5
Từ
cuối
năm
1965,
Đài
Truyền
Hình
Số
9
được
mở
ra
tạo
đất
dụng
võ
cho
giới
điện
ảnh
–
kịch
nghệ.
Trong
số
những
diễn
viên
xuất
hiện
ấn
tượng
chính
là
Bà
Năm
Sa
Đéc.
Bà
đóng
rất
thực
như
là
sống
trong
vai
diễn,
không
có
vẻ
nặng
nề
như
các
diễn
viên
khác.
Bà
Năm
Sa
Đéc
tên
thật
là
Nguyễn
Kim
Chung,
con
thứ
năm
của
ông
bầu
gánh
hát
bội
Nguyễn
Duy
Tam,
thập
niên
20
lúc
ấy
phong
trào
hát
bội
còn
tương
đối
thịnh
hành,
dù
chỉ
ở
các
rạp
nhỏ
hay
hát
cúng
kỳ
yên
ở
các
đình
làng.
Lúc
7,
8
tuổi,
bà
đã
theo
gánh
hát
bội
của
thân
phụ
diễn
khắp
các
vùng
quê
nghèo
ở
miền
Nam.
Bà
đã
chứng
kiến
những
buổi
tập
tuồng
nghiêm
khắc
của
thân
phụ
bà,
vì
ông
bầu
vừa
là
thầy
tuồng,
vừa
là
đạo
diễn
mà
phong
cách
diễn
xuất,
xướng
âm
của
hát
bội
Tân
Đông
Ban
của
thân
phụ
bà
trình
diễn
bất
cứ
nơi
nào
cũng
được
ban
hội
tề
làng
và
khán
giả
địa
phương
khen
ngợi.
Bà
Năm
Sa
Đéc
đã
mang
dòng
máu
nghệ
sĩ
của
người
cha,
lại
nhiễm
phong
cách
hát
xướng
của
các
nghệ
sĩ
từ
lúc
nhỏ
cho
nên
khi
trưởng
thành,
bà
nghiễm
nhiên
trở
thành
một
diễn
viên
thanh
sắc
lưỡng
toàn
của
sân
khấu
hát
bội
lúc
bấy
giờ.
Gánh
hát
bội
Tân
Đông
Ban
từ
lúc
có
nữ
diễn
viên
Năm
Sa
Đéc
hát
chính,
bỗng
tiếng
tăm
vang
dội
khắp
vùng,
nơi
nào
cũng
muốn
mời
cho
được
gánh
hát
Tân
Đông
Ban
về
trình
diễn.
Từ
nhan
sắc
đến
bộ
diễn
của
nữ
nghệ
sĩ
hát
bội
Năm
Sa
Đéc
đã
chinh
phục
lòng
khán
giả
từ
miền
quê
ra
tới
tỉnh
thành.

Đến
khi
ông
bầu
Nguyễn
Duy
Tam
qua
đời
thì
gánh
Tân
Đông
Ban
cũng
rã
theo,
sau
khi
thọ
tang
cha
xong,
nữ
nghệ
sĩ
Năm
Sa
Đéc
gia
nhập
gánh
hát
bội
Phước
Thắng
của
bà
bầu
Ba
Ngoạn.
Phước
Thắng
là
một
gánh
hát
bội
lớn
nhất
vùng
Chợ
Lớn,
trình
diễn
thường
trực
tại
rạp
Palikao
với
những
vở
tuồng
trích
từ
truyện
Tàu
như
: Triệu
Tử
đoạt
ấu
chúa,
Huê
Dung
đạo,
Tam
chiến
Lữ
Bố,
Hoàng
Phi
Hổ
Quy
Châu,
Phàn
Lê
Huê
phá
Hồng
Thủy
Trận,
Tổng
Tửu
Đơn
Hùng
Tín,
Lưu
Kim
Đính
hạ
sang
… và
nữ
diễn
viên
Năm
Sa
Đéc
đã
làm
say
mê
khách
mộ
điệu
khắp
vùng
Chợ
Lớn,
Sài
Gòn
và
cả
những
miền
phụ
cận.
Khoảng
đầu
thập
niên
30,
một
loạt
các
đoàn
cải
lương
lần
lượt
ra
đời,
với
tầm
mức
quy
mô
và
phong
cách
trình
diễn
hoàn
toàn
mới
lạ,
thu
hút
khán
giả
thật
đông
đảo,
đẩy
các
gánh
hát
bội
về
các
vùng
quê
hẻo
lánh,
hoặc
tan
rã
dần
dần.
