Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Nơi tưởng nhớ những NS đã quá cố.
Nội quy chuyên mục
THÀNH VIÊN CLVN CHÚ Ý !

1- Bài viết phải luôn luôn bỏ dấu cho dễ đọc, viết không dấu sẽ bị xóa. Xem chỉ dẫn cách bỏ dấu taị đây.
2- Không đưa nguyên link từ các nơi khác vào - Không viết toàn chữ hoa hoặc liên tục không chấm phết.
3- Ghi rõ nguồn các bài được đưa lên là bắt buộc - Tránh những lời lẽ quá khích.
4- Mỗi thành viên chỉ được dùng một nick - Không nên đưa nhiều bài lắt nhắt liên tiếp từ cùng một thành viên.
5- Đừng dùng quote (trích dẫn) để trả lời khi 2 bài liên tiếp nhau - Tránh quote nhiều lần cùng một hình ảnh.
6- Không dùng màu đỏ trừ phi đó là tựa đề của một bài mới - Nên tạo chữ ký đẹp, cân đối, dễ nhìn.
7- Thắc mắc về bài bị xoá post trên diễn đàn đều cũng sẽ bị xoá. Trực tiếp liên lạc với Ban Điều Hành nếu cần.
8- Mọi thành viên đều cùng một nhà CLVN nên việc cư xữ hoà nhã với nhau là cần thiết dù ý kiến có dị biệt.

Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tu kien » Thứ 2 Tháng 2 26, 2018 8:14 pm

The JIMMY ᴤʜᴏᴡ
10 hrs ·
Hình ảnh
Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông - tác giả của Chiều Mưa Biên Giới, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê...Theo tin từ ca sĩ Giao Linh cung cấp cho tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ ,Ông đã trút hơi thở cuối cùng lúc 7g30 tối ngày thứ hai 26 tháng 2 tại Bịnh viện Chợ Rẫy - Saigon...Để lại trong lòng người yêu nhạc niềm thương tiếc không nguôi về một tài năng lớn của tân nhạc Việt Nam
phpBB [video]

Nguyễn Văn Đông (1932 – 2018) nguyên là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Tuy nhiên, nhiều người biết đến ông với tư cách là một nhạc sĩ người Việt nổi tiếng trước năm 1975, với các ca khúc "Chiều mưa biên giới", "Sắc hoa màu nhớ"... Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử
-----------
Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…
https://www.nguoi-viet.com/little-saigo ... i-qua-doi/
Nhớ quá khứ buồn rơi nước mắt
Nhìn tương lai lạnh toát mồ hôi !
Hình đại diện của thành viên
tu kien
Forum Mod
Forum Mod
 
Bài viết: 7628
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 3 19, 2012 11:53 am
Has thanked: 4 times
Been thanked: 72 times

Advertisement

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 2 Tháng 2 26, 2018 9:53 pm



Hình ảnh


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vừa qua đời hôm nay 26/2/2018 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hưởng thọ 86 tuổi.

Ca khúc tiêu biểu: Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp, Nhớ một chiều xuân, Sắc hoa màu nhớ.

Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử.

Cuộc đời binh nghiệp

Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận 1, Sài Gòn nhưng nguyên quán của ông ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh. Thuở bé, do điều kiện gia đình, ông học ở nhà dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau ông theo học bậc trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đa Kao.

Năm 1945, chính quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh. Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu, khi đấy ông mới 14 tuổi.


Thời gian tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn sau, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như "Thiếu sinh quân hành khúc", "Tạm biệt mùa hè"...


Sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông nhập ngũ chính thức vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1951, ông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy vào năm 1952. Năm sau, ông được cử đi học khóa huấn luyện "Đại đội trưởng" tại trường Võ bị Đà Lạt. Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa "Tiểu đoàn trưởng" tại trường chiến thuật Hà Nội. Ra trường, ông nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553, trở thành Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia Việt Nam khi mới 24 tuổi.


Sau Hiệp định Genève, 1954, ông chuyển vào Nam, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trung úy Trưởng phòng Hành quân. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm chức Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là, tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu 1956. Bấy giờ, tướng Dương Văn Minh là Tư lệnh chiến dịch, từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ. Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa. Ông thăng đến chức đại tá trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10 năm và ngừng sáng tác từ đó. Hiện ông sống tại Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn cùng gia đình.


Hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc


Nguyễn Văn Đông từng nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 1975. Trong thập niên 1950, Nguyễn Văn Đông nổi tiếng khi là Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân với thành phần ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim... Ông đã tổ chức và điều khiển các chương trình đại nhạc hội tại Sài Gòn và khắp các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa.


Từ năm 1958, Nguyễn Văn Đông là trưởng ban ca nhạc Tiếng Thời Gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc... Năm sau ông là trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp quốc gia, đã huy tụ trên 40 đoàn văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải âm nhạc quốc gia, một giải thường do Đệ nhất phu nhân TLX trao tặng.


Nguyễn Văn Đông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân... Hai cơ sở của ông cho ra đời nhiều chương trình tân nhạc cũng như cổ nhạc gồm các vở tuồng và cải lương. Chính Nguyễn Văn Đông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng trong đó có Khánh Ly với băng nhạc Sơn Ca 7, Thái Thanh và ban Thăng Long - Sơn Ca 10, Lệ Thu - Sơn Ca 9, Phương Dung - Sơn Ca 5 và 11, Giao Linh - Sơn Ca 6, Sơn Ca - Sơn Ca 8... và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.


Nhiều sáng tác của Nguyễn Văn Đông viết về chủ đề người lính miền Nam thời đó. Nhạc phẩm "Phiên gác đêm xuân" được ông viết vào đêm 30 Tết năm 1956 khi gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười. "Chiều mưa biên giới" ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch. "Chiều mưa biên giới" và "Mấy dặm sơn khê" đã từng gây cho ông nhiều khó khăn khi bị Bộ Thông tin Việt Nam Cộng hòa ra quyết định cấm phổ biến vì lý do phản chiến vào năm 1961. "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" nổi tiếng qua tiếng hát của Hà Thanh nhưng thường bị nhầm với nhạc phẩm Khúc tình Kinh Kha của Phạm Duy. Hà Thanh cũng chính là ca sĩ trình bày thành công nhất các nhạc phẩm của ông.


Nguyễn Văn Đông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như "Khi đã yêu", "Thầm kín", "Niềm đau dĩ vãng", "Nhớ một chiều xuân"... Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng...


(từ: Phannguyen PSg)



Những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông:

Ai Đi Ngoài Sương Gió
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Khánh Ly

Hôm nao nhìn lá úa rụng lác đác bên sông. Mây trôi về viễn xứ gợi tiếc nhớ bâng khuâng. Thương ai ngoài sương gió vì đất nước quê hương. Ra đi chốn sa trường vui kiếp phong sương. Thương ai vì non nước đời lính chiến gian.

Anh (Em)
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Khánh Ly

Anh nhớ gì không anh? Những trai hùng đi giúp non sông. Trên bốn ngàn năm qua, dải sơn hà đôi phen thạch mã. Gỗ đá còn gian lao, tiếng anh hào muôn thuở hơn nhau. Giữa cao trào thế giới dâng mau. Tựa ngàn sóng tuôn bờ đại.

Anh! (Em!)
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Khánh Ly; Giao Linh; Anh Khoa

Anh nhớ gì không anh? Những trai hùng đi giúp non sông. Trên bốn ngàn năm qua, dải sơn hà đôi phen thạch mã. Gỗ đá còn gian lao, tiếng anh hào muôn thuở hơn nhau. Giữa cao trào thế giới dâng mau. Tựa ngàn sóng tuôn.

Bông Hồng Cài Áo
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Giao Linh

Đẹp thay bông hồng cài trên áo trắng. Một biểu trưng tình yêu rất chân thành. Cho những ai còn mái tóc xuân xanh. Trong giấc mơ an lành em gọi "má". Tình mẹ hiền ngàn năm cao cả. Đời suy biến tình kia khó phai nhòa.

Chiều Mưa Biên Giới
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Thanh Tuyền; Mỹ Huyền; Mỹ Hương; Thanh Thúy; Thùy Dương; Thy Xuân; Tuấn Vũ; Vĩnh Long; Tuấn Anh; Ba Chéo - Bắc Chước Giọng Thập Niên 60s .

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt. Chờ người về vui trong giá buốt. Người về bơ vơ. Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang. Trăng còn khuyết mấy hoa.

Cung Thương Ngày Cũ
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Lệ Thanh

Chiều nay xa gót xưa buồn hỏi ai, người ấy phương trời nào đây ? Mây nước muôn trùng, sông nước ơi bao giờ thấy nhau. Một mai anh trở lại hàng liễu xưa. Người có Xuân về buồn không? Hoa trắng thôi cài trên tóc ai cùng.

Dáng Xuân Xưa
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Anh Khoa

Xuân sang lả lơi chợt thấy hoa cười. Nối duyên chạnh nhớ một người. Từ mùa Xuân trước tới bây giờ còn mơ. Xuân nào sánh vai cùng ngắm hoa đào. Ái ân nào chẳng lúc tàn. Vườn em thơm ngát chờ anh bước sang. Xuân nay.

Đêm Thánh Huy Hoàng
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Khánh Ly; Elvis Phương; Tuyết Mai; Duy Tân; Mai Vy

Một trời sao sáng ngời. Thiên Chúa sinh ra đời. Mang tình yêu thương tới khắp nơi trần thế. Mùa Đông lạnh lẽo địa cầu. Hào quang thượng giới nhiệm mầu. Muôn lời ngợi ca Chúa giáng sinh trần gian ! Con quỳ xin Chúa.

Hải Ngoại Thương Ca
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Hà Thanh

Một mùa thương . . . kết muôn hoa lòng. Người về đây . . . nối câu tâm lòng. Về cho thấy . . . xuân nồng áo em. Cho tình . . . xưa thôi cách xa. Về chung mái nhà lá. Người về đây . . . giữa non sông này. Hội trùng.

Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Hà Thanh; Hùng Cường; Thanh Tuyền; Thanh Phong

Còn đây giây phút này. Còn nghe tiếng hát, nụ cười xinh tươi. Còn trong ánh mắt, còn cầm tay nhau. Ngày mai xa cách nhau. Một người gối chiếc cô phòng, còn người góc núi ven rừng, chân mây đầu gió ... Còn đây đêm.

Lá Thư Người Lính Chiến (Lá Thơ Người Lính Chiến)
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Hoàng Oanh

Mẹ ơi lời tâm thư gói trọn tình con viết từ chiến trường. Mẹ ơi sầu lo chi tóc già bạc phơ xót xa lòng con. Mẹ ơi đàn em thơ vắng người anh trai có còn khóc hoài. Mẹ ơi vợ hiền con có còn chăm lo luống khoai tháng ngày.

LK Chiều Mưa Biên Giới & Mấy Dặm Sơn Khê
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Thanh Tuyền; Mai Thiên Vân

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt. Chờ người về vui trong giá buốt. Người về bơ vơ. Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang. Trăng còn khuyết mấy hoa không.

Mấy Dặm Sơn Khê
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Hà Phương; Hà Thanh; Bảo Yến; Thái Thanh; Phương Dung

Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng. Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê. Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông. Kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa. Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng, chờ mùa.

Mùa Sao Sáng
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Trường Vũ; Sơn Tuyền; Mộng Tuyền

Có ai về miền quê hương lửa khói cho tôi nhắn vài câu . Cách xa lâu rồi không biết em còn giận hờn anh nữa thôi . Chuyện ngày xưa hai đứa thương nhau trong đêm nhiều sao sáng. Dưới lầu chuông anh khắc tên nhau chung trong.

Mùa Sao Sáng
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Khánh Ly; Ngọc Sáng; Đông Hòa; Giao Linh; Lệ Hằng; Lệ Thủy; Mỹ Huyền; Thanh Thúy; Phong Vũ; Châu Đình An; Đôn Hồ; Hoàng Oanh; Ngọc Huyền; Phi Nguyễn; Thanh Thuý; Đình Bảo; Lam Anh

Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời. Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui. Quỳ lạy Me. Maria lòng Mẹ từ bi bao la. Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà nam. Rồi mùa đông trước qua mùa đông tiếp.

Nhớ Một Chiều Xuân
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Đàm Vĩnh Hưng; Ngọc Minh; Trần Thái Hòa; Anh Khoa; Hà Thanh; Nhật Trường; Mỹ Hạnh; Vô Thường; Lệ Thanh; Giang Thu; Ba Chéo Thử Chơi FXs LOL; Ba Chéo - Bắc Chước Giọng Thập Niên 60s .

Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người. Chạnh lòng tôi khơi . . . bao niềm nhớ. Người nơi xa xăm phương trời ấy. Người còn buồn còn thương còn nhớ. Nắng phai rồi . . . em ơi ! Chiều Xuân có một người ngơ ngác đi.

