10:14 PDT Thứ hai, 22/05/2017
trang music

Ads

Menu

Thăm dò ý kiến

Nữ nghệ sĩ thế hệ vàng được yêu thích nhất

Thanh Hương

Út Bạch Lan

Diệu Hiền

Ngọc Hương

Thanh Nga

Bạch Tuyết

Lệ Thủy

Mỹ Châu

Thanh Kim Huệ

Bích Hạnh

Xuân Lan

Bích Sơn

Ngọc Giàu

Mộng Tuyền

Thanh Thanh Hoa

Facebook

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 46

Máy chủ tìm kiếm : 13

Khách viếng thăm : 33


Hôm nayHôm nay : 5353

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 184650

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6241163

GIÚP ĐỠ NS KHÓ KHĂN, GIÀ YẾU, NEO ĐƠN VÀ CÁC HỘ NGHÈO

ỦNG HỘ CÂY MÙA XUÂN NGHỆ SĨ TẾT ĐINH DẬU 2017

Trong tinh thần lá lành đùm lá rách và góp gió thành bảo, trang nhà cailuongvietnam.com đã khởi sự chương trình quà Tết gửi đến các nghệ sĩ khó khăn, già yếu neo đơn từ mùa lễ , mùa yêu thương của 13 năm về trước: 2004.đến nay. Mỗi năm, thì trang nhà đều có góp sức một chút vào các quỹ của Ban Aí...

Trang nhất » Tin Tức » Tìm Hiểu Nghệ Thuật

SN13

TIN TỨC TỪ DIỄN ĐÀN SÂN CHƠI CHO KHÁN GIẢ - FORUM FOR CLVN LOVERS

du lich

CÓ BAO NHIÊU ĐIỆU LÝ , BÀI BẢN CẢI LƯƠNG?

Đăng lúc: Thứ tư - 09/03/2016 09:57 - Đã xem: 3814
2 thầnh đồng xưa Phượng mAI & Hương Lan

2 thầnh đồng xưa Phượng mAI & Hương Lan

CLVNCOM - Nhạc truyền thống của ta nói chung và nhạc Tài tử Cải lương nói riêng được lãnh hội bằng trí nhớ và được truyền đạt, bảo tồn qua nhiều thế hệ bằng giọng người / trí nhớ mà không cần văn tự để ghi chép.
DANH SÁCH CÁC BÀI BẢN CẢI LƯƠNG

