04:57 PDT Thứ ba, 19/06/2018
trang music

Menu

Ads

CLVNCOM English Edition
HÌNH MCHAU PMAI

Trang nhất » Tin Tức » Tìm Hiểu Nghệ Thuật

Họa sĩ Loka, Một đời tâm huyết vì sân khấu cải lương

Họa sĩ Loka, Một đời tâm huyết vì sân khấu cải lương

Trong thập niên 60, thời vàng son của sân khấu cải lương, các đoàn hát tranh đua thu hút khán giả không chỉ bằng tuồng tích chọn lọc, diễn viên ca hay diễn giỏi, tân cổ nhạc đều hoàn hảo mà về mặt kỹ thuật như quảng cáo, trang trí sân khấu, y phục hát, âm thanh, ánh sáng và xảo thuật cũng phải vượt trội hơn đoàn hát khác, phải có nét đặc trưng của đoàn mình,...

Xem tiếp...

NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG

Đăng lúc: Thứ bảy - 17/09/2016 09:58 - Đã xem: 624
Út Bạch Lan & Hữu Phước

Út Bạch Lan & Hữu Phước

Hai tiếng "Cải lương" có nghĩa là "Sửa đổi cho tốt hơn". Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hátChèo hay hátTuồng (ở Bắc Phần) và hát bội (ở Trung và Nam Phần). Ðến 1917, khi cải lương ra đời, người mình nhận thấy điệu hát này có thể tân tiến hơn điệu hát bội, nên cho đó là một việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt hơn. Vì lẽ ấy người mình dùng hai tiếng "Cải lương" để đặt tên cho điệu hát mới mẻ này.

Trước kia ở rải rác trong các tỉnh Nam Phần (Nam bộ) có những ban tài tử đờn ca trong các cuộc lễ tư gia, tân hôn, thăng quan, giỗ,... Nhưng không bao giờ có đờn ca trên sân khấu hay trước công chúng. Qua năm 1910, ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, tục gọi Tư Triều gồm bản thân Tư Triều (chơi đờn kìm), Chín Quán (đờn độc huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy Vô (đờn cò),Cô Hai Nhiễu (đờn tranh) và Cô Ba Ðắc (ca). Ban tài tử này đờn ca rất hay vì phần đông đã được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp mới về. 

Năm 1911, Nguyễn Tống Triều muốn đưa ca nhạc ra trước công chúng, nên thương lượng với chủ nhà hàng "Minh Tân khách sạn" ở ngang ga xe lửa Mỹ Tho – Sài Gòn để ban tài tử đờn ca giúp vui cho thực khách. Người đến nghe ngày càng đông. Nhận thấy sáng kiến này có kết quả khả quan, Thầy Hộ, chủ rạp hát bóng Casino, phía sau chợ Mỹ Tho, muốn cho rạp hát mình đông khán giả bèn mới ban tài tử đến trình diễn mỗi tối thứ bảy và thứ tư trên sân khấu và đã được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.

Sân khấu thời bấy giờ cũng được dàn dựng rất đơn giản. Cái màn bạc dùng làm bối cảnh (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván có để một cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có để cây kiểng. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem thật nghiêm trang.

Sáng kiến đưa đờn ca tài tử lên sân khấu của Tư Triều từ năm 1912 tại Mỹ Tho đã lan tràn đến Sài Gòn và nhiều tỉnh ở Nam Phần. Năm 1913 – 1914, chủ nhà hàng ở sau chợ Mới, Sài Gòn, là "Cửu long giang" nghe danh tiếng ban tài tử nên đã xuống tận nơi để mời về. Ông Năm Tú là người có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu. Ông mướn thợ vẽ tranh cảnh phỏng theo lối trang trí rạp hát Tây Sài Gòn. Ông mua sắm y phục cho đào kép khá chu đáo và nhờ nhà văn Trương Duy Toản soạn tuồng.

Ông cất một cái rạp hát rộng lớn và đẹp đẽ gần chợ Mỹ Tho để cho ban ca kịch của ông trình diễn. Ðiệu hát cải lương chính thức hình thành từ đó và ngày càng phát triển mạnh, nhiều Ban được thành lập.