Niềm Đau Dĩ Vãng
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Mỹ Huyền; Randy; Thiên Trang; Hương Lan; Nhật Trường

Ngày hai đứa ân tình vỡ đôi. Đời hai lối phương trời lẻ loi. Thuyền tình anh lạc bến yêu rôi. Niềm thương đã trót trao người. Âm thầm anh khóc khi biệt ly. Người yêu thưở ban đầu khó quên. Ngày xa em anh càng nhớ thêm. Dù.

Phiên Gác Đêm Xuân
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Mạnh Quỳnh; Trường Vũ; Tuấn Vũ; Khánh Ly; Vô Thường; Trường Duy; Thanh Tuyền; Hà Thanh; Thế Sơn; Nguyên Lê; Ba Chéo; Elvis Phương

Đón Giao Thừa một phiên gác đêm. Chào xuân đến súng xa vang rền. Xác hoa tàn rơi trên báng súng. Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi. Bấy nhiêu tình là bao nước sông. Trời thương nhớ cũng vương mây hồng. Trách.

Sắc Hoa Màu Nhớ
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Tâm Đoan; Thanh Tuyền; Mai Thiên Vân; Lệ Thanh; Ngọc Minh

Hoa phượng rơi đón mùa thu tới. Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi. Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi. Sắc tươi màu pháo vui. Tiễn em chiều năm ấy. Xưa từ khu chiến về thăm xóm. Ngàn xác pháo lấp lánh sao hôm. Chiều hành.

Thương Hận
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Giao Linh

Muốn viết anh đôi hàng. Ngại lòng anh xót xa. Vì ngày mai em gái lên xe kết hoa hồng. Đốt hết bao hình bóng. Chờ giờ bước sang sông. Chớ trách em thay lòng. Sầu này anh biết không. Vì đời người con gái như hoa nở.

Tình Cố Hương
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

TÌNH CỐ HƯƠNG ------------- Khi anh rời xa cố hương Tâm hồn anh vấn vương theo từng cây số buồn. Nhớ cây bằng lăng bến sông, mái chèo khua ánh trăng, chuyến đò duyên chúng mình.

Về Mái Nhà Xưa (Về Đây Mái Nhà Xưa)
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Lưu Bích; Thanh Tuyền; Thái Thanh; Nhan

Về đây ngơ ngác, chim bay tìm đàn. Về đây hoang vắng, lạnh buốt cung đàn. Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế. Qua đáy tim chưa đọng song mê. Qua ước mơ duyên tình đơn sợ. Về đây đâu phút vui xưa xum vầy. Thềm hoang thêu.

Vô Thường
Tác giả: Nguyễn Văn Đông

Ca sỹ thể hiện: Xuân Phú

Đêm đêm nghe bước thời gian nhẹ lướt. Từng sợi rơi rơi như trả cho đời. Từng hạt sương sa trên lá trên hoa. Tan giữa mênh mông vào cõi hư không. Đêm đêm nghe tiếng thời gian suy biến. Từng chồi măng non thay kiếp tre già.
Hình ảnh
https://cailuongvietnam.com - https://cailuongvietnam.com/forum - https://cailuongvietnam.com/oldforum - https://cailuongvietnam.com/specials - https://cailuongvietnam.com/music - https://cailuongvietnam.com/english - https://www.cailuongvietnam.info - - https://www.minhcanh-mychau.com
ATI MULTI SERVICE
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 2 Tháng 2 26, 2018 10:01 pm



Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như Súng Đàn, Vui Ra Đi, một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.


Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay. Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phãi được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ.


Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:


“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngở rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”
Rồi mơ ước rất đời thường:
“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây máinhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”



Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt… vân vân. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.


Còn với hãng dĩa Continental:


Vào năm 1960, tôi và người bạn cao niên tên là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh nghiệp có tiếng ở Sàigòn, cùng đứng ra sáng lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Ông Huỳnh Văn Tứ phụ trách Giám Đốc Sản Xuất, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phụ trách Giám Đốc Nghệ Thuật. Chủ trương của chúng tôi là nhắm vào hai bộ môn Tân Nhạc và Sân Khấu Cải Lương Ca Cổ. Về lãnh vực Tân Nhạc, tôi cho ra đời hàng trăm chương trình mang dấu ấn của hãng Continental, Sơn Ca, Premier. Chính hãng Continental, Sơn Ca đã đi tiên phong trong việc thực hiện Album riêng cho từng cá nhân ca sĩ, như Khánh Ly với Sơn Ca số 7, Lệ Thu với Sơn Ca số 9, Thái Thanh và Ban Hợp Ca Thăng Long với Sơn Ca số 10 và nhiều Album cho Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh, làm vinh danh những tài năng này ở thập niên 60 và 70. Riêng về bộ môn Sân Khấu Cải Lương Ca Cổ , tôi đã thực hiện hàng trăm chương trình Tân Cổ Giao Duyên và trên 50 vở tuồng cải lương kinh điển nổi tiếng như Nửa Đời Hương Phấn, Đoạn Tuyệt, Tiếng Hạc Trong Trăng, Sân Khấu Về Khuya, Mưa Rừng… vân vân. Chính trong thời gian này, tôi tạo thêm hai bút danh nữa là nhạc sĩ Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử, nhằm phục vụ cho bộ môn Cải Lương Sân Khấu và Tân Cổ Giao Duyên. Bút danh Phượng Linh để sáng tác phần nhạc đệm và bài ca tân nhạc lồng trong các vở tuồng cải lương, phối hợp với giàn cổ nhạc gồm những danh cầm như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm. Còn bút danh Đông Phương Tử là soạn các bài tân cổ giao duyên và đạo diễn thâu thanh các vở tuồng cải lương. Tiếc thay, những công trình tâm huyết đó đã bị gạt ra bên lề xã hội sau biến cố lịch sử 30 tháng Tư năm 1975.

Nói về những nhạc phẩm sau này, nhạc sĩ NVĐ tâm sự

Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập “cải tạo” 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Vào năm 2003, nhà nước Việt Nam có cho phép lưu hành 18 bài hát của tôi, gồm: Hải Ngoại Thương Ca, Nhớ Một Chiều Xuân, Về Mái Nhà Xưa, Khi Đã Yêu, Đom Đóm, Thầm Kín, Vô Thường, Niềm Đau Dĩ Vãng, Tình Cố Hương, Cay Đắng Tình Đời, Tình Đầu Xót Xa, Khúc Xuân Ca, Kỷ Niệm Vẫn Xanh, Truông Mây, Bài Ca Hạnh Phúc, Bông Hồng Cài Áo, Trái Tim Việt Nam, Núi và Gió.


Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!

Kể về hai cô ca sĩ học trò Giao Linh và Thanh Tuyền

Hình ảnh

-Với Giao Linh có nhiều kỷ niệm khó quên. Tôi nhớ lại, vào một sáng Chúa Nhựt năm 1965, nhạc sĩ Thu Hồ đưa đến nhà tôi một cô bé gầy gò ốm yếu. Cô đến bằng chiếc xe máy mini Velo Solex, nhưng không đủ sức đẩy xe qua thềm nhà tôi, phải nhờ nhạc sĩ Thu Hồ giúp đở. Cô bé ngồi im lặng như đóng băng không nói năng chi, trong khi nhạc sĩ Thu Hồ thao thao bất tuyệt về khả năng âm nhạc tiềm ẩn trong người cô. Tôi nhìn cô bé 16 tuổi, vóc dáng nhỏ nhắn, không phát triển như những cô gái cùng trang lứa, nghĩ thầm làm sao cô bé này có đủ hơi sức để hát hò. Tôi gợi chuyện vui để cho cô bắt chuyện, qua đó khám phá cái duyên ngầm sân khấu mà trong nghề nghiệp gọi là tổ đãi cho người nghệ sĩ. Nhưng cô bé vẫn không cười không nói, nên buổi gặp gở đầu tiên đó, tôi không dự cảm được gì về cô. Tuy nhiên, để không phụ lòng nhạc sĩ Thu Hồ, tôi cho một cái hẹn thử giọng cô bé Đỗ Thị Sinh tại phòng thu âm của hãng dĩa Continental. Thật bất ngờ, Giao Linh, cái tên nghệ nhân sau này của cô bé Đỗ Thị Sinh, đã gây sửng sốt bằng chất giọng khỏe khoắn. Cô hát vượt qua tầm cữ quãng tám một cách dễ dàng với làn hơi ngân nga dịu dàng truyền cảm. Hãng dĩa Continental chấp nhận, tôi lên chương trình đào tạo, và chỉ sau một thời gian ngắn, tên tuổi ca sĩ Giao Linh bừng sáng trên vòm trời nghệ thuật, sánh vai cùng đàn anh đàn chị đi trước. Khi ấy Giao Linh vừa tròn 17 tuổi. Riêng cái tên mỹ miều “Nữ Hoàng Sầu Muộn” mà người đời ban tặng cho Giao Linh, chỉ vì cô không mỉm môi cười thì Giao Linh mãi mãi mang theo, dù từ lâu rồi cô đã có một gia đình rất hạnh phúc.

-Truờng hợp Thanh Tuyền cũng có nhiều kỷ niệm đặc biệt. Đó là vào năm 1964, tôi đi nghỉ dưởng sức ở Đàlạt. Bạn bè thân hữu ở Đài Phát Thanh đến thăm hỏi, có giới thiệu giọng hát cô bé Như Mai nhiều triển vọng. Cô là nữ sinh Trường Bùi Thị Xuân, hàng tuần có tham gia hát ở Đài Phát Thanh Đàlạt. Rồi nhân dịp nghỉ hè, Trường Bùi Thị Xuân tổ chức phát thưởng bế giảng năm học, mời tôi đến dự lễ. Đến phần văn nghệ, người dẫn chương trình giới thiệu “nữ sinh Như Mai hát tặng cho khách quý đến từ Saigòn”. Giọng cô nữ sinh Bùi Thị Xuân lảnh lót cất lên, khỏe khoắn đầy nội lực thanh xuân, âm vang làm rộn rã cả sân trường. Tôi nghe cháy bỏng một ước mơ, một hy vọng mà cô bé như muốn ngỏ cùng ai. Khi chấm dứt bài hát, Như Mai ngước nhìn tôi. Tôi hiểu ý nên mời cô bé lên gặp tôi trên khán đài và hỏi: “Cháu có muốn trở thành ca sĩ không?”. Như Mai xúc động gật đầu. Sau đó tôi gập thân sinh của Như Mai và bàn chuyện đưa cô bé về Saigòn để đào tạo thành ca sĩ. Khi ấy, tôi còn độc thân, ngày ngày ăn cơm chợ, tối tối ngủ ở đơn vị, thật không tiện chút nào để đở đần một cô gái trẻ xa nhà như vậy. Thế nên, sau khi bàn bạc với Ban Giám Đốc Hãng Dĩa Continental, tôi nhờ nhạc sĩ Mạnh Phát lên Đà Lạt rước Như Mai về Saigòn, tá túc trong gia đình của ông, cũng là gia đình của đôi nghệ sĩ tài danh Minh Diệu-Mạnh Phát thời bấy giờ. Mọi phí tổn ăn ở do Hãng Đĩa Continental đài thọ. Tôi lên chương trình đào tạo và đặt tên mới cho Như Mai là Thanh Tuyền, ý muốn nói là giòng suối xanh của Cao nguyên Đàlạt. Chỉ trong vòng 8 tháng có mặt ở thủ đô Saigòn, Thanh Tuyền đã có đĩa và băng nhạc giới thiệu với người yêu nhạc. Như con chim lạ từ xứ sương mù, một bông hoa rừng còn đẫm ướt hơi sương, Thanh Tuyền nhanh chóng chiếm được sự mến mộ của người yêu nhạc thủ đô, sánh vai cùng đàn anh đàn chị trên Đài Phát Thanh, trên sân khấu Đại Nhạc Hội, phòng trà ca nhạc, được báo giới Sàigòn không tiếc lời ca ngợi. Năm ấy, Thanh Tuyền vừa đúng 17 tuổi.