Danh sách theo thứ tự ABC
1 Ái Tử Kê
2 Ánh Nắng
3 Ánh Trăng
4 Bá Hoa
5 Bát Man Tấn Cống
6 Bắc Sơn Trà
7 Bài Tạ (Tọa Ngọc Lầu)
8 Bắn Nhạn
9 Bình Bán Chấn
10 Bình Bán Vắn
11 Bình Sa Lạc Nhạn
12 Cao Phi
13 Cao San
14 Chi Hoa Trường Hận
15 Chiêu Quân
16 Chinh Phụ Ly Tình (Chinh Phụ)
17 Chuồn chuồn
18 Cổ Bản
19 Cổ Bản Vắn
20 Dạ Cổ Hoài Lang
21 Dạ Khúc
22 Đăng Sơn Lãm Thủy (Xàng xàng liu)
23 Đường Thái Tôn
24 Dì Phạn
25 Đoản Khúc Lam Giang
26 Duyên Kỳ Ngộ
27 Giang Nam
28 Giang Nam Cửu Khúc
29 Giang Tô Điểu Ngữ
30 Hàn Giang
31 Hành Vân
32 Hoài Nam Khúc
33 Hoài Tình
34 Hướng Mã Hồi Thành
35 Khốc Hoàng Thiên
36 Khổng Minh tọa lầu
37 Khúc Ca Hoa Chúc
38 Kiều Nương
39 Kim Tiền Bản
40 Kim Tiền Huế
41 Lạc Âm Thiều
42 Lạc Xuân Hoa
43 Lệ Rơi Thấm Đá
44 Liên Hườn
45 Liêu Giang
46 Liễu Thuận Nương
47 Long Đăng
48 Long Hổ Hội
49 Long Hổ (nhạc cải lương)
50 Long Hổ (nhạc Huế)
51 Long Ngâm
52 Lộng Nguyệt
53 Lưu Thủy Đoản
54 Lưu Thủy Hành Vân (Hoài Cầu)
55 Lưu Thủy Trường
56 Lý Ba Tri
57 Lý Bông Dừa
58 Lý Bông Trang
59 Lý Cái Mơn
60 Lý Cây Bông
61 Lý Qua Cầu
62 Lý Chiều Chiều
63 Lý Chiều Chiều Huế
64 Lý Chim Quyên
65 Lý Chim Xanh
66 Lý Con Khỉ
67 Lý Con Sáo
68 Lý Con Sáo Gò Công
69 Lý Con Sáo Sang Sông (Lý Ở Ở)
70 Lý Đất Giồng (Lý Tình Tang)
71 Lý Đêm Trăng
72 Lý Đương Đệm
73 Lý Giao Duyên
74 Lý Lu Là
75 Lý Kéo Chài
76 Lý Mỹ Hưng
77 Lý Mỹ Trà
78 Lý Năm Căn
79 Lý Phước Châu
80 Lý Phước Kiến
81 Lý Qua Cầu
82 Lý Sâm Thương
83 Lý Son Sắc (Lý Tứ Đại)
84 Lý Trăng Soi
85 Lý Tòng Quân (Lý Mù Sương)
86 Lý Tương Phùng (Lý Tư Phùng)
87 Mạnh Lệ Quân
88 Mẫu Đơn
89 Mẫu Tầm Tử
90 Miên Hậu Hồi Cung
91 Minh Châu
92 Nam Ai
93 Nam Đảo (Đảo Ngũ Cung)
94 Nam Xuân
95 Nặng Tình Xưa
96 Ngươn Tiêu Hội Oán
97 Nguyên Tiêu
98 Nguyệt Bác Xuân Đài
99 Ngự Giá Đăng Lâu
100 Ngũ Điểm
101 Ngũ Điểm - Bài tạ
102 Ngựa Ô Bắc
103 Ngựa Ô Nam
104 Ngũ Đối Hạ (bài Hạ)
105 Ngũ Đối Thượng
106 Nhạn Về
107 Phẩm Tuyết
108 Phi Vân Điệp Khúc
109 Phong Ba Đình
110 Phong Nguyệt
111 Phú Lục
112 Phụng Cầu Hoàng (Phụng Cầu/Phụng Cầu Hoàng Duyên)
113 Phụng Hoàng Lai Nghi (Phụng Hoàng Tài Tử/Phụng Hoàng Cầu)
114 Phụng Hoàng Cải Lương (Phụng Hoàng 12 câu)
115 Phụng Nghi Đình
116 Quý Phi Túy Tửu
117 Song Cước
118 Song Phi Hồ Điệp
119 Sơn Đông Hướng Mã
120 Sương Chiều
121 Sương Chiều - Tú Anh
122 Tam Pháp Nhập Môn
123 Tân Xái Phỉ
124 Tấn Phong
125 Tẩu Mã
126 Tây Mai
127 Tây Thi
128 Thanh Dạ Đề Quyên
129 Thu Hồ
130 Thu Hồ Diệp Lạc
131 Thu Phong
132 Thủ Bình Bán
133 Thủ Phong Nguyệt
134 Tiểu Khúc
135 Tô Võ Mục Dương
136 Trạng Nguyên Hành Lộ
137 Trăng Thu Dạ Khúc
138 Trăng Thu lớp Vĩ
139 Trống Quân
140 Trung Thu
141 Trường Tương Tư
142 Tú Anh
143 Từ Bá Tướng (Đại Bá Đương)
144 Tử Qui Từ
145 Tứ Đại Oán
146 Tùng Lâm Dạ Lãm
147 Ú Liu Ú Xáng (Thiên Bất Túc)
148 Uyên Ương Hội Vũ
149 Vạn Giá
150 Văn Thiên Tường
151 Vạn Huê Trường Hận
152 Vọng Kim Lang
153 Võ Biền Xuất Đội
154 Võ Tắc Biệt
155 Võ Văn Hội Oán
156 Xuân Nữ
157 Xuân Phong
158 Xuân Tình
159 Xàng Xê lớp Hò
160 Xàng Xê lớp Xề
161 Xang Xừ Líu
162 Xế xảng
163 Sâm Thương