Các
đoàn
cải
lương
ra
đời
lúc
bấy
giờ
như
:
Đồng
Bào
Nam,
Huỳnh
Kỳ,
Bầu
Bòn,
Song
Phụng,
Trần
Đắc,
Tân
Hí
Ban,
Tái
Đồng
Ban,
Kỳ
Lân
Bang,
Tân
Phước
Ban
v.v…
và
những
soạn
giả
đầu
tiên
viết
tuồng
cho
các
sân
khấu
ấy
gồm
có:
Trương
Duy
Toản,
Đào
Châu,
Mộc
Quán,
Nguyễn
Trọng
Quyền,
Trần
Phong
Sắc,
Ngô
Vĩnh
Khang,
Mộng
Vân
…
Đồng
thời
một
loạt
nghệ
sĩ
cải
lương
xuất
hiện,
bên
nữ
có:
Hai
Cúc,
Năm
Phỉ,
Phùng
Há,
Tư
Sạn,
Hai
Xiêm,
Ba
Hai,
Mười
Nhàn,
Bảy
Ngọc,
Hai
Phụng,
Tư
Mão
v.v…
Bên
nam
có
:
Hải
Giỏi,
Bảy
Cam,
Tám
Thông,
Năm
Châu,
Tư
Chơi,
Tám
Mẹo,
Tư
Út,
Ba
Vân,
Ba
Du,
Hai
Bông,
Năm
Long,
Tư
Thạch
…
Phong
trào
cải
lương
như
một
luồng
gió
mạnh,
tỏa
rộng
khắp
tỉnh
miền
Nam,
dần
dần
lan
rộng
ra
tới
miền
Trung,
miền
Bắc,
nơi
nào
khán
giả
cũng
yêu
thích
cải
lương.
Nữ
nghệ
sĩ
hát
bội
Năm
Sa
Đéc
đành
phải
chuyển
sang
hát
cải
lương
và
bà
đã
diễn
trên
các
sân
khấu
Trần
Đắc,
Bầu
Bòn,
Huỳnh
Kỳ,
Song
Phụng
với
các
vai
nữ
võ
tướng
rất
thành
công.
Bà
đã
theo
đuổi
nghiệp
diễn
sân
khấu
đến
những
năm
lớn
tuổi
và
là
người chuyên
thủ
diễn
vai
bà
mẹ.
Có
lẽ,
vì
vậy
bà
đã
tham
gia
đóng
nhiều
vai
bà
mẹ
trên
phim.

Khoảng
năm
1971
phim
Lệ
Đá
trình
chiếu.
Bà
Năm
Sa
Đéc
xuất
hiện
trong
phim
và
khán
giả
la
ó
lên: “Tại
sao
bà
Năm
Sa
Đéc
nói
tiếng
Bắc”? Thật
ra
người
ta
đâu
có
lạ
gì
tiếng
nói
rặt
Nam
Kỳ
của
bà
Năm.
Sở
dĩ
có
như
vậy
là
do
kỹ
thuật
chuyển
âm
thu
tiếng
Bắc
thay
thế.
Do
bởi
Thanh
Lan
nói
giọng
Bắc
thì
dĩ
nhiên
bà
mẹ
cũng
nói
tiếng
Bắc
luôn
vậy!

Sau
một
cuộc
hôn
nhân
tan
vỡ,
năm
40
tuổi,
nữ
nghệ
sĩ
Năm
Sa
Đéc
chính
thức
kết
hôn
với
nhà
khảo
cổ
Vương
Hồng
Sển,
một
học
giả
tiếng
tăm
của
miền
Nam,
quê
ở
Sóc
Trăng,
ông
viết
nhiều
sách
về
văn
học,
về
khảo
cứu
rất
có
giá
trị.
Mối
tình
già
gắn
bó
keo
sơn
hơn
40
năm
để
lại
nhiều
giai
thoại
rất
đẹp
về
cuộc
đời
tình
cảm
của
hai
người.

Bà
mất
năm
81
tuổi,
để
lại
trong
lòng
cụ
Vương
Hồng
Sển
là
một
niềm
cảm
thương
sâu
lắng.