Hình ảnh

Riêng đối với tôi vẫn còn xanh mãi một kỷ niệm về ngày khởi đầu đi hát của Thanh Tuyền tại Sài Gòn. Theo chương trình, Thanh Tuyền hát ra mắt lần đầu tiên ở phòng trà Bồng Lai và Vũ trường Quốc Tế đường Lê Lợi Saigon. Tôi đích thân đi mua son phấn để cho Thanh Tuyền trang điểm khi đi hát. Tôi thật bất ngờ khi biết Thanh Tuyền chưa từng sử dụng hộp phấn cây son trước đó. Khi đến giờ trình diễn, tôi đưa Thanh Tuyền đến Viện Thẩm Mỹ, Salon Make Up, nhưng các cửa tiệm đều đóng cửa vì trời đã khuya. Quá lo lắng, tôi kéo Thanh Tuyền chạy men theo đường Lê Lợi mong tìm người quen giúp đở. Nhưng không gập được ai mà thời gian lại gấp rút nên thầy và trò đành ngồi bệt ngay trên vỉa hè Lê Lợi. Nhờ ánh sáng đèn đường, tôi đánh phấn tô son cho Thanh Tuyền mà trước đó, tôi cũng chưa từng biết gì về cây son hộp phấn Chanel. Rồi Thanh Tuyền chạy bay lên lầu phòng trà Bồng Lai để kịp giờ trình diễn, còn tôi nện gót trên lề đường Lê Lợi, lòng ngập tràn cảm xúc khi tiếng hát Thanh Tuyền cất lên, đánh dấu ngày khởi nghiệp của ca sĩ Thanh Tuyền giữa thủ đô Sàigòn hoa lệ. Đến bây giờ, sau 40 năm ngồi nhớ lại, tôi dám đoan chắc rằng, đây là người thiếu nữ duy nhứt trong đời mà tôi đã kẻ lông mày, “tô son trét phấn” rồi tung con chim Sơn Ca vào bầu trời bao la, bởi vì cô là… của muôn người.

Về Hà Thanh, con chim hoạ mi đất thần kinh, người được

xem như gắn liền với một số nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông, ông tâm sự

Hình ảnh

Lần đầu tiên, tôi được gập cô Hà Thanh là vào năm 1963 tại Đài Phát Thanh Sàigòn ở số 3 đường Phan Đình Phùng ngày xưa, bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiễu. Khi ấy, tôi là Trưởng Ban TIẾNG THỜI GIAN của Đài Sàigòn với các ca sĩ như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc v.v. Ngày đó cô Hà Thanh từ Huế vào Sàigòn thăm người chị gái lập gia đình với một vị Đại tá đang làm việc ở Sàigòn. Chính nhạc sĩ Mạnh Phát cho tôi biết về cô Hà Thanh nên tôi nhờ Mạnh Phát liên lạc mời cô Hà Thanh đến hát với Ban Tiếng Thời Gian. Đây là lần đầu tiên tôi được tận tai nghe tiếng hát Hà Thanh, hát nhạc sống và hát thật ngoài đời với ban nhạc của tôi, không nghe qua làn sóng phát thanh hay qua băng đĩa nhạc. Điều này giúp cho tôi có cơ sở nhận định chính xác về giọng hát Hà Thanh. Tôi hiểu ngay đây là giọng ca thiên phú, kỹ thuật tốt, làn hơi diễm cãm tuyệt đẹp, là một vì sao trong những vì sao hiếm hoi ở đỉnh cao nghệ thuật nhưng chưa có cơ hội phát tiết hết hào quang của mình. Ngay sau đó, tôi có mời Hà Thanh thâu thanh cho Hãng đĩa Continental. Nếu tôi nhớ không lầm thì bản nhạc đầu tiên tôi trao cho Hà Thanh là bài VỀ MÁI NHÀ XƯA do tôi sáng tác. Lần đó, cô Hà Thanh hát thật tốt, toàn ban nhạc và Ban Giám Đốc Hãng Continental rất hài lòng, khen ngợi. Sau ngày đó, cô Hà Thanh từ giã trở về lại Huế, trở về lại với Cố đô trầm mặc, tĩnh lặng, không sôi nổi như Thủ Đô Saigòn, là cái nôi của âm nhạc thời bấy giờ.

Sau khi Hà Thanh trở về Huế, tôi có nhiều suy tư về giọng hát đặc biệt này. Tôi ví von, cho đây là vì sao còn bị che khuất, chưa toả hết ánh hào quang, vì chưa có hoàn cảnh thuận lợi để đăng quang, nếu phó mặc cho thời gian, cho định mệnh, có thễ một ngày kia sẽ hối tiếc. Vì vậy tôi đem việc này ra bàn với Ban Giám Đốc Hãng đĩa Continental để mời cô Hà Thanh vào Sàigòn cộng tác. Chính tôi viết thư mời cô Hà Thanh vào Sàigòn với những lý lẽ rất thuyết phục, rất văn nghệ, rất chân tình. Và cô Hà Thanh đã vào Sàigòn sau khi đã tranh đấu gay go với gia đình bố mẹ, vốn giữ nề nếp cỗ xưa của con người xứ Huế. Ngày đó Hà Thanh vào Sàigòn, hoà nhập vào đời sống người Sàigòn, vào nhịp đập âm nhạc Sàigòn, vốn đứng đầu văn nghệ cả nước. Hà Thanh đi thâu thanh cho Đài Sàigòn, Đài Quân Đội và nhận được lời mời tới tấp của các Hãng đĩa băng nhạc như Sóng nhạc, Việt Nam, Tân Thanh, Tứ Hải và hầu hết các Trung Tâm ở Thủ Đô Sàigòn, chứ không phải chỉ riêng cho Hãng dĩa Continental và Sơn Ca của tôi. Ngày đó, tiếng hót của con chim Sơn Ca đất Thần Kinh đã được vang thật xa, đi vào trái tim của hàng triệu người yêu mến tiếng hát Hà Thanh.

Cô Hà Thanh hát hầu hết các tác phẩm của tôi. Bài nào tôi cũng thích, cũng vừa ý, có lẽ vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện viết bài đặc biệt cho riêng cô. Tôi nhớ lại một chuỗi những sáng tác trong thời binh lửa chiến tranh như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư Người Lính Chiến,Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt vân vân, đều rất hợp với tiếng hát Hà Thanh và cô hát rất thành công. Tôi cho rằng Hà Thanh không chỉ hát mà còn sáng tạo trong khi hát. Hà Thanh đã tạo thêm những nốt luyến láy rất truyền cảm, rất mỹ thuật làm cho bài hát của tôi thêm thăng hoa, trong giai điệu cũng như trong lời ca. Tôi cho rằng khi hát cô Hà Thanh đã sống và cùng đồng điệu sẻ chia với tác gỉa khi trình bày một bản nhạc có tầm vóc nghệ thuật.

Tôi cho rằng Hà Thanh có giọng hát thiên phú, cô hát rất thoải mái dễ dàng, không cầu kỳ, không cường điệu, không gò bó nhưng nó cuốn hút ta đi trong cái bềnh bồng không gò ép đó. Tôi cám ơn tiếng hát của Hà Thanh đã mang lại cho các bài hát của tôi thêm màu sắc, thêm thi vị, bay bổng. Trước khi đến với Hà Thanh, tôi cũng rất ngưởng mộ tiếng hát của cô Thái Thanh, Lệ Thanh, Khánh Ngọc và nhiều người khác đã gieo khắp phương trời tiếng lòng của tôi, cũng như về sau này có thêm các cô học trò như Thanh Tuyền, Giao Linh đã giúp cho ông Thầy truyền tải đến trái tim người yêu nhạc. Nhưng đặc biệt, tiếng hát Hà Thanh đã để lại trong tôi nhiều kỹ niệm tốt đẹp, bền bỉ tuy thời gian ngắn ngủi kể từ khi cô bỏ đi lấy chồng để tôi độc hành trên đường nghệ thuật. Sau biến cố 1975, tôi không còn dịp hợp tác với cô Hà Thanh như trước đây. Nhưng thỉnh thoảng tôi được nghe cô hát một sáng tác mới của tôi ở hải ngoại, tôi vẫn cảm thấy tiếng của cô vẫn đậm đà phong cách ngày xưa, vẫn một Hà Thanh diễn cảm, sang trọng, sáng tạo trong khi hát, mặc dù thời gian chia cách đã 40 năm qua.

Nguyễn Văn Đông

http://www.luanhoan.net
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 2 Tháng 2 26, 2018 11:17 pm



Nguyễn Văn Đông sinh năm 1932 tại Sài gòn, nguyên quán ở Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, thuở nhỏ học tiểu học và trung học đệ nhất cấp ở Đakao (Sài gòn). Vào những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đất nước có những biến động lớn lao, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản và ly tán. Sau khi trường trung học ở Đakao đóng cửa, ông tự ý xin theo học trường Thiếu sinh quân Việt Nam, trường võ bị đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam, nơi đào tạo nhiều tướng lãnh tài ba của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ông đã học 5 năm ở ngôi trường này, được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp vốn là những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp. Khi mới 15 tuổi, ông đã là một thành viên của ban quân nhạc thiếu niên như lời kể của ông: “Trường Thiếu sinh quân có riêng một đoàn quân nhạc trên 40 người có tầm vóc của người lớn, nhưng lại do chính những thiếu sinh qưân chưa quá 16 tuổi đời cử hành nhạc và do một nhạc trưởng người Pháp chỉ huy”. Khi tham gia đoàn quân nhạc này, ông đã sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ như kèm trumpet, trống, đàn madoline và đàn guitar Hawaii, có dịp học sáng tác với những giáo sư người Pháp và viết được những ca khúc đầu tiên khi mới 16 tuổi như “Thiếu sinh quân hành khúc”, “Tạm biệt mùa hè”…

Sau khi tốt nghiệp Trường Thiếu sinh quân, ông theo học Trường Võ bị sĩ quan Vũng Tàu, tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc thiếu úy, rồi theo học tại Trường Võ bị Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt vào năm 1953, ông về giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng ở Trường Chiến thuật tại Hà Nội. Trong 2 năm 1955 và 1956, ông phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ trưởng Phòng Hành quân. Vào thời gian này, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ trưởng phòng 3 của Chiến khu Đồng Tháp Mười do đại tá Nguyễn Văn Là làm chỉ huy trưởng, tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Năm 1957, ông theo học khóa chỉ huy và tham mưu tại bang Hawaii của Mỹ và ca khúc “Nhớ một chiều xuân” đã được sáng tác trong thời gian này. Bên cạnh việc sáng tác nhạc, ông cũng chú trọng đến việc tổ chức những chương trình văn nghệ, đứng ra thành lập đoàn văn nghệ Vì Dân. Năm 1958, ông là trưởng ban Tíếng Thời Gian của Đài phát thanh Sài gòn, quy tụ nhiều giọng ca nổi tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Quách Đàm, Anh Ngọc… Từ cấp bậc thiếu úy, ông thăng dần lên cấp bậc đại tá cho tới năm 1975 nên sau ngày 30 tháng 4 phải đi học tập cải tạo suốt 10 năm.

Nguyễn Văn Đông bắt đầu sáng tác nhạc khi đất nước đang có chiến tranh nên những nhạc phẩm đầu tay như “Súng đàn”, “Lên đường”, “Vui ra đi” là những ca khúc về người lính được phổ biến rất hạn chế. Mãi đến năm 1956, ông mới được nhiều người biết đến khi những ca khúc như “Phiên gác đêm xuân”, “Sắc hoa màu nhớ”, “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” lần lượt ra mắt, trong đó 2 ca khúc nổi tiếng nhất là “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” bị Bộ Thông tin cấm phổ biến vào năm 1961 vì ca từ được cho là ủy mị, thể hiện tinh thần phản chiến.

Tuy nhiên Nguyễn Văn Đông không chỉ có những nhạc phẩm viết về người lính mà còn có những bản tình ca như “Cung thương ngày cũ”, “Nếu có em bên anh”, “Tình đầu xót xa”, “Xa người mình yêu”, “Niềm đau dĩ vãng” ký tên Phượng Linh.

Ông đã kể về thời gian dùng bút danh Phượng Linh khi sáng tác nhạc: “Vào năm 1960, tôi và người bạn cao niên tên là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh nghiệp có tiếng ở Sài Gòn, cùng đứng ra sáng lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Ông Huỳnh Văn Tứ phụ trách giám đốc sản xuất, tôi phụ trách giám đốc nghệ thuật. Chủ trương của chúng tôi là nhắm vào hai bộ môn tân nhạc và sân khấu cải lương, ca cổ. Về lãnh vực tân nhạc, tôi cho ra đời hàng trăm chương trình mang dấu ấn của hãng Continental, Sơn Ca, Premier. Chính hãng Continental, Sơn Ca đã đi tiên phong trong việc thực hiện album riêng cho từng ca sĩ như Khánh Ly với Sơn Ca số 7, Lệ Thu với Sơn Ca số 9, Thái Thanh và Ban Hợp Ca Thăng Long với Sơn Ca số 10 và nhiều album cho Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh. Riêng về bộ môn sân khấu cải lương, ca cổ , tôi đã thực hiện hàng trăm chương trình tân cổ giao duyên và trên 50 vở tuồng cải lương kinh điển nổi tiếng như “Nửa đời hương phấn”, “Đoạn tuyệt”, “Tiếng hạc trong trăng”, “Sân khấu về khuya”, “Mưa rừng”… Chính trong thời gian này, tôi tạo thêm hai bút danh nữa là nhạc sĩ Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử. Bút danh Phượng Linh để sáng tác phần nhạc đệm và bài ca tân nhạc lồng trong các vở tuồng cải lương, phối hợp với dàn cổ nhạc gồm những danh cầm như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm. Còn bút danh Đông Phương Tử là soạn các bài tân cổ giao duyên và đạo diễn thâu thanh các vở tuồng cải lương…”

“Niềm đau dĩ vãng” là một ca khúc có lời lẽ rất thiết tha về một mối “duyên tình dở dang” đã khiến cho “lòng nhớ mãi khôn nguôi” và “buồn theo ngày tháng âm thầm trôi” cho đến phút cuối của cuộc đời:

Ngày hai đứa ân tình vỡ đôi
Đời hai lối phương trời lẻ loi
Thuyền tình anh lạc bến yêu rôi
Niềm thương đã trót trao người
Âm thầm anh khóc khi biệt ly.
Người yêu thuở ban đầu khó quên
Ngày xa em anh càng nhớ thêm
Dù mai đây vật đổi sao dời
Đường tơ đã lỗi cung rồi
Tình yêu một thưở không hề quên.
Yêu nhau chiều nào rồi xa nhau chiều nay
Lòng ai không đảo điên xót xa tình đầu tiên
Em ơi một phút bên nhau rồi, tình ấy cao vời vợi
Lòng nhớ mãi không nguôi.
Lời ân ái đâu ngờ chóng phai
Tình gian dối nên nhiều đắng cay
Hồn anh xin trọn kiếp theo người
Dù duyên tình dở dang rồi
Buồn theo ngày tháng âm thầm trôi.