CÁC BÀI BẢN TÀI TỬ CẢI LƯƠNG

Nhạc truyền thống của ta nói chung và nhạc Tài tử Cải lương nói riêng được lãnh hội bằng trí nhớ và được truyền đạt, bảo tồn qua nhiều thế hệ bằng giọng người / trí nhớ mà không cần văn tự để ghi chép. Tuy vậy lúc đầu còn ít bài bản (vài chục bài) còn có thể nhớ, ngày nay đã hơn trăm bản không ai nhớ hết được, nếu không ghi chép lại thì dễ bị thất lạc, rất uổng. Hơn nữa ghi chép lại thì phổ biến dễ và mau hơn.

Phần còn lại của bài này được chia thành 5 phần:
A. Những Sưu Tầm Đầu Tiên
B. Các Sưu Tập Sau Này
C. Phân Loại Các Bài Bản
D. Cách Dùng Các Bài Bản
E. Liệt Kê Các Bài Bản

Phần A điểm qua những tuyển tập đầu tiên về các bản đờn và lời hát của các điệu hát cải lương.
Phần B nhắc đến các quyển sách “tương đối” cập nhựt hơn.
Phần C phân loại các bài bản cải lương dựa theo các tài liệu cũ. Phần D điểm qua các bài bản thông dụng / thường hay dùng.
Phần E liệt kê tất cả các bài bản được biết cho tới nay.

A. Những Sưu Tầm Đầu Tiên

Bộ sưu tập các bản đờn và lời ca cải lương được in / xuất bản xưa nhất có lẽ là ở khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 (không kể các bộ sưu tập chép tay, không được biết tới). Ông Vương Hồng Sển, trong cuốn “Hồi Ký 50 Năm Mê Hát” của ông, do cơ sở Phạm Quang Khải xuất bản, 08.1968, cho biết ông còn giữ được các tài liệu sau:

“Bản Đờn Tranh & Bài Ca”, 12.1909, do Phụng Hoàng San chủ bút, Đinh Thái Sơn (còn tên khác là Phát Toán) xuất bản lần thứ tư tại nhà in Libraire-Imprimeur, 55-57 rue d’Ormay, Saigon.
Trong quyển này có các bản đờn của 11 điệu và lời của 24 bài hát: Lưu Thủy Trường (1), Phú Lục (1), Bình Bán Chấn (1), Xuân Tình (1), Bình Bán Vắn (1), Bát Man Tấn Cống (1), Tứ Đại (7), Phụng Hoàng (1), Nam Xuân (1), Nam Ai (2), Tứ Đại Cảnh (7).

“Lục Tài Tử”, 12.06.1915, của Đặng Tiền Nhiều, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca, có 18 lời hát của các điệu: Tứ Đại (14), Phụng Hoàng (2), Nam Ai (1), Nam Xuân (1).

“Thập Tài Tử”, 15.06.1915, của Đặng Đắc Lợi, Đinh Thái Sơn xuất bản kỳ nhứt, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon.
Đây là một tập bài ca, có 19 lời hát của các điệu:
Tứ Đại (16), Phụng Hoàng (1), Phú Lục (1), Lý 6 bài Bắc (6).

“Tứ Tài Tử”, 16.06.1915, của Đặng Nhiều Hơn, do Đinh Thái Sơn xuất bản – nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca, có 21 lời hát của các điệu: Tứ Đại (16), Nam Xuân (2), Lưu Thủy (2), Bình Bán Vắn (1).

“Bát Tài Tử”, 29.08.1915, của Nguyễn Tùng Bá, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca với 21 lời hát của bài Tứ Đại.

Với các cuốn “Lục Tài Tử”, “Thập Tài Tử” và “Tứ Tài Tử” ông Vương Hồng Sển nghi rằng tên họ tác giả trên bìa sách là không đúng sự thật và có khi bịa đặt (vì các tên hơi giống nhau và hơi kỳ quặc: Đặng Tiền Nhiều, Đặng Đắc Lợi, Đặng Nhiều Hơn ?!?), có thể chỉ là người sưu tầm / trích lục mà không đề tên thật.

Để ý là “Bản Đờn Tranh & Bài Ca” xuất bản tháng 12 năm 1909 là tái bản / in lần thứ 4, vậy lần xuất bản đầu tiên cũng khoảng 1-2 năm trước đó: 1907-1908.