Có thể nói, sân khấu cải lương là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh xã hội Việt Nam, chính xác hơn là xã hội Nam bộ lúc bấy giờ. Chính vì vậy nó trưởng thành rất mau. Vài ba năm đầu thập kỷ 20, nó còn đang chập chững những bước đầu tiên. Năm 1931 nó đã chính thức được giới thiệu ở ngoài nước với danh nghĩa một loại hình nghệ thuật hiện đại ngang hàng tuồng chèo đã có nhiều thế kỷ lịch sử. Nó ra đời thu hút được đông đảo khán giả và hát bội chịu phần thua kém. Từ Nam Kỳ nó Bắc tiến và tuồng, chèo dần dần nhường bước. Trong hơn nửa thế kỷ, sân khấu cải lương vượt xa các loại hình sân khấu khác về thế mạnh, có thời kỳ nó giữ địa vị độc tôn, thu hút khán giả nhiều hơn các loại sân khấu khác, chỉ kém có điện ảnh.

Tìm về nơi đầu nguồn của sân khấu cải lương, người ta gặp những sự kiện xã hội, lịch sử sau đây: Nam Bộ, xứ Nam kỳ cũ, vốn có một phong trào ca nhạc tài tử. Nó là sự phát triển của phong trào đàn cây.

Trong các cuộc tế lễ, ma chay, người ta mời ban nhạc tới diễn tấu, không dùng các loại trống, kèn và các loại nhạc cụ gõ khác và chơi một số bản của nhạc lễ có viết thêm lời ca và một số bản của nhã nhạc từ miền Trung đi vào.

Phong trào này dần dần phát triển sâu rộng khắp toàn dân. Nhạc cụ được bổ sung, cải tiến. Người ta thêm vào các bài ca nhạc dân gian hoặc sáng tác thêm những bài hát mới. Các địa phương có những ban ca nhạc tài tử nổi tiếng với các danh cầm như: Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Bảy Triều... và các danh ca như Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc... tiếng tăm đồn đại khắp nơi. Phong trào ca nhạc tài tử lôi cuốn mọi giới đồng bào nhất là công chức, thợ thủ công, nông dân, công nhân.

Khởi đầu, nhạc và lời ca được biểu hiện qua hình thức Ca-ra-bộ (một trình thức diễn xuất thô sơ) với một số nghệ nhân không chuyên, được phục vụ trong những buổi tiệc tùng, giải trí, trà dư tửu hậu ở thôn xóm và bài ca được hâm mộ nhất thời bấy giờ là "Bùi Kiệm thi rớt trở về".

Ca-ra-bộ được đông đảo quần chúng hâm mộ, dần dần phát triển và con đường phát triển tất yếu của nó là đi vào nghệ thuật sân khấu, biến hát bội thành "hát bội pha cải lương" rồi tiến lên chuyển mình thành một loại hình riêng để diễn các loại tuồng tàu, tuồng kiếm hiệp vào đầu và cuối thập kỷ 40. Ngày càng được quần chúng hâm mộ thưởng thức, nó tiến xa hơn trên đường nghệ thuật, với nhiều nghệ sĩ có tên tuổi tham gia và đến đầu thập kỷ 40, nó đã mang đầy đủ tính chất khá hoàn chỉnh. Và đặc biệt với Nghệ sĩ Nhân Dân Năm Châu, nó trưởng thành thành một loại sân khấu có tính nghệ thuật khá cao. Năm Châu vốn có học Tây, hâm mộ sân khấu Tây phương, nhất là kịch cổ điển Pháp, đã tâm huyết đưa số hiểu biết phong phú, đa dạng của mình vào cải lương, tạo thành một sân khấu riêng biệt - trường phái Năm Châu" với lực lượng nghệ sĩ lừng danh lúc bấy giờ là Phùng Há, Ba Vân, Tư út, Tư Anh và quí giá nhất là soạn giả Trần Hữu Trang, tác giả nhiều kịch bản nổi tiếng, trong đó có Ðời cô Lựu và Tô ánh Nguyệt cho đến nay, vẫn còn ghi sâu trong ký ức bao người.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp cho du nhập vào nước ta những phim ảnh, sách báo và những đĩa hát, về sau có nhiều đoàn kịch hát Trung Quốc sang biểu diễn tại Sài Gòn.Do đó, nghệ thuật cải lương có cơ hội thu hút thêm tinh hoa sân khấu của nước ngoài như cách diễn xuất, sử dụng một số bài bản nước ngoài phù hợp với cách diễn tấu của dàn nhạc cải lương, học tập cách sử dụng bộ gõ bổ sung thêm kèn mới vào dàn nhạc cải lương. Trong giai đoạn này, âm nhạc cải lương chịu ảnh hưởng của phương pháp diễn tấu mang tính sân khấu xuất phát từ nội dung chủ đề của kịch bản.