Ca khúc “Niềm đau dĩ vãng” với giọng ca Kim Anh
FB Huỳnh Duy Lộc.


phpBB [video]
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 2 Tháng 2 26, 2018 11:25 pm



phpBB [video]
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 2 Tháng 2 26, 2018 11:30 pm



Nhạc bản Chiều Mưa Biên Giới (tác giả: Nguyễn Văn Đông) qua tiếng hát của Thiên Hương & Trần Văn Trạch. Âm thanh và hình ảnh do Tôn thất Hùng sưu tầm và ráp nối. Bài hát được cho là thu âm tại Pháp năm 1961. Hãy cùng nhớ về quá khứ với tất cả sự trân trọng.

phpBB [video]
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 5:55 am



phpBB [video]


Chiều mưa biên giới
Ai đi ngoài sương gió
Ave Maria
Bông hồng cài áo trắng
Cung thương ngày cũ
Sắc hoa màu nhớ
Dạ Sầu
Hải ngoại thương ca
Bóng nhỏ giáo đường
Hàng Hàng Lớp Lớp
Lời giã biệt
Mùa sao sang
Vô Thường
Phiên gác đêm xuân
Thu Hoài cảm
Thương muộn
Tình cố hương
Xin đừng trách anh
Về mái nhà xưa
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 6:07 am



Xin giới thiệu các bạn một bài viết (dài) của thi sĩ Du Tử Lê về nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Loạt bài này đăng trên Người Việt (California).

Có lẽ những ai yêu nhạc thời trước 1975 đều biết đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với những bài nổi tiếng như Chiều mưa biên giới, Khi đã yêu, Phiên gác đêm xuân, Sắc hoa mầu nhớ, Hải ngoại thương ca, v.v... Tôi cũng là một fan của ông nhạc sĩ cựu đại tá này. Ông là cựu quân nhân, cho nên một số sáng tác mang màu sắc lính. Trong một bài trả lời phỏng vấn Trường Kỳ, ông cho biết hoàn cảnh ra đời của bài Chiều mưa biên giới như sau: “Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến. Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu...”

Vẫn trích theo Trường Kỳ, về nhạc phẩm Hải ngoại thương ca, một sáng tác từ năm 1963, nhưng đến mãi đến năm 2004 mới được phổ biến. Ông tâm sự: ”Năm 2004 bài Hải Ngọai Thương Ca được đưa ra ngoài Hà Nội duyệt. Thì ngoài Hà Nội mới hỏi tôi: có phải bài Hải Ngoại Thương Ca Này mới viết không mà sao nó sát với đề tài của thời cuộc này quá vậy?. Nó hay đấy . Đấy là lời của một vị lãnh đạo của cục Văn Hóa Nghệ Thuật”. Vẫn theo nhạc sĩ NVĐ, bối cảnh ra đời của nhạc phẩm này là trong cuộc đảo chánh tướng Nguyễn Chánh Thi phải trốn ra ngoại quốc: “ Trước đó có một cuộc binh biến vào năm 1960. Ông Nguyễn Chánh Thi dấy lên một cuộc binh biến đảo chánh. Nhưng cuộic binh biến đó thất bại. Cho nên tòan thể sĩ quan tham gia trong cuộc đảo chánh năm 1960 của Nguyễn Chánh Thi bay ra ngoại quốc. Đến năm 1963, có một cuộc đảo chánh lần thứ nhì khiến chế độ của ông Ngô Đình Diệm bị suy sụp.. Lúc đó mọi người lên tiếng kêu gọi những anh em ly tán sau cuộc đảo chánh lằn thứ nhất đang ở ngọai quốc trở về. Lúc đói tôi thấy một số bạn bè của tôi vẫn còn do dự chưa muốn trở về . Điều này nó thôi thúc tôi viết bài Hải Ngoạii Thương Ca, có ý nói bây giờ trong nước cũng vui vẻ...”.

Năm nay, nhạc sĩ đã ở vào cái tuổi “cổ lai hi”. Đọc lại những dòng chữ dưới đây để cảm nhận thêm về một nhạc sĩ tài hoa.

NVT

===

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 04676&z=16

Hình ảnh người lính khác, trong nhạc Nguyễn Văn Đông (Du Tử Lê)

Du Tử Lê

Chúng ta có thể nói mà, không sợ sai lắm rằng, dân tộc nào cũng có cho riêng mình, một bài “Chiêu hồn tử sĩ.” Tử sĩ, những người lính trải qua nhiều thời kỳ, chết cho quê hương, tổ quốc họ. Do đó, ngay cả thời bình, hình ảnh người lính cũng xuất hiện rất thường, trong thi ca và, trong âm nhạc. Huống hồ chi, nếu đất nước đó, lại là một đất nước chìm, đắm triền miên trong chiến tranh.

Chân dung người lính, nói một cách đơn giản; hoặc còn được gọi một cách văn vẻ là “chinh phu,” “chinh nhân” hoặc, “chiến sĩ”... được mô tả như thế nào (?) ra sao (?) thì, chúng tùy thuộc cảm quan từng tác giả. Chúng không nhất thiết phải giống nhau, hay chỉ có một diện mạo. Thí dụ nhạc sĩ Lê Thương, người đã cống hiến cho nền tân nhạc Việt Nam, một trường ca bất tử: Trường ca “Hòn Vọng Phu.”

Với trường ca này, chính họ Lê cho biết, được gợi hứng từ tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của bà Ðoàn Thị Ðiểm. Nên, người lính trong “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương là một “chinh phu.”

Ở một số nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ khác, thì người lính trong ca khúc của họ, lại được gọi một cách dung dị, là “binh sĩ.” Thí dụ hình ảnh người lính trong ca khúc “Ly Rượu Mừng” của nhạc sĩ Phạm Ðình Chương. Một ca khúc như viên ngọc quý, càng ngày càng “lên nước” với thời gian. Trong ca khúc mà chúng ta thường được nghe trong mỗi độ Xuân về, họ Phạm cũng đã dành một vị trí trân trọng cho người lính, qua câu nhạc:

“...Rót thêm tràn đầy chén quan san / chúc người binh sĩ lên đàng / chiến đấu công thành / sáng cuộc đời lành / mừng người vì Nước quên thân mình.” (1)

Một trong những bất hạnh lớn của dân tộc và, đất nước Việt Nam là thường xuyên chìm, đắm trong chiến tranh, ly tán! Vì thế, hầu như nhạc sĩ nào của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ít hay nhiều, cũng đã ghi nhận hình ảnh người lính. Hình ảnh ấy có thể thấp thoáng hoặc, rõ nét. Ðích danh.

Vì vai trò của người lính ở đâu, giai đoạn nào, cũng vẫn là cái nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ quê hương, bảo vệ nòi giống; nên chân dung người lính thường được mô tả một cách hào hùng, lẫm liệt như hình ảnh người lính trong ca khúc “Biệt Kinh Kỳ” (nhạc Minh Kỳ, lời Hoài Linh):

“Bạn ơi! Khi nào ai hỏi đến tên tôi / đời tôi lính chiến cánh chim tung trời / ngày nào khi đất nước hết binh đao / giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu / trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau.”

Hoặc lãng mạn, mang tính biểu tượng cực tả, như hình ảnh người lính, trở thành thương binh, trong ca khúc “Ngày Trở Về” của Phạm Duy:

“Ngày trở về có anh nông phu chống nạng cầy bừa / vì thương yêu anh nên ngày trở về / có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ...”

Ở một cực khác, cực đối nghịch, cũng với Phạm Duy, trong ca khúc “Kỷ Vật Cho Em” (thơ Linh Phương,) thì, chân dung người lính lại là:

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại / xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về / anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime / hay Ðức Cơ, Ðồng Xoài, Bình Giã / anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả / anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa / anh trở về trên chiếc băng ca / trên trực thăng sơn màu tang trắng /... / Anh trở về chiều hoang trốn nắng / Poncho buồn liệm kín hồn anh / anh trở về bờ tóc em xanh / chít khăn sô lên đầu vội vã... em ơi!”

Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Ðông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về dề tài này.

Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên Gác Ðêm Xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở Khu 9, Ðồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt-Miên và “Mấy Dặm Sơn Khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên Trung phần.

Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Ðông, tuy cũng đậm tính thơ mộng... Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.

Ông không vẽ chân dung người lính của ông bằng hình ảnh hào hùng lẫm liệt, như hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hoài Linh. Người lính trong ca khúc của Nguyễn Văn Ðông có thể đi ở hàng... cuối chót, của đoàn quân chiến thắng trở về thủ đô - Thậm chí, họ cũng có thể vắng mặt trong những cuộc duyệt binh, mừng thắng trận; khi ông viết:

“Ðón giao thừa một phiên gác đêm / chào xuân đến súng xa vang rền / xác hoa tàn rơi trên báng súng / ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi /...? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu / vì mơ ước trắng như mây chiều / tủi duyên người năm năm tháng tháng / mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi / Chốn biên thùy này xuân tới chi? / tình lính chiến khác chi bao người / nếu xuân về tang thương khắp lối / thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên Gác Ðêm Xuân”)

Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng, như chiến thắng Pleime, Ðức Cơ... mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường:

“Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay / Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng / đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng / người tìm về trong hơi áo âm / gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương / thương màu áo gửi ra sa trường / lòng trần còn tơ vương khanh tướng / thì đường trần còn mưa bay gió cuốn / còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều Mưa Biên Giới”)

Ông cũng không quả quyết rằng, người lính của ông sẽ trở về bằng một chiếc quan tài có “cài hoa.” Mà, chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Ðó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc:

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng / ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê / non nước ơi, hồn thiêng của núi sông / kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa / Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng / chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang / anh đến đây rồi anh như bóng mây / chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh / Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây / tóc tơi bời lộng gió bốn phương / nước non còn đó, một tấc lòng / không mờ xóa cùng năm tháng / mấy ai ra đi hẹn về / dệt nốt tơ duyên...” (Trích “Mấy Dặm Sơn Khê”)

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một người gắn bó với sinh hoạt âm nhạc tự những năm giữa thập niên 1950, khi ông còn rất nhỏ, cho biết, người đầu tiên trình bày ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn văn Ðông là ca, nhạc sĩ Trần Văn Trạch. Họ Trần mang ca khúc này qua Pháp trình diễn. Khi trở về Saigòn, vào đầu năm 1960, tại rạp Hưng Ðạo, cùng với nữ ca sĩ Thái Thanh, ông đã trình bày ca khúc ấy với ban Ðại Hòa Tấu do nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi điều khiển.

Bên cạnh đó, theo một bản tin được phổ biến trên trang mạng Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia thì, sau khi hai ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” và “Mấy Dặm Sơn Khê” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông được bằng hữu trong giới, trân trọng giới thiệu với quần chúng, tác giả đã gặp nhiều khó khăn từ Bộ Thông Tin Saigòn... Cụ thể, năm 1961, bộ này đã ra quyết định cấm phổ biến hai ca khúc vừa kể với lý do: Nội dung “phản chiến!” Có thể đưa tới sự sa sút tinh thần của những người lính trấn đóng ở những vùng hẻo lánh, núi non, biên giới...