B. Các Sưu Tập Sau Này

Giới đàn ca tài tử trước đây thường nhắc tới hai cuốn:
“Cầm Ca Tân Điệu”, của Lê Văn Tiến, xuất bản ở Sài Gòn, khoảng năm 1930.
“Cổ Nhạc Tầm Nguyên”, do một số nghệ sĩ và nhạc sĩ sưu tầm, xuất bản ở Sài Gòn, không rõ năm nào.

Hai cuốn này thì Chín Đờn Cò cũng chỉ nghe qua thôi chớ chưa biết / thấy hình dung ra sao (vì xưa quá). Còn nhiều quyển nữa của các nhạc sĩ Sáu Tửng, Năm Hưng, v.v… cũng xuất bản tại Sài Gòn. Bà con nào có các quyển nói trên xin vui lòng lên tiếng và chỉ bảo cho mọi người.

Phần lớn đi học trực tiếp ở các thầy đờn / nghệ sĩ / nghệ nhân hoặc học qua bạn bè. Đờn / nghe riếc rồi thấm, rồi thuộc lòng không cần ghi chép. Chỉ có loại u mê như Chín Đờn Cò, học mười hiểu một, mới phải lui cui chép lại các bài bản rồi từ từ học.

Gần đây có quyển “Tìm Hiểu Âm Nhạc Cải Lương” của Đắc Nhẫn, xuất bản ở Sài Gòn, năm 1987. Quyển này chủ yếu dựa vào “Cầm Ca Tân Điệu” của Lê Văn Tiến, có bổ sung thêm và xếp loại lại. Nhiều chi tiết trong bài viết này được trích từ quyển này.

Nên nhắc qua là các bản đờn trong các sách nói trên có tính ước lệ / “lòng bản”, tức là chỉ chứa các âm chính, tiêu biểu cho điệu hát. Các bản đờn được ký âm bằng hệ thống ngũ âm cổ truyền (Hò – Xự – Xang – Xê – Cống – …). Bản đờn với cách ghi này thường có các chữ đờn tương đối rời rạc, chỉ dùng để hát / xướng âm và để lưu trử, bởi vì nếu đờn sao ghi vậy thì rất dài dòng, phức tạp. Mỗi người đờn mỗi khác, không ai giống ai. Ngay cả đối với cùng một người thì cũng có khi đờn lúc này, lúc khác, không cố định, chỉ có hát là tương đối giống nhau thôi.

Với cách xướng âm có tính tượng trưng / ước lệ như vậy thì đờn từng chữ, đúng theo như bản ghi, thì khó mà nghe ra nhạc. Người đờn trên thực tế phải thêm / bớt các chữ đờn sao cho nghe được liền lạc, trôi chảy (nhưng không được vượt ra ngoài lòng bản). Đờn cải lương thường là để hòa với người hát, chỉ cần giữ đúng NHỊP và đúng những chữ đờn quan trọng (thường là ở cuối mỗi câu) để cho ra ĐIỆU, còn những chổ khác thì … tự do. Đờn làm sao mà hài hòa với lời hát là được.

C. Phân Loại Các Bài Bản Tài tử cải Lương

Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:

Nhứt Lý : các điệu Lý
Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc …
Tam Nam : ba bài Nam lớn
Tứ Oán : các bài Oán
Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
Lục Xuất : sáu bài ngắn
Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
Bát Ngự : tám bài Ngự
Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn
Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãi.

Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậy.

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :

Lý Con Sáo
Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
Lý Thập Tình
Lý Giao Duyên
Lý Vọng Phu
Lý Chiều Chiều
Lý Cái Mơn
Lý Huế
Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Ai. Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm

Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam

Gồm ba bài Nam:
Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.
Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dung nhất.
Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

Trong “Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam” của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam Chạy.
Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (trong Bát Ngự).
Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán

Gồm các bài:
Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.
Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo não. Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dung lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.
Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dựng.
Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.
Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.
Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường.
Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm

Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.
Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).
Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).
Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.
Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.
Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).
Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất

Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
Bình Bán Vắn
Tây Thi Vắn
Cổ Bản Vắn
Xuân Phong
Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhau.
Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọi.