Cụ
đã
đưa
thi
hài
của
người
vợ
thân
yêu
về
chôn
cất
nơi
quê
hương
của
bà
ở
Tân
Đông,
Sa
Đéc.
Sau
đó
cụ
Vương
Hồng
Sển
có
ghi
lại
bài
điếu
văn
của
thi
sĩ
thân
hữu
đọc
trong
lễ
an
táng
nữ
nghệ
sĩ
Năm
Sa
Đéc,
đã
đóng
góp
một
thời
gian
dài
cho
nghệ
thuật
sân
khấu,
từ
hát
bội
sang
qua
lĩnh
vực
cải
lương
và
kịch,
luôn
cả
phim
ảnh.
LQTT
(TH)
Chuyện
“Bà
Năm
Sa
Đéc”
Nghệ
sĩ
Năm
Sa
Đéc
đã
cống
hiến
trọn
cuộc
đời
mình
cho
nghệ
thuật
hát
bội,
cải
lương,
kịch
nói
và
điện
ảnh
nước
nhà.
Nhân
dịp
mừng
Xuân
Ất
Mùi
2015,
nhắc
tới
chuyện
“Bà
Năm
Sa
Đéc”
vang
bóng
một
thời
để
mọi
người
cùng
hoài
niệm,
ôn
cố
tri
tân
và
thương
tiếc
cho
một
tài
hoa
đức
hạnh
lưỡng
toàn
kỳ
mỹ…
Qua
tìm
hiểu,
bà
Năm
Sa
Đéc
sinh
năm
1907
là
con
của
ông
Hương
Cả
Nguyễn
Văn
Tam
(Cả
Tam)
và
là
cháu
nội
của
ông
Hương
Cả
Nhiều,
chính
quán
tại
làng
Tân
Đông,
tổng
An
Thạnh
Hạ,
quận
Châu
Thành,
tỉnh
Sa
Đéc
(nay
là
ấp
Đông
Quới,
xã
Tân
Khánh
Đông,
thành
phố
Sa
Đéc,
tỉnh
Đồng
Tháp).
Ông
Cả
Tam
có
tổng
cộng
5
người
con,
3
người
con
đầu
do
khó
nuôi
nên
đã
lần
lượt
qua
đời,
chỉ
còn
lại
2
người
con
là
“Bà
Năm
Sa
Đéc”
và
ông
Nguyễn
Duy
Cang
(Sáu
Biết).
Năm
1915,
ông
Nguyễn
Văn
Tam
đứng
ra
thành
lập
và
làm
“Bầu”
một
gánh
hát
bội
“Thiện
Tiền
Ban”
đầu
tiên
tại
tỉnh
Sa
Đéc.
|
Anh
Sang
(trái)
và
nhà
thơ
Trần
Minh
Tạo
bên
mộ
Bà
Năm
Sa
Đéc.
|
Do
có
tài
năng
ca
hát,
diễn
ra
bộ
nên
vào
năm
1928,
bà
Năm
Sa
Đéc
đã
gia
nhập
đoàn
gánh
hát
Phước
Tường.
Sau
đó,
Bà
Năm
Sa
Đéc
lần
lượt
cộng
sự
với
các
đoàn
Phụng
Hảo,
Vân
Hảo,
Thanh
Minh
-
Thanh
Nga…
Từ
sân
khấu
hát
bội
bước
qua
lĩnh
vực
cải
lương,
nên
nghề
nghiệp
của
Bà
rất
vững
vàng,
chỉ
cần
học
tập
thêm
chút
ca
cổ
là
tiến
bộ
rực
rỡ
trên
con
đường
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương.
Trong
thời
gian
lưu
diễn,
bà
Năm
Sa
Đéc
đã
có
rất
nhiều
khán
giả
ái
mộ
và
cũng
có
một
vài
mối
tình
đầu
đời.
Vào
khoảng
năm
1938
-
1939,
một
trong
những
mối
tình
hương
sắc
mặn
nồng
giữa
bà
Năm
và
ông
Đốc
Phủ
Sứ
Đặng
Ngọc
Chấn
(quê
tỉnh
Long
An)
đã
cho
ra
đời
một
cậu
con
trai.