Trong giai đoạn đầu của cải lương, đề tài khai thác của kịch chủ yếu dựa vào thơ ca được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Việt Nam như: Kim Vân kiều, Lục Vân Tiên, Trưng Trắc Trưng Nhị v v... hoặc phóng tác theo các vở tuồng hát bội như: Phụng Nghi Ðình, Xử án Bàng Quí Phi, Mộc Quế Anh v v...

Âm nhạc được dùng trong các vở này bao gồm gần hết là các bài bản cải lương, trong dàn nhạc cải lương có các nhạc cụ của dàn nhạc tài tử, có nhạc cụ gõ và kèn hát bội. Từ năm 1930 trở đi khuynh hướng cải lương xã hội thực thụ ra đời dưới sự chỉ đạo của nhóm Năm Châu, Tư Trang, Năm Nở, Bảy Nhiêu, Tư Chơi v v... lúc đầu phỏng theo truyện phim và kịch của Pháp như: Bằng hữu binh nhung, Sắc giết người, Giá trị và danh dự v v...

Về sau nhóm này dựa vào đề tài Việt Nam như: Tội của ai, Khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường v v... Các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng). Lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu.

Trong những thời gian sau cải lương bị ảnh hưởng của một số khuynh hướng Quảng đông và kiếm hiệp nhưng những khuynh hướng này ít được người ủng hộ, nhất là ở các vùng nông thôn. Các vở có tính chất tâm lý xã hội đều dựa vào sự tích Việt Nam như Tô ánh Nguyệt, Ðời cô Lựu... nhưng về âm nhạc thì lại chịu ảnh hưởng ở âm nhạc Tây Âu.

Cải lương càng ngày càng hiện đại hóa và đó là công đầu của Năm Châu vì không có con người này, khó có một sự chuyển mình đầy tính cổ điển và nghệ thuật của cải lương. Do đó, có thể nói Năm Châu phải được đánh giá là vị "Tổ cải lương hiện đại",  một vị tổ có thật...

Từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút hàng đêm cả vạn triệu khán thính giả say mê đến với nó tại các nhà hát hay bên chiếc radio. 

Do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một ký giả kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát Huy chương vàng và Bằng danh dự cho những nam nữ nghệ sỹ trẻ tuổi có triển vọng nhất trong năm. Giải Thanh Tâm hiện thời được gọi là giải TrầnHữu Trang là giải thưởng có tiếng vang lớn trong giới nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật cải lương.

Nghiên cứu toàn bộ lịch sử cải lương qua những nét đại thể, ta thấy rõ ràng loại hình nghệ thuật này  mang một đặc điểm rất nổi bật. Ðó là nền nghệ thuật mang tính giải phóng của người nông dân bị áp bức và mất nước, phải vùng lên để chiến đấu cho sự sống còn của tầng lớp mình, dân tộc mình. Tiếng nói của họ là tiếng ca bất khuất và đã được thể hiện qua nhiều tác phẩm mà Ðời cô Lựu là một vở tiêu biểu. Tác giả của nó, Trần Hữu Trang vốn là một nông dân, một nghệ sĩ trí-thức.

Ðặc điểm của sân khấu cải lương

Năm 1920 đoàn hát mang tên Tân Thinh ra mắt khán giả, Tân Thinh không dùng tên gánh mà dùng tên đoàn hát và ghi rõ đoàn hát cải lương, dưới bảng hiệu có treo đôi liễn như sau: 

Cải cách hát ca theo tiến bộ 
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.

Ðôi liễn ấy đã nêu lên những đặc điểm cơ bản của sân khấu cải lương. Như trên đã nói, cải lương vốn là một động từ mang nghĩa thông thường trở thành một danh từ riêng. Cải lương có nghĩa là thay đổi tốt hơn khi so sánh với hát bội. Sân khấu cải lương là một loại hình sân khấu khác hẳn với hát bội cả về nội dung vở soạn lẫn nghệ thuật trình diễn.