Hôm nay, nhìn lại, người ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông không chỉ cho những người yêu nhạc của ông, một chân-dung-khác về người lính miền Nam Việt Nam, 20 năm. Mà, ở nhiều ca khúc còn lại, ông vẫn trung thành với cảm nhận rất nhân bản, rất con người của mình. Dù cho hình ảnh hay, chân dung của người lính, trong ca khúc của họ Nguyễn, không được chính quyền thời đó, chấp nhận.

Du Tử Lê


Chú thích:

(1) Nhạc sĩ Phạm Ðình Chương từng ghi lại trong tuyển tập nhạc nhan đề “Phạm Ðình Chương, Ly Rượu Mừng” do Phạm Thành xuất bản tại Hoa Kỳ, 1991, thì: Ca khúc “Ly Rượu Mừng” được ông sáng tác năm 1955 tại Saigòn. Ðể đăng trong giai phẩm Xuân Ðời Mới; theo yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và, nhà văn quá cố Nguyễn Ðức Quỳnh, là hai người chủ trương báo này.


Hình ảnh
Giao Linh, Nguyễn Văn Đông, Thanh Tuyền
(Ảnh: Trường Kỳ, chụp năm 2004 ?)


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 04937&z=16

Nguyễn Văn Ðông và, điểm đứng chông chênh giữa hai đầu tả, hữu (Du Tử Lê)

[color=#BF00BF]Mặc dù họ Nguyễn tình nguyện hiến cuộc đời mình cho quân đội khi ông còn rất trẻ; nhưng bên cạnh tư cách một người lính, ông còn là một nhạc sĩ. Trong vai trò này, ông lại là nhạc sĩ miền Nam, được thế giới biết đến tên tuổi rất sớm.

Ðiển hình là sự kiện ngay từ năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No.1 và Ðài Truyền Hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” của ông, gây tiếng vang lớn ở Âu Châu. “Biến động” này đã tạo sức dội ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. Âm vang của ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” lại được khuếch tán thêm nữa, khi cũng trong năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch, lần đầu tiên, trình bày ca khúc ấy tại “Ðại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam” với dàn nhạc của Ðài Truyền Hình Pháp, thu “play back.” (2)

Tôi cho họ Nguyễn là một trường hợp đặc biệt của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, 20 năm. Khi, một mặt, ông vẫn chu toàn nhiệm vụ “người lính gác giặc” của mình. Mặt khác, ông vẫn can đảm cất lên tiếng nói của lương tri. Tiếng nói của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Những ghi nhận từ đáy tầng khát khao của dân tộc, đất nước...

Vì thế, ngay khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được báo chí thời đó đăng tải nơi trang nhất thì dư luận quần chúng khắp nơi đã đồng loạt phản ứng. Họ bênh vực họ Nguyễn, như bênh vực người phát ngôn trung thực nhất, về những mơ ước, khát khao thầm kín của họ. Phản ứng bất ngờ của đám đông cũng khiến nhiều cơ quan ngôn luận nhập cuộc. Lên tiếng bênh vực. Ủng hộ tinh thần tác giả “Chiều Mưa Biên Giới.”

Sự kiện vừa kể, cách gì, cũng không cứu được tác giả thoát khỏi 15 ngày trọng cấm! Lệnh phạt theo quân kỷ. Ban hành bởi Bộ Quốc Phòng. Lý do:

“Ðương sự đã không tuân hành huấn lệnh quy định rằng, bất cứ một quân nhân nào, khi sáng tác thơ, văn, âm nhạc... trước khi phổ biến cho công chúng, phải được nhân viên hữu trách của Bộ Quốc Phòng duyệt trước và, cấp giấy cho phép!...”

Lệnh phạt ấy còn kèm theo một điều khoản trói tay, triệt tiêu nỗ lực phát triển tài hoa, nghệ thuật của họ Nguyễn. Ðó là điều khoản:

“...Ðương sự không được phép xuất hiện trong mọi sinh hoạt ca nhạc nơi công cộng!”
Mặc dù khi ấy, với cấp bậc đại úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông đảm nhiệm nhiều chức vụ khá quan trọng như: Bí thư Tổng giám đốc Cảnh sát, Công an và, Chánh văn phòng Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.

Hồi tưởng thời điểm này, tác giả “Phiên Gác Ðêm Xuân” có lần đã tâm sự với một số người thân của ông rằng: Trở thành nhạc sĩ hay nghệ sĩ nói chung, là một trở ngại lớn cho ông, trên bước đường binh nghiệp. Bởi vì những cấp Bộ có trách nhiệm thăng chức đều không tin tưởng giới nghệ sĩ. Họ quan niệm nghệ sĩ là giới ăn chơi, hút xách, lãng mạn, tính khí thất thường... không thích hợp với vai trò điều quân khiển tướng. Mặc dù ngay tự khởi đầu binh nghiệp, họ Nguyễn đã chứng tỏ ông có đầy đủ uy tín, thành tích và, thâm niên để được đề bạt vào những chức vụ quan trọng hơn...

Trường hợp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông khiến không ít người liên tưởng tới trường hợp của cố Ðại Tá Anh Việt/Trần văn Trọng - Tác giả những ca khúc nổi tiếng như “Bến Cũ,” “Thơ Ngây”... Tuy ông không bị nhiều khó khăn, gập ghềnh như trường hợp họ Nguyễn; nhưng với thâm niên quân vụ như họ Trần, cuối cùng, chức vụ cao nhất mà nhạc sĩ Anh Việt được giao phó, cũng chỉ là cục trưởng Cục Quân Cụ mà thôi.

Về mặt trái của tấm huy chương hay sự nổi tiếng, theo ghi nhận của tác giả ca khúc “Về Mái Nhà Xưa” là, phản ứng đố kỵ, gièm pha của những người cùng ngành nghề! Khi họ thấy, một sớm, một chiều, chỉ với một ca khúc thôi, Nguyễn Văn Ðông đã được quần chúng nhiều giới khác nhau, ái mộ, như ái mộ một thần tượng mà họ chờ đợi đã từ rất lâu.

Bên cạnh đó, họ Nguyễn cũng kể lại một câu chuyện điển hình cho cái mà, ông gọi là “tai họa” cho bất cứ một nghệ sĩ nào, nếu may mắn có được một vị trí tương đối, trong guồng máy chính quyền hay, quân đội. Ðó là sự kiện một số không nhỏ những người thân quen, nhân danh “tình nghĩa nghệ sĩ” xin ông can thiệp để họ được làm lính kiểng, lính ma; hoặc, vận động, chạy chọt cho họ được thuyên chuyển từ các đơn vị tác chiến, tiền đồn về văn phòng hay, hậu cứ! Và, khi bị từ chối thì, cũng chính đám người đó, lại là những người tìm mưu, lập kế ám hại ông nhiều nhất.

Tác giả “Hải Ngoại Thương Ca” nhớ lại:

“Có lần Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi vào dinh Ðộc Lập, trình diện ông. Ông bảo, ‘Anh bị rất nhiều người tố cáo rằng anh lợi dụng danh tiếng nhạc sĩ đi hại đời con gái người ta! Anh đã phá hoại gia cang nhiều gia đình người khác!Anh cũng bị tố là ăn chơi sa đọa, đơn tố cáo chất chồng ở đây.. ’ ’’. Anh phải stop ngay vì uy tín của quân đội...! ’ ’’”

Dù thường xuyên bị đe dọa bởi những cơn bão lớn, nhiều lúc tưởng chừng con đường binh nghiệp có thể bị cắt ngang, thậm chí rơi vào vòng lao lý, nhưng giữa hai con người quân nhân và nghệ sĩ, thời gian đã cho thấy họ Nguyễn vẫn chọn nghiêng nặng về phía con người nghệ sĩ. Phải chăng, từ sâu thẳm tâm hồn mình, ông từng tự nhắc nhở mình rằng: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng - thì đường trần mưa bay gió cuốn - còn nhiều anh ơi”?

Tôi nghĩ, ý niệm “khanh tướng” này của tác giả, nhiều phần đi ra từ câu thơ cổ “nhất tướng công thành vạn cốt khô.”

Vì thế, sau hai ca khúc bị cấm phổ biến là “Chiều Mưa Biên Giới” và “Mấy Dặm Sơn Khê,” nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông vẫn tiếp tục sáng tác những ca khúc mang tính “phản chiến” như các bài “Lá Thư Người Lính Chiến” Bài này bị Bộ Thông Tin cấm lưu hành vì các câu, “Mẹ ơi! Cầu xin cho xóm làng quê hương xóa mờ chiến trường - Ðồng bào ta cùng thương nhau xóa hận thù đi - xóa đi đường ranh giới...” Mặc dù, hai câu chót, trong phần ca từ của bài này, ghi rõ rằng, “Mẹ ơi và con trai của mẹ ngày mai sẽ về... sẽ về - Mẹ ơi! Mẹ hiền ơi! Chớ buồn vì con, nước non chưa tròn...”

Cách khác, dù mong mỏi hòa bình đến cho dân tộc, nhưng không vì thế mà tác giả từ chối nhiệm vụ của một người lính.

Ca khúc nhan đề “Anh Trước Tôi Sau,” Nguyễn Văn Ðông viết để tưởng niệm người bạn thuở cùng học với ông ở trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tầu: Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh sư đoàn bị bắn rớt máy bay, tử nạn khi ông mới 37 tuổi, cũng bị xếp vào loại nhạc “phản chiến.” Nội dung ca khúc này chỉ muốn nói, là những quân nhân đã tự nguyện hiến mình cho tổ quốc thì, cái chết là điều đương nhiên sẽ phải đến với người lính. Khác nhau chăng chỉ là thời gian. Sớm, muộn!

Riêng ca khúc “Anh” tức “Anh Nhớ Gì Không Anh” của họ Nguyễn thì bị cấm vì các câu như: “Nước mắt dân Hời, thành quách một thời tan tành hệ bởi đâu? Sao ta nỡ xa ta, xẻ chia sơn hà cho Bắc Nam mình xa cách nhau!”

Như đã nói, cái tinh thần kẻ sĩ, cái ý thức đất nước, dân tộc, khiến Nguyễn Văn Ðông chấp nhận thua thiệt trong binh nghiệp, nhưng bảo vệ được khí tiết của một kẻ sĩ thao thức, trằn trọc trước tang thương đất nước. Nhưng đó là sự lên tiếng của một người lính tự nguyện. Một người lính vẫn làm tròn bổn phận của một công dân thời đất nước binh đao, ly loạn... Sự kiện này vẫn khác, hoàn toàn khác với những nhạc sĩ cũng giương cao ngọn cờ phản chiến; nhưng lại là những người từ chối trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc.

Hơn một lần, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từng nói với tôi, “Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì, Nguyễn Văn Ðông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhậy cảm và, gai góc này.”

Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần phải ghi nhận một cách công bình rằng, tiếng nói của Nguyễn Văn Ðông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước - Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ. Ðó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và, những người đứng ngoài, với những kêu đòi vô trách nhiệm.

Trong đời nhạc Nguyễn Văn Ðông, tình yêu tổ quốc luôn nồng nàn, như thể đó là tình yêu thứ nhất của đời ông:

“Và xin em hiểu rằng, người đi giúp nước nào màng danh chi - Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy - Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay - Ðời dâng cho núi sông - Lòng này thách với tang bồng - Ðừng làm má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi!...” (Trích “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”)

Hoặc:

“Người về đây giữa non sông này - Hội trùng dương hát câu sum vầy - Về cho thấy con thuyền nước Nam - Ði vào mùa xuân mới sang - Xa rồi ngày ấy ly tan - Tôi đi giữa trời bồi hồi - Cờ bay phất phới tôi quên chuyện ngày xưa - Mong sao nước Việt đời đời - Anh dũng oai hùng chen chân thế giới...” (Trích “Hải Ngoại Thương Ca”)

Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình, bằng một tình yêu một chiều; mà, không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được.

Du Tử Lê

Chú thích:
(2) Ðại nhạc hội này do nhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam tổ chức. Nhân đây, cũng xin lưu ý: “Trăm Hoa Miền Nam” và “Tinh Hoa Miền Nam” là hai nhà xuất bản nhạc lẻ khác nhau.
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 6:15 am

Hình ảnh
Nguyễn Văn Đông thời còn làm nhạc trưởng
(ảnh: Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 05285&z=16

Binh nghiệp và nhạc nghiệp Nguyễn Văn Ðông (Du Tử Lê)

Có một vài tài liệu ghi nhận rằng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông sinh năm 1934. Nhưng theo sự xác nhận của họ Nguyễn thì, ông sinh năm 1932 tại quận Nhất, thành phố Saigon. Nguyên quán của ông là tỉnh Tây Ninh, huyện Bến Cầu. Thuở bé Nguyễn Văn Ðông học trường Huỳnh Khương Ninh, phường Ðakao, Tân Ðịnh, Saigon. Năm 1945- 1946 loạn lạc, trường Huỳnh Khương Ninh đóng cửa.