Nhưng
vì
một
lý
do
thật
tế
nhị
nên
tình
duyên
của
đôi
“trai
tài-gái
sắc”
này
không
thành
vợ
chồng
và
bà
Năm
Sa
Đéc
đã
âm
thầm,
lặng
lẽ
nuôi
con
và
đặt
tên
cho
đứa
con
là
Nguyễn
Ngọc
Đặng!
Tình
yêu
tan
vỡ,
bà
Năm
dồn
hết
tâm
sức,
trí
lực
cho
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương,
kịch
nói…
Tài
năng
ca
diễn
xuất
chúng
và
danh
tiếng
của
bà
Năm
Sa
Đéc
vang
lừng
khắp
nơi,
với
nhiều
vai
diễn
ăn
sâu
vào
lòng
người
mộ
điệu
lúc
bấy
giờ.
Đến
năm
1947,
bà
Năm
Sa
Đéc
đã
phải
lòng
và
kết
nghĩa
tơ
hồng
với
học
giả,
nhà
biên
khảo
Vương
Hồng
Sển
(nguyên
là
Giám
thư
Bảo
tàng
Viện
Sài
Gòn).
Suốt
hơn
40
năm
chung
sống
với
cụ
Vương,
bà
Năm
đã
hạ
sinh
một
đứa
con
trai
là
Vương
Hồng
Bảo.
Không
chỉ
thành
công
trong
lĩnh
vực
sân
khấu
ca
kịch
cải
lương,
bà
Năm
Sa
Đéc
còn
là
một
nữ
minh
tinh
điện
ảnh
tài-sắc
vẹn
toàn
luôn
được
nhiều
người
ngưỡng
mộ,
qua
các
bộ
phim
Lệ
đá,
Con
ma
nhà
họ
Hứa
(trước
năm
1975)
và
nhiều
bộ
phim
sau
năm
1975
là
“Cho
đến
bao
giờ”,
“Mùa
nước
nổi”,
“Con
thú
tật
nguyền”,
“Nơi
bình
yên
chim
hót”…
Và
năm
1987,
bà
Năm
Sa
Đéc
thủ
diễn
vai
bà
Hai
Lành
trong
bộ
phim
Phù
Sa.
Bà
bị
bệnh
đột
ngột
và
qua
đời
vào
ngày
mồng
8
tháng
Chạp
năm
Đinh
Mão
(1988).
Thi
hài
của
nữ
nghệ
sĩ
tài
hoa
đã
được
chồng
và
con
cháu
đưa
về
an
táng
tại
nơi
mà
bà
đã
được
sinh
ra
từ
hơn
80
năm
trước.
Bà
Năm
Sa
Đéc
tên
thật
là
Nguyễn
Kim
Chung.
Theo
cháu
ruột
của
bà
là
Thái
Thanh
Sang,
vào
những
năm
cuối
thập
niên
40
của
thế
kỷ
XX,
lúc
bà
Năm
về
chung
sống
với
người
chồng
Vương
Hồng
Sển,
do
vóc
dáng
nhỏ
nhắn,
xinh
đẹp
nên
cụ
Vương
thường
gọi
vợ
là
“cô
Năm
Nhỏ”.
Lúc
bấy
giờ,
khi
cô
Năm
Nhỏ
Kim
Chung
đi
hát
diễn
cùng
trong
một
gánh
hát
nọ
lại
có
một
cô
đào
Năm
Nhỏ
khác
(quê
ở
Cần
Thơ)
và
hai
nghệ
sĩ
này
đều
nổi
tiếng
trên
lĩnh
vực
nghệ
thuật
sân
khẩu
cải
lương.
Để
phân
biệt
hai
người
với
nhau
nên
nhiều
nghệ
sĩ
trong
đoàn
hát
gọi
cô
Năm
Nhỏ
Kim
Chung
bằng
danh
xưng
cô
Năm
Sa
Đéc
hay
bà
Năm
Sa
Đéc
(nghĩa
là
cô
Năm
Nhỏ
Kim
Chung
quê
ở
Sa
Đéc).
Từ
đó,
nghệ
danh
cô
Năm
Sa
Đéc
hay
bà
Năm
Sa
Đéc
vang
danh
cho
tới
ngày
nay.