1- Bố cục 
Nguyen Thanh ChauCác soạn giả đầu tiên của sân khấu cải lương vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Nhưng các soạn giả của thuộc lớp kế tục thì nghiêng hẳn về cách bố cục theo kịch nói: vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Vai trò của soạn giả, đạo diễn không lộ liễu trước khán giả mà ẩn sau lưng nhân vật.

Ban đầu, các vở viết về các tích xưa (mà người ta quen gọi là tuồng Tàu) có khi còn giữ ít nhiều kiểu bố cục phảng phất hát bội, nhưng các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội) thì hoàn toàn theo bố cục của kịch nói. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương (kể cả các vở về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói). 

(Nguyễn Thành Châu,soạn giả, đạo diễn kiêm diễn viên, 40 năm trong nghề đã nâng cao trình độ Cải lương của nước nhà)

2- Ðề tài và cốt truyện

Ngoc GiauCác vở cải lương ngay từ đầu đều khai thác các truyện Nôm của ta như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện trong khung cảnh xã hội Việt Nam.

Sau đó chiều theo thị hiếu của khán giả sân khấu cải lương cũng có một số vở soạn theo các truyện, tích của Trung Quốc đã được đưa lên sân khấu hát Bội và được khán giả rất ưa thích. 

Sau này nhiều soạn giả, kể cả soạn giả xuất thân từ tân học cũng soạn vở dựa theo truyện xưa của Trung Quốc hoặc dựng lên những cốt truyện với nhân vật, địa danh có vẻ của Trung Quốc nhưng những cảnh ngộ, tình tiết thì của xã hội Việt Nam 

(Ngọc Giàu trong vở "Tình yêu và lời đáp")
3- Ca nhạc 
Phuong KhanhCác loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch vì ở đây ca kịch giữ vai trò chủ yếu. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc cho phù hợp với các tình huống sắc thái tình cảm.

Như vậy, nói chung về ca nhạc, sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang sau này mang tên Vọng cổ là một dân ca nổi tiếng của sân khấu cải lương). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Quốc nhưng đã được phổ biến từ lâu trong nhân dân Việt Nam, đã Việt Nam hóa.

(Phương Khanh, một trong những diễn viên nổi tiếng ở buổi đầu sân khấu Cải lương)

4-Diễn xuất 
Kim LanDiễn viên cải lương diễn xuất một cách tự nhiên, nhất là khi diễn về đề tài xã hội thì diễn viên diễn xuất như kịch nói. Khác với kịch nói ở chỗ đáng lẽ nói, diễn viên ca, cho nên cử chỉ điệu bộ cũng uyển chuyển, mềm mại theo lời ca. Dù không giống như cử chỉ điệu bộ của diễn viên kịch nói, mà vẫn gần với hiện thực chứ không cường điệu như hát bội.

Cải lương cũng có múa và diễn võ nhưng nhìn chung là những động tác trong sinh hoạt để hài hoà với lời ca chứ không phải là hình thức bắt buộc.

(Diễn viên Kim Lan)
5-Y phục 
Thanh Thanh TamTrong các vở về đề tài xã hội diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời. Trong các vở diễn về đề tài lịch sử dân tộc, về các truyện cũ của Trung Quốc, phóng tác từ những câu chuyện, hay các vở kịch từ nước ngoài thì y phục của diễn viên cũng được chọn lựa để gợi ra xuất xứ của cốt truyện và của nhân vật, nhưng cũng chỉ mới có tính là ước lệ thôi chứ chưa đúng với hiện thực. 