7. Thất Chinh

Gồm bảy bài:
Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.
Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
Vạn Giá
Tiểu Khúc

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự

Gồm tám bài:
Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng.
Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã vui tươi.
Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo não. Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Ai. Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư.

9. Cửu Nhĩ

Gồm hai bài:
Hội Nguyên Tiêu
Bát Bản Chấn
Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ

Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóa. Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhau.

Phẩm Tuyết
Nguyên Tiêu
Hồ Quảng
Liên Hoàn
Bình Bản (Bình Nguyên)
Tây Mai
Kim Tiền Huế
Xuân Phong
Long Hổ
Tẩu Mã
Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950. Cho đến nay đã có hơn 100 bài được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn.
Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ – trung bình, trung bình – lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi …)

D. Cách Dùng Các Bài Bản

Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng … mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các bản: Long Hổ Hội, Ngũ Điểm – Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều, Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản : Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dung các bản : Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê.
Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản:
Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng : Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Tạ.

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v…

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi mà thôi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiều. Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữa. Các soạn giả chỉ sáng tác lời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).


Sưu Tầm
Email liên hệ; thiengia@cailuongvietnam.com

Nguồn tin: khangianhandan tổng hợp - CLVNCOM
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

KỶ NIỆM 13 NĂM THÀNH LẬP WEBSITE CAILUONGVIETNAM.COM ( 2004-2017)

SNWEB13

Xem ngày trong tuần

Ngày 23/05/2017 nhằm ngày 28/04/2017 ÂL (ngày Canh Tuất tháng Ất Tỵ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Kim Quỹ Hoàng Đạo.
Trực: Chấp.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Dậu (17-19), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Mậu thìn,Giáp tuất,Giáp thìn*.

Ngày 24/05/2017 nhằm ngày 29/04/2017 ÂL (ngày Tân Hợi tháng Ất Tỵ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Bảo Quang Hoàng Đạo.
Trực: Phá.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Kỷ tỵ,Ất hợi,Ất tỵ,Ất tỵ.

Ngày 25/05/2017 nhằm ngày 30/04/2017 ÂL (ngày Nhâm Tý tháng Ất Tỵ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (-1) - Xấu.
Ngày: Bạch Hổ Hắc Đạo.
Trực: Nguy.
Không nên: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Thân (15-17), Dậu (17-19).
Tuổi xung khắc với ngày: Canh ngọ,Bính tuất,Giáp ngọ,Bính thìn.

Ngày 26/05/2017 nhằm ngày 01/05/2017 ÂL (ngày Quý Sửu tháng Bính Ngọ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (0) - Bình thường.
Ngày: Bảo Quang Hoàng Đạo.
Trực: Thành.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Mão (5-7), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Tân mùi,Đinh hợi,Ất mùi,Đinh tỵ.

Ngày 27/05/2017 nhằm ngày 02/05/2017 ÂL (ngày Giáp Dần tháng Bính Ngọ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (2) - Quá tốt.
Ngày: Bạch Hổ Hắc Đạo.
Trực: Thu.
Tốt đối với: Khai trương/ Cầu tài, cầu lộc.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Mùi (13-15), Tuất (19-21).
Tuổi xung khắc với ngày: Canh ngọ,Bính thân,Canh tý,Mậu thân.

Ngày 28/05/2017 nhằm ngày 03/05/2017 ÂL (ngày Ất Mão tháng Bính Ngọ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (1) - Tốt.
Ngày: Ngọc Đường Hoàng Đạo.
Trực: Khai.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Dần (3-5), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Dậu (17-19).
Tuổi xung khắc với ngày: Tân mùi,Đinh dậu,Tân sửu,Kỷ dậu.

Ngày 29/05/2017 nhằm ngày 04/05/2017 ÂL (ngày Bính Thìn tháng Bính Ngọ năm Đinh Dậu)

Đánh giá chung: (1) - Tốt.
Ngày: Thiên Lao Hắc Đạo.
Trực: Bế.
Có thể: Hôn thú, giá thú/ Xây dựng, làm nhà, sửa nhà/ Khai trương/ An táng, mai táng/ Tế tự, tế lễ/ Động thổ/ Xuất hành, di chuyển/ Giao dịch, ký hợp đồng/ Cầu tài, cầu lộc/ Tố tụng, giải oan/ Làm việc thiện, làm phúc.
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Dậu (17-19), Hợi (21-23).
Tuổi xung khắc với ngày: Nhâm ngọ,Mậu tuất,Nhâm tý,Nhâm tuất*.