Gia đình gửi ông vào trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, ở thành phố Vũng Tàu, khi ấy ông mới 14 tuổi. Và, con đường binh nghiệp của ông, chính thức khởi đi từ đấy.

Năm 1950 Nguyễn Văn Ðông tốt nghiệp trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, cũng là nơi xuất thân của trên dưới 30 tướng lãnh thuộc quân lực VNCH cũ. Trong đó, có Thống Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của QL/VNCH, người được coi là anh cả của Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Năm 1951 Nguyễn Văn Ðông được cử theo học khóa 4 trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tàu. Họ Nguyễn tốt nghiệp thủ khoa với cấp bực thiếu úy năm 1952. Tưởng cũng nên nói thêm rằng, Ðại Tướng Cao Văn Viên, người giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH sau cùng của miền Nam Việt Nam, cũng tốt nghiệp thiếu úy khóa 1 của trường này.

Năm 1953, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ðông tốt nghiệp khóa “Ðại Ðội Trưởng” tại Trường Võ Bị Ðà Lạt. Cũng năm này, ông có chân trong ban giám khảo chấm thi Khóa Võ Bị Ðà Lạt 1953 do Quốc Trưởng Bảo Ðại chủ tọa lễ bế giảng khóa.

Năm 1954, họ Nguyễn lại được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu Ðoàn Trưởng” tại Trường Chiến Thuật Hà Nội. Ra trường, ông được chỉ định vào chức vụ tiểu đoàn trưởng Trọng Pháo 553. Ðó là năm 1955, khi họ Nguyễn mới 24 tuổi, một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của quân đội.
Trải qua nhiều chức vụ, nhiều đơn vị và đồn trú ở nhiều nơi chốn khác nhau, trước khi được đưa về Saigon, giữ những chức vụ tương đối quan trọng; cấp bực sau cùng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông là đại tá, Trưởng khối lãnh thổ Bộ Tổng Tham Mưu. Ông cũng từng được trao tặng huân chương cao quý nhất; đó là Bảo Quốc Huân Chương.

Khi biến cố Tháng Tư, 1975 xảy ra, như tất cả những sĩ quan QLVNCH khác, Nguyễn Văn Ðông bị tù cải tạo. Sau 9 năm 6 tháng, ông được trả về ngày 01 Tháng Giêng, 1985 với lý do:
“Ðương sự bị bệnh sắp chết, nên cho phép gia đình đem về nhà chôn cất!”

Tuy thuộc diện HO, đủ điều kiện để xin định cư tại Hoa kỳ, nhưng gia đình thấy họ Nguyễn đau bệnh quá nặng, không biết chết lúc nào, nên đã giữ ông ở lại, thể theo ước nguyện của ông là, khi chết xin được chôn tại quê nhà.

Về sự kiện này, tác giả “Về Mái Nhà Xưa” cho biết, ông cũng không hiểu do đâu, mà Trời Phật đã nhìn lại ông và, cho ông sống, dù là một đời sống “rất lê lết” (chữ của ông), cho đến ngày hôm nay.

Về cái mà tôi muốn gọi là “nhạc nghiệp” của nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Ðông, theo một số tài liệu đã được phổ biến ở hải ngoại cũng như tại Việt Nam thì: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông chính thức tham dự vào sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam Việt Nam vào khoảng giữa thập niên 1950. Ông nổi danh ngay với những ca khúc đầu tay như “Chiều Mưa Biên Giới,” “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Súng Ðàn”... là ba ca khúc ra đời trong năm 1956 và được phổ biến rất rộng rãi. Nhưng ca khúc “Thiếu Sinh Quân Hành Khúc” bài hát được công nhận là ca khúc chính thức của trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, Nguyễn sáng tác năm 1948, khi mới 16 tuổi, mới thực sự là sáng tác đầu tay của người nhạc sĩ đa tài này.

Ngoài bút hiệu và cũng là tên thật, Nguyễn Văn Ðông, họ Nguyễn còn dùng nhiều bút hiệu khác như Phượng Linh, Phương Hà, Ðông Phương Tử, Vì Dân, Hoàng Long Nguyên.
Cũng ngay từ giữa thập niên 1950, trong vai trò trưởng đoàn văn nghệ Vì Dân ở Saigon, Nguyễn Văn Ðông đã nhận được sự hợp tác của rất nhiều ca, nhạc sĩ tên tuổi thời đó, như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Ðàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ thuộc lãnh vực kịch nghệ, điện ảnh, cải lương danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch... Ông cũng cho thấy tài tổ chức và điều khiển các chương trình đại nhạc hội lớn, rất thành công tại Saigon, cũng như các tỉnh.

Về sinh hoạt liên quan tới đài phát thanh thì, ngay từ năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông đã là trưởng ban nhạc “Tiếng Thời Gian” của đài Saigon. Ban nhạc của ông quy tụ những tên tuổi như Lệ Thanh, Anh Ngọc, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Ðàm...

Ở cấp độ quốc gia thì, năm 1959, họ Nguyễn được chọn làm trưởng ban tổ chức “Ðại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc,” tập hợp hơn 40 đoàn văn nghệ, đại diện cho toàn miền Nam; tranh giải liên tiếp 15 ngày đêm tại Saigon. Với tất cả những thành tích kể trên, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông đã được trao tặng “Giải Âm Nhạc Quốc Gia.” Bà cố vấn Ngô Ðình Nhu là người trao tặng giải thưởng này cho họ Nguyễn.

Nói tới nhạc nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông mà, không nói tới thời gian họ Nguyễn làm giám đốc hãng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, nổi tiếng một thời ở miền Nam, tôi cho là một thiếu sót quan trọng.

Ở vai trò này, với sự hợp tác tích cực của những nhạc sĩ như Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Y Vân, Lê Văn Thiện... Hai hãng đĩa của ông đã đem sự giầu có, phong phú cho sinh hoạt tân nhạc cũng như cổ nhạc miền Nam, 20 năm; với những album riêng cho từng ca sĩ.

Quay lui lại thời điểm đầu thập niên 1960, sự kiện trung tâm băng nhạc Sơn Ca cho ra đời những băng nhạc chỉ với một tiếng hát như Sơn Ca 6, tiếng hát Giao Linh; Sơn Ca 7, tiếng hát Khánh Ly; Sơn Ca 8, tiếng hát Lệ Thu; Sơn Ca 9, tiếng hát Phương Dung; Sơn Ca 10, tiếng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long... cùng một số băng nhạc riêng, dành cho nhạc Trịnh Công Sơn, là một sáng kiến cực kỳ mới lạ. Nó mở đầu cho những album sau này, với một tiếng hát, của nhiều trung tâm băng nhạc khác.

Lại nữa, tôi cho rằng chúng ta cũng sẽ không phải với nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, một người, không chỉ tận tụy cống hiến trọn cuộc đời mình cho nền tân nhạc miền Nam, 20 năm; mà ông còn là người có công đầu trong nỗ lực khai sinh, hình thành rồi phát triển một hình thái nghệ thuật mà, sau này chúng ta quen gọi là hình thái âm nhạc “Tân Cổ Giao Duyên.”

Trước khi đi sâu vào lịch sử hình thành của hình thái nghệ thuật từng được chào đón tại miền Nam Việt Nam, tính đến Tháng Tư, năm 1975, chúng tôi muốn nhắc tới bài “Tân cổ giao duyên” đầu tiên của hình thái phối hợp nghệ thuật đặc biệt này. Ðó là bài “Khi Ðã Yêu” sáng tác của Phượng Linh và soạn giả Ðông Phương Tử. Do 2 nghệ sĩ nổi tiếng của sân khấu cải lương là Thanh Nga, Minh Phụng thu âm lần đầu, năm 1963, tại Saigòn. Bài “Tân cổ giao duyên” này, sau đó, đã được nhà xuất bản Hồng Hoa ấn hành thành nhạc bản.

Tuy là hai bút hiệu khác nhau, nhưng sự thực, chỉ là một.

Những người yêu nhạc Nguyễn Văn Ðông hẳn không quên, với bút hiệu Phượng Liên, ông là tác giả của những ca khúc nổi tiếng như “Bóng Nhỏ Giáo Ðường,” “Niềm Ðau Dĩ Vãng,” “Ðom Ðóm,” “Khi Ðã Yêu,” “Thương Muộn,” “Lời Giã Biệt” v.v... Và, bút hiệu Ðông Phương Tử họ Nguyễn dùng cho tất cả những sáng tác liên quan đến phần cổ nhạc.

Nhưng phải đợi tới sáng tác “Tân cổ giao duyên” thứ hai, cũng của Nguyễn Văn Ðông, đó là bài “Mùa Sao Sáng,” do Mộng Tuyền trình bày, thì phong trào “Tân cổ giao duyên” mới thực sự rộ lên, không chỉ tại Saigon mà, khắp mọi miền đất nước.

Vì ca khúc “Mùa Sao Sáng” ký tên Nguyễn Văn Ðông, nên bài Tân cổ giao duyên “Mùa Sao Sáng” được phổ biến với hai tên: Nhạc Nguyễn Văn Ðông, Soạn giả Ðông Phương Tử. Bài tân cổ giao duyên này, theo thiển ý của chúng tôi, rất thích hợp cho những mùa Lễ Giáng Sinh của người Việt Nam, nơi quê người.

Du Tử Lê
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 6:43 am

Hình ảnh
Nguyễn Văn Đông, Trần Văn Trạch, Lê Thương
(Ảnh: Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 05633&z=16

Nguồn gốc “Tân Cổ Giao Duyên” và nguyên nhân “lấn sân” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông (tiếp theo) (Du Tử Lê)

Sau khi in lại phóng ảnh bìa của hai bài “Tân cổ giao duyên” nhan đề “Khi Ðã Yêu” và “Mùa Sao Sáng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, do nhà xuất bản Hồng Hoa ấn hành (3); chúng tôi nhận được một phóng ảnh bản tin “Cổ Nhạc Việt Nam số 3,” của nhà Ðồng Nai xuất bản (in kèm bài này), do một thân hữu gửi tặng. Nguyên văn trang nhất của bản tin đó như sau:

“Ðôi lời giao cảm,

“Những năm gần đây, phong trào nghe nhạc ‘Tân-Cổ Giao-Duyên’ rất thịnh hành, lan rộng từ thành thị đến thôn quê. Ðồng bào các giới nhiệt liệt tán thưởng, ưa thích. Môn ‘Nghệ Thuật Mới’ đến với chúng ta như một cơn bão, thách thức với thời gian và nhân-sinh quan nghệ-thuật.

“Tân-Cổ Giao-Duyên là gì?

“Là bài ca 6 câu vọng cổ được cắt bớt đi 2 hoặc 3 câu để xen vào đó một đoạn “Tân nhạc mà chúng ta gọi nôm na là nhạc mới.

“Sự kết hợp giữa Tân và Cổ nhạc thật là kỳ thú, đem lại cho người nghe những âm hưởng luôn luôn biến thoát, làm tăng thêm sự cảm khoái của người thưởng thức và cả người nghệ sĩ diễn tả.

“Trước hướng đi lên của nền nghệ thuật mới, Nhà xuất bản ‘Ðồng Nai’ chúng tôi tiền phong cho ấn hành một loạt bài ca ‘Tân Cổ Giao Duyên’ để giúp cho các bạn mộ điệu có thể tự học lấy dễ dàng.

“Nhờ sự hợp tác của một số nhạc sĩ hữu danh Tân-Cổ, các bản nhạc này được trình bày bằng các phương pháp ký âm rất giản dị. Nhà xuất bản chúng tôi cũng đặc biệt nhờ nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông nghiên cứu ghi ký âm pháp sự hòa hợp giữa Tân và Cổ nhạc bằng các phương pháp dễ hiểu, hợp mọi trình độ nhạc lý.

“Mục đích nhằm vào:

“1- Giúp ca sĩ cổ nhạc và các Ban Tân và Cổ nhạc có thể nhìn vào bản này, hòa tấu ăn khớp ngay như bên giới Tân nhạc.

“2- Người ca sĩ cổ nhạc có dịp làm quen với các ký âm pháp, và trong thời gian ngắn sẽ ca hát rành rẽ các bài bản Tân nhạc như các ca sĩ Tân nhạc.

“3- Với lối trình bày tân-tiến hình thức của bản nhạc, người ca sĩ cổ nhạc khi cầm bản nhạc này trình bày trước nhạc hội, quan khách, sẽ làm tăng thêm vẻ duyên dáng lịch sự, trí thức như các ca sĩ tân nhạc mà ta vẫn thường thấy trên các sân khấu Ðại Nhạc Hội và Ðài Phát Thanh.

“Ngay bây giờ, các bạn mộ điệu muốn học hỏi, trau dồi nghề nghiệp, hãy sưu tầm ngay cho đủ bộ các ấn phẩm của chúng tôi được đánh dấu từ số 1.

“Nhà xuất bản ‘Ðồng Nai’.”

