Khán
giả
chật
rạp
Đây
là
vở
tuồng
màu
sắc
khá
ăn
khách,
hát
liên
tục
cả
tháng
tại
rạp
Aristo
mà
đêm
nào
cũng
chật
rạp,
thậm
chí
vé
bán
trước
cả
tuần.
Vở
hát
lúc
mới
khai
trương,
vai
Ngô
Phù
Sai
do
nghệ
sĩ
Năm
Châu
đóng;
Má
Bảy
Phùng
Há
đảm
nhận
vai
Phạm
Lãi;
nghệ
sĩ
Bảy
Nhiêu
vai
Ngũ
Tử
Tư;
ba
nghệ
sĩ
hề
là
Ba
Vân,
Văn
Lâu,
Tám
Vân
vai
Bá
Hỉ.
Hai
cô
đào
Kim
Cúc
–
Kim
Lan
trước
sau
thay
nhau
đóng
vai
Tây
Thi.
Nghe
nói
với
vai
nữ
chánh
này,
hai
cô
đào
phải
đi
học
72
đường
kiếm
thuật
với
ông
thầy
Tàu
ở
Chợ
Lớn.
Vậy
tuồng
Tây
Thi
gái
nước
Việt
hay
đến
cỡ
nào
mà
khán
giả
cải
lương
lại
đông
đảo
như
thế?
Tình
tiết
câu
chuyện
khá
dài,
tôi
sẽ
trở
lại
ở
các
kỳ
sau.
Giờ
đây
tôi
trình
bày
diễn
tiến
trong
việc
viết
vở
tuồng
này,
cũng
như
ai
là
người
đã
sáng
tác
lên
câu
chuyện
đã
làm
say
mê
khán
giả
khi
nó
được
chuyển
thể
thành
tuồng
cải
lương.
Số
là
kể
từ
lúc
tuồng
được
ra
mắt
cho
đến
mấy
thập
niên
sau,
rất
hiếm
người
biết
rằng,
soạn
giả
Năm
Châu
đã
dựa
vào
vở
kịch
thơ
“Tây
Thi
gái
nước
Việt”
của
Hoàng
Mai,
được
nhà
xuất
bản
Sống
Chung
phát
hành
giữa
năm
1949.
Hoàng
Mai,
tức
Mai
Văn
Bộ,
cán
bộ
kháng
chiến
Hội
Liên
Việt
của
Thành
Sài
Gòn
–
Chợ
Lớn.
Về
sau
ông
Mai
Văn
Bộ
được
điều
động
đến
khu
kháng
chiến
Nam
Bộ
và
soạn
giả
Trần
Hữu
Trang,
tức
Tư
Trang
tìm
đến
đây,
để
rồi
sau
đó
vở
hát
“Tây
Thi
gái
nước
Việt”
được
ra
đời,
đóng
góp
một
cành
bông
tươi
đẹp
vào
vườn
hoa
nghệ
thuật
cải
lương.
(Lúc
có
Hòa
Đàm
Ba
Lê
ông
Mai
Văn
Bộ
làm
Đại
Sứ
Bắc
Việt
tại
Ba
Lê).
Đầu
năm
1950
Đoàn
Việt
Kịch
Năm
Châu
trên
đà
mất
khán
giả
vì
thiếu
tuồng
mới,
tuồng
cũ
diễn
đi
diễn
lại
nhiều
lần
không
còn
ăn
khách
nửa,
nên
soạn
giả
Tư
Trang
(em
bà
con
với
Năm
Châu)
đã
lặn
lội
vào
tận
khu
kháng
chiến
Nam
Bộ
(Khu
9)
để
gặp
tác
giả
vở
kịch
thơ
Hoàng
Mai,
xin
được
chuyển
thể
vở
kịch
thơ
thành
tuồng
cải
lương.
Ông
Bộ
chấp
thuận
(không
đòi
hỏi
tiền
bản
quyền).
Vở
tuồng
“Tây
Thi
gái
nước
Việt”
với
nguyên
tác
là
vở
kịch
thơ
đã
sẵn
mang
tính
văn
chương
và
nghệ
thuật,
nhiều
kịch
tính
với
nội
dung
truyền
cảm.
