Một
trong
“tứ
đại
thiên
vương”
bầu
sô
Vào
thời
cường
thịnh
nhất
những
năm
70
của
thập
kỷ
trước,
trên
sân
khấu
Đại
nhạc
hội
Sài
Gòn
xuất
hiện
“tứ
đại
thiên
vương”
từng
thay
nhau
ký
kết
các
hợp
đồng
5
năm,
10
năm
và
thâu
tóm
toàn
bộ
giới
văn
nghệ
sĩ
mà
tên
tuổi
còn
vang
bóng
đến
ngày
nay
như
Chế
Linh,
Duy
Khánh,
Giao
Linh…
Nhưng
cái
thời
ấy
đã
lùi
xa
vào
dĩ
vãng,
tên
tuổi
của
những
ông
bầu
lững
lấy
ấy
nay
người
còn
người
mất.
Vào
một
ngày
bình
yên,
tôi
gặp
lại
ông
bầu
Ngọc
Giao
thuở
nào.
Bộ
tóc
dài
buộc
túm
trắng
như
cước
kết
hợp
với
bộ
trang
phục
áo
trắng,
quần
trắng
cùng
chiếc
mũ
phớt
là
hình
ảnh
của
ông
bầu
“vua”
Ngọc
Giao
bây
giờ.
“Tứ
quái”
bầu
sô
của
Sài
Gòn
(từ
trái
qua:
Hoàng
Biếu,
Ngọc
Giao,
Sỹ
Đặng
&
Duy
Ngọc)
Cách
đây
hơn
40
năm
về
trước,
người
đàn
ông
tôi
gặp
hôm
nay
là
một
“đại
bàng”
từng
vỗ
cánh
bay
cùng
trời
cuối
đất
không
biết
mệt
mỏi,
dẫn
theo
đội
quân
“hùng
hậu”
chế
ngự
toàn
bộ
giới
nghệ
sĩ,
diễn
viên,
tạp
kỹ
Sài
thành.
Phong
cách
và
lối
sống
khiến
người
ta
nhìn
vào
ông
vẫn
thấy
một
cái
gì
đó
khác
vơi
người
bình
thường,
đó
là
chất
nghệ
sĩ
phong
trần.
Ông
bảo
tôi
là
cứ
viết
đi,
viết
thoải
mái
vì
đời
ông
không
còn
gì
để
mất
nữa
rồi.
Một
sự
lột
tả
đến
trần
trụi
cả
cuộc
đời
làm
ông
bầu
của
mình
mà
ông
phải
thét
lên
“toàn
nước
mắt
và
khổ
đau”.
Ngọc
Giao
tên
đầy
đủ
là
Nguyễn
Ngọc
Giao,
ông
sinh
tại
làng
Phù
Lễ(Quảng
Điền
–
Thừa
Thiên
Huế)
trong
một
gia
đình
có
7
anh
chị
em.
Hoàn
cảnh
gia
đình
khổ
cực,
nỗi
đau
đớn
ê
chề
của
tuổi
thơ
Ngọc
Giao
đã
tôi
luyện
cho
ông
bản
lĩnh
“gang
thép”
ngay
từ
khi
còn
là
cậu
bé.
Mảnh
đất
Huế
quê
hương
thơ
mộng,
đẹp
lung
linh
huyền
ảo
từng
đi
vào
thơ
ca
của
nhiều
văn
nghệ
sĩ
không
níu
giữ
được
bước
chân
Ngọc
Giao.
Cái
nghèo,
cái
đói
và
cả
sự
bứt
phá
của
tố
chất
con
người
muốn
bay
cao
dẫn
đến
sự
ra
đi
tất
yếu.
Đầu
thập
niên
60,
Ngọc
Giao
bước
chân
vào
Sài
Gòn
lập
nghiệp
với
nghề
ký
giả
cho
một
số
tờ
báo.
Không
qua
bất
cứ
trường
lớp
đào
tạo
chính
quy
nào
về
viết
báo
nhưng
ông
là
một
cây
bút
sắc
sảo,
chân
thật,
chuyên
viết
về
mảng
Sân
khấu
–
điện
ảnh.
Công
việc
tạo
cho
ông
nhiều
mối
quan
hệ
với
các
văn
nghệ
sĩ
và
cùng
với
niềm
đam
mê
ảo
thuật,
ông
chiếm
một
vị
trí
quan
trọng
trong
làng
giải
trí
mua
vui
cho
thiên
hạ.