Với tài liệu vừa trình bày, chúng ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông không chỉ là một trong những người có công đầu về sự hình thành và, phát triển phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là người nghiên cứu và phổ biến nhu cầu ký âm để các bản nhạc “tân cổ giao duyên” có thể in ra cho các nghệ sĩ cổ nhạc cầm lên sân khấu hát một cách dễ dàng như một bản tân nhạc vậy.

Ðề cập tới nguyên nhân sâu xa đưa đến sự hình thành hình thái nghệ thuật “Tân cổ giao duyên,” một số nhân vật tham gia từ đầu cho biết: Vào năm 1962, các hãng băng đĩa nhạc Saigon chuyên sản xuất các chương trình ca cổ nhạc thuần túy, bị thất thu nặng nề, vì số người mua đĩa sút giảm hẳn. Trước tình hình thương vụ bị suy giảm một cách đáng ngại, các hãng băng đĩa cổ nhạc bàn nhau, tìm một hướng đi mới, hầu cứu vãn tình thế. Thời gian đó, trong số các hãng chuyên sản xuất chương trình cổ nhạc có Kỹ Sư Ngô văn Ðức; du học ở Pháp về. Kỹ Sư Ðức nối nghiệp cha là ông Năm Mạnh, làm chủ hãng đĩa Asia. Hãng này chuyên in, sản xuất đĩa 33 và 45 tours, cung cấp cho các Trung tâm băng đĩa như Hồng Hoa, Sóng nhạc... Ông Ðức là người có công đứng ra mời gọi các soạn giả và, các chuyên gia âm nhạc hiến kế cải cách cấu trúc 6 câu của cổ nhạc. Và, Kỹ Sư Ngô văn Ðức đã nhờ nhạc sĩ Nguyễn văn Ðông nghiên cứu lắp ráp phần tân nhạc, còn soạn giả Viễn Châu, tức Bảy Bá (nổi tiếng với bài ca cổ nhạc “Tình Anh Bán Chiếu” do Út Trà Ôn ca,) nhận lãnh nghiên cứu sắp xếp phần cổ nhạc, sao cho ăn khớp với phần tân nhạc... Kết quả nhạc sĩ Nguyễn văn Ðông đã cho xuất bản bài ca “tân cổ” mẫu; tựa đề “Hướng dẫn ca và kỹ thuật sáng tác bài tân cổ giao duyên.” (Sự kiện này,được nhà xuất bản Ðồng Nai ghi công, như chúng tôi đã sao lục ở trên).

Tóm lại, sự khai sinh của hình thái nghệ thuật “Tân Cổ Giao Duyên” là một công trình tập thể, với sự đóng góp tài năng, trí tuệ của nhiều người. Trong số đó, công lao của Kỹ Sư Ngô văn Ðức không nhỏ. Dù cho ông không phải là nhạc sĩ hay, nhà chuyên môn nghiên cứu âm nhạc. Tuy nhiên, một thân hữu khác của chúng tôi lại cho hay, vấn đề khởi nguồn “tân cổ giao duyên,” tới nay vẫn bị/được một số người trong nghề, cho rằng họ mới là những người có công...

“Nhưng tiếc thay, cho đến nay, chưa một ai, trong số những người đó, trưng dẫn được một bằng cớ cụ thể về ‘thành tích’ của họ!” Nhân vật này nói.

Trở lại với nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, trong phần tiểu sử do một số trang mạng phổ biến thì, họ Nguyễn không chỉ có những đóng góp đáng kể cho phong trào “Tân cổ giao duyên” mà, ông còn là đạo diễn, viết nhạc nền, sáng tác ca khúc lồng trong trên dưới 50 vở tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Nam. Ðiển hình như các vở tuồng “Nửa Ðời Hương Phấn” của soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng; “Sân Khấu Về Khuya” của soạn giả Năm Châu; “Mắt Em Là Bể Oan Cừu” của soạn giả Vân An v.v...

Giải thích cho sự “lấn sân” từ “tân’ qua “cổ” nhạc một cách “ngọt ngào” của mình, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cho biết, miền Nam Việt Nam, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, đa số người dân thích ca cổ nhạc hơn tân nhạc. Thị phần tiêu thụ băng đĩa cổ nhạc và tuồng cải lương chung cả nước, cũng lấn lướt bên tân nhạc. Ông nói:

“Thí dụ một chương trình tân nhạc phát hành lần đầu tiên tiêu thụ được 10 ngàn đĩa, thì chương trình cổ nhạc tiêu thụ được 3 lần nhiều hơn. Mặc dù chi phí đầu tư có nhỉnh hơn đôi chút. Nhưng nhà đầu tư rất an tâm vì không sợ bị lỗ vốn...”

Theo một tài liệu chúng tôi hiện có thì, vào năm 1960, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cùng một người bạn vong niên là nhà doanh nghiệp Huỳnh Văn Tứ, đồng sáng lập hãng băng đĩa Continental. Ông Huỳnh văn Tứ đảm trách vai trò Giám đốc sản xuất. Họ Nguyễn đảm nhận trách nhiệm Giám đốc nghệ thuật. Hãng đĩa Continental có 36 chi nhánh, phát hành toàn miền Nam - Chủ trương phát triển cùng lúc 2 bộ môn tân và cổ nhạc. Khi đó, tác giả “Phiên Gác Ðêm Xuân” được rất nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng cộng tác. Nhưng các soạn giả này lại không rành lắm về tân nhạc. Do đó, việc dàn dựng kịch bản thường không ăn khớp với tân nhạc. Ðể bổ khuyết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông phải “lăn lưng” vào cuộc. Ông dành thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi... sau một thời gian ông đâm ra yêu thích bộ môn nghệ thuật ấy.

Ông kể: “Tôi rất nhớ ơn cố soạn giả Hoàng Khâm và các tay danh cầm bên cổ nhạc như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm... Họ đã chỉ vẽ cho tôi một cách tận tình, không giấu nghề. Vì thế mà chỉ một năm sau, tôi đã có thể tự tin đủ sức bước sâu vào lãnh vực mới mẻ này; cũng với tất cả đam mê, như khi tôi ‘khám phá’ thế giới tân nhạc, trước đó vậy.”
Du Tử Lê.

(Mời đọc Thứ Năm, 24 Tháng Mười Hai, kỳ chót: “Ám ảnh mùa Xuân và, những tiếng hát liên hệ đặc biệt với đời - nhạc Nguyễn Văn Ðông.”)

Chú thích:

(3) Nữ nghệ sĩ cổ nhạc Phượng Liên, nổi tiếng trước Tháng Tư, 1975 ở quê nhà, sau khi đọc bài “Binh Nghiệp và Nhạc nghiệp Nguyễn Văn Ðông,” đăng tải trên NB Người Việt, số Thứ Năm, đề ngày 9 Tháng Mười Hai, 2009, đã điện thoại cho chúng tôi, cho biết, theo chị thì bài tân-cổ “Khi Ðã Yêu,” với hai giọng ca Minh Phụng và Thanh Nga, không thể ra đời năm 1963. “Có thể nó ra đời vào năm 1973.”

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 05944&z=16

Ám ảnh mùa Xuân và, những tiếng hát liên hệ đặc biệt với đời-nhạc Nguyễn Văn Ðông

Du Tử Lê
(Tiếp theo và hết.)

Một trong những nét đặc thù của cõi nhạc Nguyễn Văn Ðông là hình ảnh cùng những cảm nhận của ông về mùa Xuân. Ca khúc của họ Nguyễn viết về mùa Xuân chiếm một một con số không nhỏ, trong sự nghiệp âm nhạc của ông. Ngoài những ca khúc mùa Xuân xuất hiện ngay tự nhan đề của ca khúc như “Phiên Gác Ðêm Xuân,” “Nhớ Một Chiều Xuân,” “Dáng Xuân Xưa”... người nghe còn gặp thêm nhiều hình ảnh mùa Xuân trong nhiều ca khúc khác nữa, của ông.

Nhưng, nếu mùa Xuân lấp lánh, lảnh lót những hồi chuông hy vọng, phản ảnh niềm vui tái sinh của vạn vật sau một mùa đông dài; như mùa Xuân căng nhựa sống trong “Xuân Ca” của Phạm Duy: “Xuân tôi ra góp chung câu gào thiết tha - Là xinh, là tươi có Xuân thuở xưa ước mơ hiền hòa - Xuân xanh lơ, hắt hiu trong trời nắng mưa - Vườn Xuân là Xuân có hoa ngày mai hát Xuân thật dài (...)Xuân yêu đương muốn căng lên nhựa sống ngon - Tìm em gặp em đón Xuân nghìn năm bão Xuân ngập lòng...”

Hay lộc non và sữa ngọt trong ca khúc “Anh Cho Em Mùa Xuân” của Nguyễn Hiền (thơ Kim Tuấn): “Anh cho em mùa Xuân - mùa Xuân này tất cả - lộc non vừa trẩy lá (...)Anh cho em mùa Xuân - trẻ nô đùa khắp trời - niềm yêu đời phơi phới - Bàn tay thơm sữa ngọt - dải đất hiền chim hót - mái nhà xinh kề nhau...”

Hoặc tiếng chim, tiếng cười trong “Ðón Xuân” của Phạm Ðình Chương: “Xuân đã đến rồi, gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời - Vui trong bình minh, muôn loài chim hát vang mọi nơi - đem trong tiếng cười, cho kiếp người tình thương đắm đuối - ánh Xuân đem vui với đời...”
Thì, mùa Xuân trong ca khúc của Nguyễn Văn Ðông, chẳng những không tiếng cười mà, ngược lại, đầy bóng đêm, chia ly và, tang tóc: “Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu - vì mơ ước trắng như mây chiều - tủi duyên người năm năm tháng tháng - mong chờ ánh Xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi - Chốn biên thùy này Xuân tới chi? Tình lính chiến khác chi bao người - Nếu Xuân về tang thương khắp lối - thương này khó cho vơi, thì đừng đến Xuân ơi!...” (Trích “Phiên Gác Ðêm Xuân”

Hoặc: “Chiều Xuân có một người ngơ ngác đi tìm - một tình thương nơi phương trời cũ - chiều nay hoa Xuân bay nhiều quá - chiều tàn dần phai trên ngàn lá - Tìm đâu bóng hình ai? - Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời - đợi mùa Xuân sang tô mầu nhớ - Dừng chân trông hoa Xuân hồng thắm - buồn tìm về tình ai đằm thắm - giờ vun vút trời mây...” (Trích “Nhớ Một Chiều Xuân”)

Giải thích về sự “bất thường” trong những ca khúc mùa Xuân của mình, Nguyễn Văn Ðông cho biết: Ông có những mùa Xuân buồn trong quãng đời thơ ấu, nhiều bất hạnh! Như gia đình lâm cảnh tang thương. Người thân yêu ly tán trong chiến tranh, ông mất mùa Xuân tuổi thơ khi cha mẹ bị tù đày. Lớn lên đi lính, ông lại thường bị ứng trực vào mùa Xuân ở các đơn vị hẻo lánh...

Nói về cõi nhạc của Nguyễn Văn Ðông với một chiều dài rực rỡ gần như phủ kín hành trình 20 năm âm nhạc miền Nam Việt Nam mà, khá nhiều ca sĩ, từng bước vào, ở lại, đập cùng một nhịp đập với trái tim ca khúc của ông. Trong số này, có hai nữ ca sĩ nổi tiếng, đến với đời nhạc họ Nguyễn rất sớm và, cũng rất sớm, dấy lên nhiều dư luận, đồn đãi... Ðó là ca sĩ Hà Thanh và Thanh Tuyền.

Về trường hợp nữ ca sĩ Hà Thanh, họ Nguyễn xác nhận: Hà Thanh hát nhiều nhất ca khúc của Nguyễn Văn Ðông. Hà Thanh từng phát biểu với báo chí thuở đó rằng, cái “air” trong nhạc Nguyễn Văn Ðông rất hợp với chất giọng Hà Thanh. Nên Hà Thanh đã rất hân hoan, mỗi lần cô được họ Nguyễn mời hát.

Nhưng duyên cớ nào đã đưa Hà Thanh, đứa con cưng của một Huế trùng điệp thành quách khép kín, dời cư vào Saigòn, để từ đó, trở thành một trong vài “phát ngôn nhân” tiêu biểu nhất, cho đời nhạc Nguyễn Văn Ðông thì, sự việc đó, có thể tóm tắt như sau:

Tác giả “Chiều Mưa Biên Giới” kể, ông gặp Hà Thanh lần đầu tiên vào năm 1963 tại Sàigòn. Khi ấy, họ Nguyễn là trưởng ban “Tiếng Thời Gian” của Ðài phát thanh Saigon, quy tụ nhiều tiếng hát nổi tiếng thời đó. Người đưa Hà Thanh tới gặp Nguyễn Văn Ðông cùng Ban “Tiếng Thời Gian” ở Ðài Saigon chính là nhạc sĩ Mạnh Phát. Lần đó Hà Thanh từ Huế vào thăm gia đình người chị cả ở Sàigòn, họ Nguyễn mời Hà Thanh hát một bài, lưu kỷ niệm cho ban “Tiếng Thời Gian.”