(Thanh Thanh Tâm, một trong những giọng ca hay được nhiều người mến mộ )



Nguồn tin: tcgd theo Chim Việt
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TIN TỨC TỪ DIỄN ĐÀN SÂN CHƠI CHO KHÁN GIẢ - FORUM FOR CLVN LOVERS

du lich
CMX2018vth

CHUYỂN ĐẾN

Đăng nhập thành viên

NSMAU

Thăm dò ý kiến

Nữ nghệ sĩ thế hệ vàng được yêu thích nhất

Thanh Hương

Út Bạch Lan

Diệu Hiền

Ngọc Hương

Thanh Nga

Bạch Tuyết

Lệ Thủy

Mỹ Châu

Thanh Kim Huệ

Bích Hạnh

Xuân Lan

Bích Sơn

Ngọc Giàu

Mộng Tuyền

Thanh Thanh Hoa

animation

Tỷ giá ngoại tệ

Tháng Sáu 19, 2018, 4:28 am
Code Buy Transfer Sell
AUD 16,663.37 16,763.95 16,947.25
CAD 17,030.89 17,185.56 17,373.48
CHF 22,642.62 22,802.24 23,097.72
DKK - 3,487.19 3,596.55
EUR 26,187.98 26,266.78 26,500.94
GBP 29,770.31 29,980.17 30,247.43
HKD 2,869.80 2,890.03 2,933.35
INR - 333.69 346.79
JPY 205.45 207.53 211.15
KRW 18.93 19.93 21.18
KWD - 75,320.12 78,276.51
MYR - 5,674.35 5,747.88
NOK - 2,743.00 2,829.01
RUB - 355.56 396.20
SAR - 6,079.52 6,318.14
SEK - 2,525.35 2,588.96
SGD 16,627.79 16,745.00 16,928.10
THB 682.42 682.42 710.90
USD 22,810.00 22,810.00 22,880.00

Facebook

NS ANIMATION NHO

Ủng hộ quỹ cây mùa xuân NS 2018

GIÚP ĐỠ NSKK-HỘ NGHÈO

ỦNG HỘ CÂY MÙA XUÂN NGHỆ SĨ TẾT MẬU TUẤT 2018

Trong tinh thần lá lành đùm lá rách và góp gió thành bảo, trang nhà cailuongvietnam.com đã khởi sự chương trình quà Tết gửi đến các nghệ sĩ khó khăn, già yếu neo đơn từ mùa lễ , mùa yêu thương của 14 năm về trước: 2004.đến nay. Mỗi năm, thì trang nhà đều có góp sức một chút vào các quỹ của Ban Aí...

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 68

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 66


Hôm nayHôm nay : 3592

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 250343

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10865279

Họa sĩ Loka, Một đời tâm huyết vì sân khấu cải lương

Trong thập niên 60, thời vàng son của sân khấu cải lương, các đoàn hát tranh đua thu hút khán giả không chỉ bằng tuồng tích chọn lọc, diễn viên ca hay diễn giỏi, tân cổ nhạc đều hoàn hảo mà về mặt kỹ thuật như quảng cáo, trang trí sân khấu, y phục hát, âm thanh, ánh sáng và xảo thuật cũng phải vượt trội hơn đoàn hát khác, phải có nét đặc trưng của đoàn mình, đáp ứng cảm quan thưởng thức của khán giả.

 

Những gương mặt mới của điện ảnh Việt

Một lứa diễn viên mới gần đây xuất hiện trong nhiều phim Việt đã đem lại sự mới mẻ cho khán giả.

 

Những nghệ sĩ tài danh

Nhắc đến cải lương, người ta thường nhớ đến tên tuổi của các nghệ sĩ (NS) tài danh: Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Hương, Hữu Phước, Diệu Hiền, Mỹ Châu, Minh Vương,... với biệt tài ca vọng cổ mang sắc thái riêng, sống mãi trong lòng người mộ điệu. Trong đó, có không ít NS xuất thân từ miền đất trù phú giữa hai dòng Vàm Cỏ.

 

Tâm tình cùng danh ca vọng cổ Minh Cảnh:

Với sự xúc động, nghệ sĩ tài danh Minh Cảnh đã có những chia sẻ tâm tình trong lần về nước biểu diễn sau 13 năm xa quê hương.

 

Kỳ Duyên và Nguyễn Ngọc Ngạn Một phần tư thế kỷ

Hồi tưởng lại chuyến bay đêm của hãng Air France đưa tôi từ Toronto sang Pháp giữa tháng 8 năm 1992, tôi chẳng bao giờ hình dung trước là mình sẽ có mặt trên Paris By Night đến nay đã 26 năm. Từ nhỏ tới giờ, chưa có công việc nào tôi làm lâu như thế! Nói đúng ra, trước đó, trong làng văn nghệ Việt Nam, MC chưa hề là một cái job được người ta chú ý kể cả quốc nội lẫn hải ngoại.