Việc
chuyển
thể
từ
kịch
thơ
qua
tuồng
cải
lương
đòi
hỏi
soạn
giả
một
trình
độ
cao
về
kỹ
thuật
và
kinh
nghiệm
sân
khấu,
nếu
không
phải
là
Năm
Châu,
thì
khó
có
ai
dám
mạo
muội
làm
chuyện
này.
Người
ta
cho
rằng,
chính
công
sức,
thông
minh
và
thiện
chí,
với
kinh
nghiệm
nghề
nghiệp
đã
khiến
cho
ông
Năm
Châu
vượt
qua
được
cái
khó
khăn
nhất
là
đặt
bài
ca
cổ
nhạc
đúng
chỗ,
hợp
lý
để
không
làm
gián
đoạn
đường
dây
xuyên
suốt
của
kịch
bản.
Vở
tuồng
còn
có
sự
đóng
góp
của
nhạc
sĩ
Lê
Thương
viết
nhạc,
và
ba
ca
khúc
hát
bè,
điều
đó
cho
thấy
sân
khấu
cải
lương
từ
thời
xa
xưa
đã
có
áp
dụng
ca
tân
nhạc
vào
tuồng
cải
lương.
Đường
lối
“mua
tuồng
cũ”

Bìa
đĩa
hát
cải
lương
Kim
Vân
Kiều
trước
đây.
Khoảng
giữa
thập
niên
1950
thỉnh
thoảng
khán
giả
cũng
có
đi
coi
vở
Tây
Thi
gái
nước
Việt
diễn
trên
sân
khấu
Phụng
Hảo.
Thập
niên
1960
cải
lương
lên
cao
điểm,
nhưng
hai
đoàn
Năm
Châu
và
Phụng
Hảo
lại
bị
rã
gánh
nên
khán
giả
đã
không
còn
thấy
nàng
Tây
Thi
xuất
hiện
ở
đâu
hết.
Rồi
đến
năm
1974
thì
đoàn
Kim
Chung
cũng
cho
diễn
tuồng
“Tây
Thi”
của
soạn
giả
Yên
Lang,
mà
không
phải
tuồng
của
Năm
Châu
trước
đó,
khiến
cho
nhiều
người
thắc
mắc
rằng
không
biết
Tây
Thi
này
có
phải
là
Tây
Thi
gái
nước
Việt
mà
nhiều
năm
trước
đó
khán
giả
cải
lương
đã
đi
coi?
Và
câu
giải
đáp
như
sau:
Lúc
cao
điểm
khai
thác
nghệ
thuật
cải
lương
của
những
năm
giữa
thập
niên
1960,
bảng
hiệu
Kim
Chung
có
đến
6
đoàn
hát,
hoạt
động
luân
chuyển
đều
đặn
từ
Thủ
Đô
Sài
Gòn
đến
các
tỉnh
miền
Tây,
miền
Đông,
miền
Trung.
Chỉ
trừ
những
lúc
đoàn
đang
đi
chuyển
thì
không
có
hát
chớ
đêm
nào
các
gánh
cũng
mở
màn,
do
đó
ông
Bầu
Long
rất
cần
nhiều
soạn
giả
cộng
tác
để
cung
cấp
tuồng
mới
cho
các
đoàn.
Ngoài
mấy
soạn
giả
thường
trực
người
miền
Bắc,
đa
số
là
các
soạn
giả
miền
Nam
đã
tập
trung
dưới
trướng
của
Bầu
Long
(báo
chí
gọi
là
Bầu
Rồng).
Lúc
bấy
giờ
soạn
giả
Yên
Lang
giữ
một
vai
trò
quan
trọng
về
tuồng
tích
cho
đoàn
Kim
Chung,
nhưng
sau
cơn
bão
lốc
Mậu
Thân
cuốn
đi
hết
mấy
đoàn,
chỉ
còn
lại
2
đoàn
hoạt
động
cầm
chừng.
Tình
hình
đen
tối
như
vậy
nên
Kim
Chung
không
thể
nào
“nuôi”
hết
một
“tiểu
đội”
soạn
giả
để
phải
trả
lương
tháng
nữa.
Đường
lối
của
Bầu
Long
lúc
ấy
là
mua
đứt
một
số
tuồng
cũ
rồi
đổi
tựa
mới
để
cho
2
đoàn
còn
lại
“hát
cho
có
hát”
mà
thôi.