Sau khi nghe trực tiếp, họ Nguyễn cho rằng đấy là giọng ca thiên phú, hiếm hoi, khả năng chuyển tải hồn tính ca khúc vượt trội, cộng thêm căn bản nhạc lý vững... Từ nhận định này, hôm sau, Nguyễn Văn Ðông đã mời Hà Thanh thâu thanh bài “Về Mái Nhà Xưa” cho Hãng băng đĩa nhạc Continental. Buổi thâu được Ban Giám Ðốc Hãng và toàn thể Ban nhạc ưng ý và không tiếc lời khen ngợi... Rồi Hà Thanh trở về Huế. Vì tinh thần liên tài, họ Nguyễn đề nghị, được Ban Giám Ðốc Hãng Continental đồng ý: Mời Hà Thanh về Sàigòn cộng tác. Ông là người viết thư mời, phân tích, thuyết phục Hà Thanh... Và, Hà Thanh đồng ý.

Ngay tự bước chân thứ nhất ở Saigòn, Hà Thanh đã được các đài phát thanh và, hầu hết các hãng đĩa, các trung tâm băng nhạc ở Sàigòn luân phiên mời thâu thanh... Từ đó, song hành với những ca khúc bất hủ của Nguyễn Văn Ðông là, những nụ cười mà định mệnh đã gửi theo từng bước đi của Hà Thanh. Cho tới ngày cô lập gia đình. Ngưng bặt tiếng hát.

Về trường hợp nữ ca sĩ Thanh Tuyền (hiện định cư tại Hoa Kỳ) thì, người đầu tiên phát hiện tiếng hát Thanh Tuyền cũng là tác giả “Thương ca hải ngoại.”

Trong quá khứ, hơn một lần nữ ca sĩ Thanh Tuyền đã trả lời báo giới Saigon rằng: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông mà Thanh Tuyền quen gọi là “Thầy Ðông” chính là người đã đặt tên và tạo cho Thanh Tuyền có được sự nghiệp ngày nay...

“Ông giống như một dưỡng phụ của Thanh Tuyền vậy,” Thanh Tuyền nói.

Quay lại những thước phim cách đây gần nửa thế kỷ, người ta được biết: Năm 1964, khi tác giả “Mấy Dặm Sơn Khê” được đi nghỉ dưỡng sức ở Ðalat, các bạn ông làm việc ở Ðài phát thanh Ðalat kể với ông về một nữ sinh Trường Bùi thị Xuân, tên Như Mai (hằng tuần vẫn hát cho đài,) theo họ, là một tiếng hát đầy triển vọng, nếu được hướng dẫn đúng mức. Tin tưởng lời giới thiệu, họ Nguyễn đi gặp song thân của nữ sinh Như Mai. Gia đình chấp thuận cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông đưa Như Mai về Saigòn, để đào tạo thành ca sĩ chuyên nghiệp.

Họ Nguyễn nhớ lại, khi ấy ông còn độc thân, ngày ăn cơm chợ, tối ngủ ở đơn vị, không thích hợp với việc chăm lo chuyện ăn ở, đi lại cho một thiếu nữ nhỏ tuổi, xa nhà như thế. Ông nhờ nhạc sĩ Mạnh Phát, một nhân viên dưới quyền ông, ở hãng băng đĩa nhạc Continental, tiếp tay. Mạnh Phát - Minh Diệu nhận lời. Hãng đĩa Continental lo mọi phí tổn ăn ở cho Như Mai. Nguyễn Văn Ðông đặt tên mới cho Như Mai là Thanh Tuyền: Dòng suối xanh của cao nguyên Ðalat...

Là một cô bé thông minh, dường như được sinh ra, để ca hát, nên chỉ trong vòng 8 tháng, tiếng hát Thanh Tuyền đã được thu băng, rồi được ra mắt công chúng. Khi ấy, mới vừa đúng 17 tuổi, Thanh Tuyền đã được mời hát, thu đĩa, thu băng, như một ca sĩ chuyên nghiệp, tên tuổi.

Cho tới ngày hôm nay, sau mấy chục năm, Thanh Tuyền vẫn không hề phụ lòng tin tưởng của “Thầy Ðông,” khi cô vẫn còn là tiếng hát đầu của nhiều chương trình cũng như băng video ca nhạc ở hải ngoại.

Trước khi chấm dứt bài viết về con “Thiên lý mã” của dòng âm nhạc miền Nam, 20 năm, chúng tôi muốn ghi lại ở đây, mối tình của họ Nguyễn với một người con gái, nơi quê hương của ông. Ðó là người được xác nhận là linh hồn của ca khúc “Về Mái Nhà Xưa,” một trong những ca khúc “tìm về” mà, tôi cho là hay nhất và, cũng cảm động nhất của nền tân nhạc miền Nam 20 năm.

Quý độc giả theo dõi bài viết này hẳn còn nhớ, Tây Ninh là nguyên quán của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông. Gia đình ông nguyên là điền chủ ở Huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Mỗi năm, vào những dịp giỗ chạp lớn, ông được cha mẹ cho về nguyên quán. Gần bên ngôi từ đường của dòng họ Nguyễn, là nhà ông Hương Cả, một chức sắc lớn nhất làng. Ông Hương Cả có một cô con gái xinh đẹp. Hai bên gia đình cùng giao ước kết thông gia khi hai trẻ lớn lên. Khi ấy tác giả “Về Mái Nhà Xưa” và cô bé kia, mới trên dưới 10 tuổi. Ở tuổi niên thiếu này, cả hai chỉ biết hẹn hò trèo cây, hái trái, hay chơi trò trốn bắt... (Những kỷ niệm ấy là tố chất cho họ Nguyễn sau này, viết được ca khúc nhan đề “Ðom Ðóm”). Tuy thơ dại nhưng tình bạn thắm thiết cũng đã đủ gây thành men nhớ nhung và, đôi khi nước mắt, cho mỗi lần đôi trẻ phải chia tay.

Họ Nguyễn kể, khi cách mạng mùa Thu 1945 bùng nổ, ông Hương Cả bị đưa ra trước tòa án nhân dân; lãnh bản án “cường hào ác bá.” Ông bị xử bắn. Xác ông bị thả trôi sông. Riêng cha mẹ nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông từ Saigon tản cư về, thì bị liệt vào hàng “địa chủ ác ôn.” Ông bà bị bắt làm tù lao công khổ sai. Tịch biên tài sản; sung vào quỹ kháng chiến. Gia đình ly tán. Cửa nhà tan nát. Dôi trẻ trôi giạt, mỗi người một phương. Họ bặt tin nhau!

Cuối thập niên 50, nhớ thương bạn, họ Nguyễn cải trang tìm về chốn cũ... Tận mắt nhìn thấy cảnh xưa điêu tàn và, những người làng còn lại, không một ai cho ông chút tin tức nào về người con gái của ông Hương Cả! Về lại Saigòn, họ Nguyễn viết: “Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn - Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn - Tôi lắng nghe tâm tình nhân thế - qua đáy tim chưa đục sông mê (4) - qua ước mơ duyên tình đơn sơ - Về đây đâu phút xưa vui sum vầy - thềm hoang thêu nắng, phượng thắm rơi đầy - anh có nghe trong lòng thu chết - bao lá khô phai nhạt hương đêm - tan tác bay phiêu bạt giữa trời quê - Nơi xưa quê nghèo, nhà tranh nát tiêu điều - tình xưa khôn hàn gắn - người đã đi rồi - người về đâu có hay - đâu vòng tay đắm say?...” (Trích “Về Mái Nhà Xưa.”)

Tôi vẫn nghĩ, những người sinh trong hai thập niên 1930 và, 1940 ít, nhiều đều là nạn nhân của cuộc chiến miền nam 20 năm. Ðổ vỡ, chia ly, tuyệt vọng... là thuộc tính của hoàn cảnh loạn ly này. Nên, tôi mong, người phụ nữ, linh hồn của ca khúc vừa kể, nếu còn đâu đó, tình cờ đọc được những hàng chữ này, xin hiểu rằng, cách gì, sự lỡ làng một đời của bà, chí ít cũng được ghi dấu trong sự nghiệp âm nhạc phong phú, bất tử của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông... Trong khi hàng ngàn, hàng triệu những cuộc tình ly tan, oan khốc khác, cũng chìm vào quên lãng. Dù những cây phượng vĩ, mỗi năm vẫn cho chúng ta những cánh hoa rực rỡ, và, những chiếc lá khô vẫn tiếp tục “phai nhạt theo hương đêm” vậy.

Du Tử Lê

(22 Tháng Mười Hai, 2009)

Chú thích:

(4) Câu hát “qua đáy tim chưa đục sông mê,” có bản chép là “qua trái tim chưa đọng song mê,” theo tác giả là sai và, vô nghĩa. Giải thích về hai chữ “song mê,’ họ Nguyễn kể, Tây Ninh, nguyên quán của tác giả, có Thánh Thất Cao Ðài, rất nổi tiếng. Theo các vị trưởng lão, tín đồ Cao Ðài thì chuyện luân hồi, hóa kiếp theo truyền thuyết của đạo Cao Ðài, có thể tóm tắt như sau:

Con người khi chết, ai cũng bị quỷ sứ dắt hồn xuống âm phủ, để Diêm Vương xét công, luận tội. Kẻ ác bị đưa vào địa ngục thọ hình. Người tốt được trở lại trần thế, làm người. Trên đường đi hóa kiếp, quỷ A tu la dẫn hồn đến một nơi gọi là bến Mê, rồi băng qua một chiếc cầu gọi là cầu Giải kiết. Cầu này bắc ngang qua sông Mê. Ðến giữa cầu, quỷ A tu la xô hồn xuống sông. Hồn gào thét vùng vẫy kêu cứu, làm vẩn đục cả dòng sông. Khi hồn kiệt sức, ngất đi, lúc đó, quỷ A tu la mới vớt hồn lên dẫn đi tiếp về dương gian. Từ đó, hồn không còn nhớ gì về kiếp trước của mình nữa...
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 7:13 am



phpBB [video]
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 7:16 am



phpBB [video]
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 4:12 pm



phpBB [video]
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 7:30 pm

Hanh 31 đã viết:Thành kính phân ưu nhạc sĩ Nguyễn văn Đông, một nhạc sĩ tài ba đáng kính đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam những nhạc phẩm quá hay và ý nghĩa.
Xin chia buồn cùng toàn thể tang quyến.
Thành kính nguyện cầu hương linh nhạc sĩ Nguyễn văn Đông sớm về cỏi vĩnh hằng.

Tịnh Đế Liên Hoa - Pháp quốc.
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Re: Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Bài viết chưa xemgửi bởi tancogiaoduyen » Thứ 3 Tháng 2 27, 2018 7:32 pm

R.I.P nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vừa mất lúc 19h30 ngày 26/02/2018 tại Sài Gòn.

Thần tượng âm nhạc của tôi, đại tá Nguyễn Văn Đông
Suốt năm tôi có thể ngâm nga nhạc của ông.
Nhạc xuân: bài hát mình thích nhất Phiên gác đêm xuân, Nhớ một chiều xuân.....
Nhạc lính VNCH: Chiều mưa biên giới, Sắc hoa màu nhớ....
Nhạc giáng sinh: Đêm thánh huy hoàng, Màu xanh noel, Mùa sao sáng....
Những ca khúc sáng tác sau 1975: bài hát mình thích nhất Hải ngoại thương ca, Nhớ người viễn xứ...
.....
Trong những tuyệt phẩm của ông đã có những bài bị cấm hát và bây giờ "thấy hay quá cũng thèm rồi cho hát".
Ông đã ra đi vào một ngày đầu xuân 2018, cầu nguyện linh hồn ông sớm siêu sanh về miền cực lạc

phpBB [video]

Duc Nguyen
Hình đại diện của thành viên
tancogiaoduyen
Site Admin
Site Admin
 
Bài viết: 41427
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 4 12, 2004 5:00 pm
Đến từ: U.S.A
Has thanked: 1718 times
Been thanked: 424 times

Trang kế tiếp

Quay về Một Thời Vang Bóng

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến4 khách

Google Analytic

ỦNG HỘ CÂY MÙA XUÂN NS & GIÚP ĐỠ HỘ NGHÈO TẾT KỶ HỢI 2019


Cải Lương Việt Nam Official Site
Copyright by cailuongvietnam.com © 2004 - 2020. All rights reserved.
Email: cailuongvietnam.info@gmail.com
We are not responsible for the content posted by members in the forum



cron