CHUYỂN ĐẾN

Đăng nhập thành viên

Ủng hộ quỹ cây mùa xuân NS 2017

Tin nóng

Nghệ sĩ Lệ Thủy xúc động khi gặp lại nghệ sĩ Thành Được

Nghệ sĩ Lệ Thủy xúc động khi gặp lại nghệ sĩ Thành Được

Phút giây hội ngộ sau nhiều năm của hai danh ca Lệ Thủy- Thành Được đã là khoảnh khắc đáng nhớ trong đời của họ. NSND Lệ Thủy tâm sự về cuộc gặp gỡ đầy xúc động này

Xem tiếp...

NSMAU

Tỷ giá ngoại tệ

Tháng Năm 22, 2017, 9:24 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 16,710.70 16,811.57 16,961.54
CAD 16,529.86 16,679.98 16,896.23
CHF 22,987.57 23,149.62 23,449.74
DKK - 3,360.54 3,465.95
EUR 25,208.18 25,284.03 25,509.58
GBP 29,153.16 29,358.67 29,620.57
HKD 2,874.54 2,894.80 2,938.20
INR - 350.75 364.52
JPY 200.57 202.60 204.40
KRW 18.74 19.73 20.97
KWD - 74,611.90 77,540.95
MYR - 5,239.18 5,307.10
NOK - 2,667.30 2,750.96
RUB - 362.15 443.02
SAR - 6,038.27 6,275.31
SEK - 2,567.44 2,632.13
SGD 16,164.88 16,278.83 16,456.93
THB 647.60 647.60 674.63
USD 22,660.00 22,660.00 22,730.00

Nghệ sĩ Lệ Thủy xúc động khi gặp lại nghệ sĩ Thành Được

Phút giây hội ngộ sau nhiều năm của hai danh ca Lệ Thủy- Thành Được đã là khoảnh khắc đáng nhớ trong đời của họ. NSND Lệ Thủy tâm sự về cuộc gặp gỡ đầy xúc động này

 

Đoàn Tuồng cổ Minh Tơ 6 đời chân truyền nghiệp Tổ

Dù sân khấu hát bội, tuồng cổ đang thời hưng thịnh, hay dần vào quên lãng; thì có một dòng họ, một đoàn hát qua 6 đời vẫn trân quý giữ gìn nghiệp Tổ. Có những bậc tiền bối, những nghệ sĩ tài danh và những con người thầm lặng sau cánh màn nhung… Họ làm cho sân khấu Tuồng cổ Minh Tơ mãi sáng đèn bằng tình yêu nghệ thuật.

 

Thầy đờn Hai Nhạn và chuyện đôi mắt, đôi tai…

"Mình tuy không nhìn thấy nhưng đôi tai còn nghe rõ, còn cảm nhận được cái hay, cái đẹp của nhạc lễ. Kể ra, mình còn có phước!"- thầy đờn khiếm thị Trần Quang Nhạn, tức Hai Nhạn (phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn) lạc quan nói vậy. Cho nên bao nhiêu năm qua, tiếng đờn, tiếng lòng của ông vẫn cứ réo rắt giữa đời

 

CA SĨ NHẬT HÀO MỘC MẠC NGÀY TRỞ VỀ

CA SĨ NHẬT HÀO MỘC MẠC NGÀY TRỞ VỀ (Thương tặng riêng Ngọc bảo Linh) Sáng tác: Ngoisao96 ---------------------------------------------

 

Nghệ sĩ Mai Thành diễn ông già là số 1

Sống yêu thương, chân thành, vị tha sẽ hưởng được trọn vẹn hạnh phúc cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, đó là quan niệm sống của nghệ sĩ Mai Thành

 

Vũ Linh kể chuyện tái ngộ Thanh Thanh Tâm sau 10 năm

Khán giả kiều bào tại Mỹ đã thỏa mãn với hai suất diễn tối 6 và 7-5 (theo giờ địa phương) tại Mỹ, khi xem cuộc hội ngộ sau 10 năm của "đôi tình nhân sân khấu" NSƯT Vũ Linh và NSƯT Thanh Thanh Tâm.