Như
vậy
đỡ
tốn
tiền
tuồng,
và
cũng
để
nuôi
sống
những
đào
kép
công
nhân
từng
trung
thành
với
bảng
hiệu
Kim
Chung,
nhứt
là
những
người
đã
theo
đoàn
từ
Bắc
vô
Nam.
Do
đường
lối
“mua
tuồng
cũ”
ấy
nên
soạn
giả
Yên
Lang
đương
nhiên
không
còn
chỗ
đứng
ở
Kim
Chung
nữa,
đã
phải
chạy
lung
tung
qua
mấy
đoàn
Việt
Nam,
Du
Sỹ
Ca
Quốc
Trầm...
Mãi
đến
1974
thì
Yên
Lang
“phản
hồi
cố
quận”
được
Bầu
Long
mời
cộng
tác
trở
lại
cùng
lúc
với
soạn
giả
Thiếu
Linh.
Trở
về
với
Kim
Chung
thì
soạn
giả
nào
lại
chẳng
mừng,
bởi
viết
xong
tuồng
là
có
tiền
ngay,
chớ
không
như
các
gánh
khác,
tuồng
hát
rồi
chưa
chắc
có
tiền.
Do
vậy
mà
soạn
giả
cần
đến
những
câu
chuyện
ăn
khách
để
cộng
tác
lâu
dài
với
Bầu
Long,
và
chiêu
đầu
tiên
mà
soạn
giả
Yên
Lang
tung
ra
tại
rạp
Olympic
mang
tựa
đề
là
Tây
Thi.
Có
lẽ
biết
rõ
câu
chuyện
“nằm
gai
nếm
mật”
của
Việt
Vương
Câu
Tiễn
ăn
khách,
hát
đi
hát
lại
nhiều
lần
vẫn
có
đông
đảo
khán
giả
đi
coi,
nên
soạn
giả
Yên
Lang
đã
đưa
nàng
Tây
Thi
và
các
nhân
vật
trong
câu
chuyện
lên
sân
khấu
Kim
Chung.
Thế
nhưng,
lấy
tên
tựa
gì
đây?
“Tây
Thi
gái
nước
Việt”
thì
Năm
Châu
đã
đặt
tựa
rồi,
không
lẽ
giờ
đây
đề
tựa
Tây
Thi...
gái
nước
Tàu?
Dù
rằng
câu
chuyện
này
là
của
Trung
Hoa,
thời
Xuân
Thu
Chiến
Quốc,
nước
Ngô
nước
Việt
là
chư
hầu
của
Nhà
Chu
(có
nhiều
người
lầm
lẫn
nước
Việt
ở
đây
là
Việt
Nam).
Thật
ra
thì
sử
sách
chính
thống
của
Tàu
ghi
chép
rất
ít
về
nàng
Tây
Thi,
mà
phần
lớn
hình
ảnh
đẹp
của
Tây
Thi
là
do
nhân
gian
sáng
tạo,
gần
như
là
chuyện
xưa
tích
cũ
vậy.
Chẳng
hạn
như
tuồng
cải
lương
của
Năm
Châu
đã
dựng
lên
một
nàng
Tây
Thi
vừa
đẹp
tuyệt
trần,
vừa
yêu
nước
mến
dân,
lại
vẹn
tình
vẹn
nghĩa...
Do
cốt
truyện
gần
như
chuyện
nhân
gian
của
Tàu,
thì
soạn
giả
cải
lương
Việt
Nam
ai
viết
được
thì
viết,
chứ
đâu
phải
tác
quyền
của
Năm
Châu.
Thành
thử
ra
soạn
giả
Yên
Lang
viết
thoải
mái,
tạo
nên
nàng
Tây
Thi
thế
nào
tùy
ý,
chỉ
có
cái
khó
là
đặt
tựa
làm
sao
cho
khán
giả
hiểu
được
Tây
Thi
này
cũng
là
Tây
Thi
của
Năm
Châu
mới
ăn
khách.
Cái
tựa
là
cả
một
vấn
đề,
và
soạn
giả
nhà
ta
đã
đặt
tựa
là
“Tây
Thi”...
khơi
khơi
vậy
thôi,
ai
muốn
hiểu
sao
thì
hiểu.
Đến
hôm
đăng
bảng
trình
diễn,
các
ký
giả
kịch
trường
phỏng
vấn
ông
Bầu
Long:
-
Sao
lại
chỉ
có
hai
chữ
“Tây
Thi”
thôi,
còn
“gái
nước
Việt”
bỏ
đi
đâu?
