png

Nữ diễn viên “xấu nhất” phim Quỳnh Dao và nỗi khổ cả đời sống chung với nghi án giết chồng

Cuộc đời Lưu Tuyết Hoa như một cuốn phim buồn ngập tràn nước mắt.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/luu-tuyet-hoa.jpg

NSƯT Thanh Tuấn từ thợ đan ghế mây thành danh ca vọng cổ

Danh ca Thanh Tuấn không quên cái thưở hàn vi khi còn là anh thợ đan ghế mây

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/thanhtuan305.jpg

Thí sinh "Cặp đôi hài hước" mỉa mai chiêu trò “rẻ tiền” trong showbiz

Những chiêu trò cùng những xì-căng-dan đình đám từng được báo chí phản ánh sẽ xuất hiện trong tập 3 của chương trình "Cặp đôi hài hước" qua lăng kính hài hước của các nghệ sĩ trẻ.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/vmlbl.jpg

HƯƠNG TÌNH CÀ PHÊ

CLVNCOM - Lý Tòng Quân La cà , la cà quán em Quán ven sông, trót thương cô em rồi Người xinh, chân hơi dài, pha cà phê ngon

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/huongcafe.jpg

NSƯT Trường Sơn & tai nạn "nghề nghiệp" đầu năm

NSƯT Trường Sơn đã trải lòng sau vụ trần nhà hậu trường rạp Công Nhân (quận 1, TP HCM) bất ngờ sụp ngay chỗ ông hóa trang, khiến ông bị thương cánh tay trái.

 
/newclvn/uploads/news/2017/02/tsts.jpg
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1