 

Ngỡ ngàng "Còn thương rau đắng mọc sau hè" vừa được phép phổ biến

Sau hơn 40 năm ra đời và phổ biến, ca khúc" Còn thương rau đắng mọc sau hè" của cố nhạc sĩ Bắc Sơn vừa được Cục Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) cấp phép phổ biến. Người trong giới nói đây là trò hề.

 

Bốn cặp đôi 'Tài tử tranh tài' ngang tài ngang sức trước chung kết

ở hữu những lợi thế riêng về cả giọng hát lẫn diễn xuất, 4 cặp đôi của Tài tử tranh tài 2017 được dự đoán sẽ khiến giám khảo phải 'đau đầu' lựa chọn cho ngôi vị quán quân.

 

"Thánh đường" nghệ thuật ở Nhà hát Lớn: Vẫn là giấc mơ

Vấn đề nan giải là làm thế nào tìm được đầu ra thực sự cho các tác phẩm bằng việc bán vé có doanh thu, lợi nhuận chứ không phải phát vé mời miễn phí hoặc chấp nhận nhìn những hàng ghế trống trơn trong nhà hát

 

Những vụ xì-căng-đan gây sốc dư luận từ game show truyền hình

Đi theo sự bùng nổ game show truyền hình là xì-căng- đan. Chỉ tính đầu năm 2017 đến nay, có nhiều xì-căng-đan nổ ra từ các game show. Ngoài vụ nghệ sĩ Trung Dân và Hương Giang Idol, còn có nhiều vụ gặp không ít chỉ trích, cho rằng đó là chiêu trò gây chú ý.

 

Đạo diễn Huỳnh Tuấn Anh: Khán giả đang cần những câu chuyện thật sự

Không ngại ngần thừa nhận mình là một đạo diễn phim thị trường, Huỳnh Tuấn Anh đã có những chia sẻ xung quanh "Lô tô" - bộ phim gây sốt phòng vé thời gian qua.

 

Kiên Giang và bài vọng cổ ‘Ni Cô và Lão Ăn Mày’

Đầu năm 1960, soạn giả Kiên Giang cho ra đời bài vọng cổ “Ni Cô và Lão Ăn Mày,” là câu chuyện có thật ở vùng quê Đức Hòa, Long An, nhưng ông lại viết khác đi.

 

Trở lại sau 4 năm “làm trâu ngựa” để trả nợ, Phước Sang chạnh lòng tâm sự: “Đời tôi lên voi xuống chó chỉ vì chữ này…

Có một thời nhắc đến tên tuổi Phước Sang, ai nấy đều cảm thấy thán phục. “Ông trùm” một thời của showbiz Việt là tấm gương làm nên từ hai bàn tay trắng. Trong 20 năm, từ một chàng trai gầy gò, đen nhẻm, hàng ngày đạp chiếc xe đạp cũ cọc cạch đi làm đủ thứ việc linh tinh như vá xe, giữ xe, hậu đài, anh Phước Sang trở thành một “ông trùm” trong làng giải trí và là đại gia nắm trong tay khối bất động sản trị giá cả ngàn tỷ đồng.

 

Nghệ sĩ Trung Dân bị Hương Giang Idol xúc phạm: "Tôi xấu hổ, nhục nhã không dám nói cho ai nghe"

"Tôi xấu hổ, nhục nhã, không dám nói cho ai nghe. Cả trăm người trong gameshow đó, họ lên facebook xầm xì...", nghệ sĩ Trung Dân kể.

 

Ca sĩ Khánh Hoàng và đêm của tình yêu thương

Đêm ra mắt CD “Ai Thương Yêu Em” của ca sĩ Khánh Hoàng hôm 6 Tháng Năm vừa qua, tại Bleu Night Club, Westminster, đậm chất “phòng trà.” Người đến trễ phải chịu khó đứng, những chẳng ai muốn về sớm, vì yêu mến giọng ca của anh.

 

NSƯT Thanh Kim Huệ: "Tôi bị quả báo ngay khi cầu việc xấu cho người khác"

"Mỗi lần tôi cầu chuyện xấu tới cho người khác là lại có chuyện không hay xảy ra với mình", nghệ sĩ Thanh Kim Huệ chia sẻ.