Về
cái
gọi
là
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”
từng
nổi
tiếng
trên
đất
Sài
Gòn,
theo
anh
Thái
Thanh
Sang,
cùng
lời
kể
thêm
của
nhà
thơ
Trần
Minh
Tạo
(lấy
nguồn
từ
cô
bạn
thân
lâu
năm,
vốn
là
cháu
gái
ruột
gọi
bà
Năm
Sa
Đéc
bằng
Bà
Cô,
từng
có
thời
gian
khá
lâu
gần
gũi,
chăm
sóc
bà)
thì:
bản
thân
bà
Năm
Sa
Đéc
và
các
con,
cháu
của
bà
từ
xưa
tới
nay
không
có
một
ai
từng
hành
nghề
mua
bán
hủ
tiếu
hay
sản
xuất
bánh
hủ
tiếu
ở
bất
kỳ
nơi
đâu.
Sở
dĩ
có
tên
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”
là
do,
vào
khoảng
năm
1973,
một
người
con
trai
thứ
ba
của
người
yêu
cũ
hồi
còn
trẻ
của
bà
Năm
Sa
Đéc
(quê
ở
vùng
Mỹ
Tho,
Tiền
Giang
ngày
nay)
có
mở
một
quán
bán
hủ
tiếu
tại
Sài
Gòn.
Do
hiểu
biết,
yêu
thương
mối
dây
thân
tình,
trìu
mến
cũ
của
cha
mình,
cùng
riêng
ái
mộ
tài
danh
nghệ
thuật
của
bà
Năm
Sa
Đéc
nên
ông
đã
xin
làm
con
nuôi.
Sau
đó
là
xin
được
lấy
nghệ
danh
của
bà
đặt
tên
cho
quán
hủ
tiếu
của
mình
và
được
bà
Năm
chấp
thuận.
Nhờ
tài
nghệ
chế
biến
tô
hủ
tiếu
thơm,
ngon,
hợp
khẩu
vị
với
thực
khách
của
“cậu
ba”
nên
quán
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”
thu
hút
được
nhiều
người
rủ
nhau
đến
thưởng
thức
món
ẩm
thực
độc
đáo
này.
Từ
đó,
thương
hiệu
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”
vang
xa.
Sau
ngày
miền
Nam
hoàn
toàn
giải
phóng,
thống
nhất
Tổ
quốc
(30/4/1975),
quán
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”
còn
bán
một
thời
gian
rồi
đổi
chủ.
Hiện
nay,
chủ
quán
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”
(con
nuôi
của
bà)
đang
định
cư
ở
Thụy
Điển
và
vẫn
còn
tiếp
tục
theo
nghề
bán
hủ
tiếu
với
thương
hiệu
“Bà
Năm
Sa
Đéc”
như
xưa.
Trong
quán
có
treo
hình
Bà
Năm
Sa
Đéc
tại
một
nơi
rất
trang
trọng
để
tưởng
niệm,
yêu
thương
và
ái
mộ.
Vì
mến
mộ
tài
năng,
đức
hạnh
của
bà
Năm
Sa
Đéc
nên
gần
đây
có
người
quán
hủ
tiếu
hay
lò
sản
xuất
sợi
bánh
hủ
tiếu
(không
có
quan
hệ
họ
tộc
gì
với
bà)
cũng
“mượn”
danh
tiếng
Bà
Năm
Sa
Đéc
đưa
làm
bảng
hiệu
cho
cơ
sở
kinh
doanh,
sản
xuất
của
mình
như:
quán
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”,
lò
“hủ
tiếu
Bà
Năm
Sa
Đéc”.
Suốt
cả
một
đời
hơn
80
năm
tại
thế,
bà
Năm
Sa
Đéc
đã
sống
và
cống
hiến
hết
mình
cho
nghệ
thuật.
Nhắc
đến
chuyện
nữ
nghệ
sĩ
Bà
Năm
Sa
Đéc,
người
dân
Sa
Đéc
và
Đồng
Tháp
rất
tự
hào
và
vinh
dự,
vì
bà
đã
góp
phần
làm
rạng
danh
cho
mảnh
đất
quê
hương,
một
thời
đóng
góp
công
sức,
tài
năng
tỏa
sáng
đáng
kể
cho
nền
nghệ
thuật
sân
khấu,
cải
lương,
kịch
nói
và
điện
ảnh
nước
nhà.
Bài
và
ảnh:
Trần
Trọng
Trung
Ý kiến bạn đọc