Bầu
Long
trả
lời:
-
Mấy
anh
cứ
hỏi
thẳng
soạn
giả
Yên
Lang.
-
Ông
là
bầu
gánh
phải
biết
chớ!
Là
người
Bắc
di
cư,
ông
Bầu
Long
dùng
từ
ngữ
Bắc
rặt:
-
Tớ
chả
cần
biết
làm
gì,
miễn
tuồng
ăn
khách
là
tốt
rồi.
-
Vậy
có
phải
Tây
Thi
gái
nước
Việt
như
tuồng
của
Năm
Châu
hay
là...
gái
nước
Tàu?
Bầu
Long
nói:
-
Gái
nước
Tàu,
nước
Nhựt,
Miên,
Lèo,
Ấn
Độ,
Chà
Và
hay
gái
nước
nào
cũng
được,
tớ
chả
cần
quan
tâm
làm
chi.
-
Thế
là
huề!
Đối
với
Bầu
Long
thì
báo
chí
có
khen
cũng
vậy,
mà
chê
thì
cũng
thế
thôi!
Như
vậy
tuồng
“Tây
Thi
gái
nước
Việt”
đã
có
2
người
viết:
Năm
Châu
và
Yên
Lang.
Một
điều
cũng
cần
nói
thêm,
năm
1969
lúc
Hòa
Đàm
Ba
Lê
đang
diễn
ra,
cả
hai
miền
Nam,
Bắc
đã
đưa
các
đoàn
văn
nghệ
sang
nước
Pháp
làm
công
tác
văn
hóa,
thu
phục
kiều
bào.
Riêng
miền
Nam
thì
trước
tiên
là
đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
như
tôi
đã
từng
trình
bày
với
thính
giả
trên
làn
sóng
phát
thanh
này.
Kế
đó
thì
các
đoàn
văn
nghệ
khác
cũng
được
đưa
sang,
trong
số
có
đoàn
của
Năm
Châu,
Phùng
Há.
Thời
gian
công
tác
cho
đoàn
văn
nghệ
miền
Nam
tại
Ba
Lê,
hai
nghê
sĩ
Năm
Châu,
Phùng
Há
đã
bí
mật
gặp
ông
Đại
Sứ
Mai
Văn
Bộ
của
miền
Bắc.
Giáo
sư
Trần
Văn
Khê
dùng
xe
riêng
đưa
2
người
đến
gặp
ông
Bộ
tại
nhà
của
Bác
Sĩ
Nguyễn
Ngọc
Hà.
Dù
là
tác
giả
câu
chuyện,
nhưng
ông
Mai
Văn
Bộ
vì
ở
trong
khu
kháng
chiến,
đã
không
có
dịp
nào
được
coi
vở
hát
nói
trên.
Cuộc
gặp
gỡ
này
ông
Bộ
yêu
cầu
nghệ
sĩ
Phùng
Há
diễn
lại
một
lớp
trong
tuồng
Tây
Thi
gái
nước
Việt
(Má
Bảy
diễn
lớp
Phạm
Lãi
gặp
Tây
Thi
ở
Cô
Tô
Đài).
Vấn
đề
trên
về
sau
ông
Mai
Văn
Bộ
kể
lại
với
báo
chí
rằng:
“Năm
phút
diễn
xuất
kỳ
diệu
của
chị
Bảy
trong
vai
Phạm
Lãi,
đã
giúp
tôi
hình
dung
được
toàn
bộ
vở
kịch
hoành
tráng
và
lộng
lẫy
Tây
Thi
gái
nước
Việt
trên
sân
khấu
của
Đoàn
Việt
Kịch
Năm
Châu
năm
nào.
Chuyện
đời
kể
ra
cũng
lạ,
trong
khi
hằng
bao
khán
giả
thì
được
coi
nguyên
vở
tuồng.
Còn
tác
giả
câu
chuyện
thì
chỉ
được
xem
một
đoạn
với
thời
gian
5
phút
ngắn
ngủi.
Sau
1975
vở
Tây
Thi
được
diễn
trở
lại,
không
biết
ông
Mai
Văn
Bộ
có
dịp
đi
coi
không?
Ngành
Mai
Ý kiến bạn đọc