 

Một thế kỷ cải lương

Năm 2018, giới mộ điệu và những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật cải lương kỷ niệm 100 năm ngày cải lương ra đời. Một thế kỷ trôi qua, loại hình nghệ thuật sân khấu này vẫn đang phát triển và là món ăn tinh thần của người Việt Nam nói chung, Nam bộ nói riêng. Nhìn lại chặng đường đã qua càng trân quý công lao của bao thế hệ nghệ sĩ và khán giả đã gìn vàng giữ ngọc.

 

Tiễn biệt đạo diễn phim “Về nơi gió cát”!

Nhiều đồng nghiệp, bạn bè tề tựu tại Nhà tang lễ TP HCM (25, Lê Quý Đôn, Q.3) sáng 10-6, thắp nén nhang tiễn biệt NSND – Đạo diễn Nguyễn Huy Thành.

 

Sự thật đằng sau các cuộc thi tìm kiếm tài năng: "Gà" đến từ đâu?

Đó là những thí sinh không hẳn mạnh về chuyên môn nhưng mạnh về quan hệ và tài chính. Và họ luôn có ưu thế trong các chương trình truyền hình thực tế.

 

Danh ca Minh Cảnh khóc đời mồ côi

Tối 31-5, danh ca Minh Cảnh và gia đình cố nhạc sĩ Bắc Sơn đã đến thăm và trao quà cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm Nhân đạo Quê hương – Bình Dương nhân ngày quốc tế thiếu nhi 1-6.

 

NSND Hồng Vân: “Tôi đã lên chức bà sui”

Ngày 11-6, theo giờ địa phương, tại miền Nam tiểu bang California - Mỹ, Nguyễn Ngô Hồng Châu (Xí Ngầu) - con gái NSND Hồng Vân - đã lên xe hoa.

 

CẢI LƯƠNG VÀO MÙA HÁT CHẦU KỲ 3: CÁC LỄ TRONG MÙA KỲ YÊN

CLVNCOM - Nếu "Cải lương vào mùa hát chầu" đã được đăng trên hai kỳ vừa qua là sự giới thiệu sơ lược về mùa hát chầu và tiếng trống chầu thì kỳ này xin được nói về các lễ trong mùa Kỳ Yên.

 

Soạn giả kiêm đạo diễn Hoàng Việt, một nghệ sĩ tài ba ít được nhắc đến.

CLVNCOM - Nữ nghệ sĩ Tịnh Đế Liên Hoa LMH ở Touluose - Pháp gởi email cho tôi biết: bạn TG viết tiểu sử soạn giả Hoàng Việt như sau: « Hoàng Việt tên Phan Văn Việt, sanh ngày 3 tháng 11 năm 1928, đài trưởng đoàn Dạ Lý Hương từ năm 1963 » và hỏi tôi đúng không?

 

Thể lệ cuộc thi Chuông vàng vọng cổ 2018

Cuộc thi “Chuông vàng vọng cổ” là một trong những hoạt động nghệ thuật truyền thống do Đài Truyền hình TP.HCM khởi xướng và tổ chức thực hiện từ năm 2006 đến nay

 

Những điểm lạ trong tuồng Thầy Ba Đợi

CLVNCOM - Cảnh lưu đày Vua Ham Nghi sang Châu Phi tại Rach Cát Sài Gòn năm 1888 được phơi bày trươc công chúng có thầy Ba Đợi, để cho máu đổ ,t iếng chủi rũa, oán than ngất trời..như.cái văn minh "tuyệt vời" Pháp Quốc là tự tát vào mặt mình.

 

Chuyến hành hương về đất tổ cải lương

Là một trong 4 diễn viên thể hiện vai chính trong vở Thầy Ba Đợi, nghệ sĩ Quang Khải đã dành cho Thanh Niên những chia sẻ chân tình về sự nghiệp và vai diễn đặc biệt này.

 

Không thể nhận ra Hồ Văn Cường, Phương Mỹ Chi và nhiều sao nhí khác

Nhiều giọng ca nhí một thời thay đổi đến mức khó tin chỉ sau một thời gian ngắn. Thậm chí, khán giả không thể nhận ra người rất quen trước đây như Hồ Văn Cường, Phương Mỹ Chi...