Vài
năm
sau
khi
đã
quen
với
công
việc,
Ngọc
Giao
làm
phụ
tá
cho
ca
sĩ
Duy
Khánh
với
nhiệm
vụ
tuyển
chọn
các
ca
sĩ
hát
rong
trong
các
phòng
trà
hay
rạp
hát.
Nhờ
các
mối
quan
hệ
và
sự
quen
biết
giới
ca
sĩ
nên
qua
năm
sau,
ông
thành
lập
đoàn
nghệ
thuật
mang
tên
Ngọc
Giao.
Đoàn
của
ông
biểu
diễn
tại
rạp
Olympic
(nay
là
trung
tâm
văn
hóa
TP.HCM).
Các
đêm
nhạc
hội
của
Ngọc
Giao
luôn
thu
hút
đông
đảo
khán
giả
không
thua
kém
gì
đàn
anh
Hoàng
Biếu
đang
nổi
danh.
Nhờ
những
thành
công
rực
rỡ
ngay
ngày
đầu
mà
ông
bầu
Ngọc
Giao
có
tiền
mu
axe
hơi
rồi
thay
“xế”
xịn
liên
tục.
Tên
tuổi
của
Ngọc
Giao
dần
được
khẳng
định
trong
các
đêm
đại
nhạc
hội
nổi
tiếng
Sài
Gòn.
Con
ngựa
bất
kham
chạy
mãi
vì
nghệ
thuật
Sau
năm
1975,
Ngọc
Giao
thành
lập
đoàn
ca
múa
nhạc
mang
tên
Trường
Sơn
với
quân
số
lên
tới
hàng
trăm
người.
Đất
nước
đã
lật
qua
trang
sử
mới,
toàn
dân
của
cả
hai
miền
đang
hân
hoan
chào
đón
ngày
hội
chiến
thắng
của
dân
tộc.
Ngọc
Giao
lúc
này
như
con
ngựa
hoang
buông
vó
trên
sa
mạc,
xông
pha
vào
những
vùng
đất
lũng
sâu
hoang
dã.
Máu
đam
mê
nghệ
thuật
dường
như
luôn
căng
tràn
trong
người
ông
bầu
đề
rồi
liên
tục
những
trận
“kích
cầu”
khán
giả
như
vỡ
tung
sân
khấu.
Dưới
sự
chỉ
huy
của
Ngọc
Giao,
đoàn
nghệ
thuật
mang
tên
ông
không
ngừng
lớn
mạnh
kéo
theo
sự
đầu
quân
của
các
ca
sĩ
có
tiếng
thời
bấy
giờ
như
Chế
Linh,
Duy
Khánh,
Anh
Khoa…
và
rất
nhiều
những
bằng
hữu
khác.
Năm
tháng
trôi
qua
như
dòng
nước
chảy,
bao
nhiêu
thăng
trầm
của
Ngọc
Giao,
một
trong
bốn
ong
bầu
có
tiếng
trước
và
sau
những
ngày
đất
nước
giải
phóng,
tại
thành
phố
hoa
lệ
mang
danh
Hòn
Ngọc
Viễn
Đông
đầy
bon
chen,
đấu
đá
tranh
giành
lãnh
địa
thì
Ngọc
Giao
vẫn
nổi
lên
như
là
một
nhà
tổ
chức
đại
nhạc
hội
tầm
cỡ
nhất.
Ông
là
người
đầu
tiên
dám
đưa
quân
đi
lưu
diễn
từ
Nam
ra
Bắc
bằng
đường
bộ
và
cả
đường
thủy.
Ông
bầu
nổi
tiếng
trong
giới
đại
nhạc
hội
của
Sài
Gòn
nhưng
luôn
phải
cầm
đồ,
có
khi
bán
cả
quần
áo
để
trả
lương
cho
ca
sĩ.
Đó
là
chữ
tín
trong
nghiệp
làm
bầu
của
ông.
Có
lần
đưa
đoàn
ra
tới
Quy
Nhơn
không
may
gặp
sự
cố,
không
có
đất
dụng
võ,
tiền
hết,
một
số
an
hem
không
chịu
nổi
đã
quay
về
Sài
Gòn,
còn
một
số
vẫn
bám
trụ
lại
cùng
ông
bầu,
sống
chết
có
nhau.
Bầu
Ngọc
Giao
cố
duy
trì
cầm
chừng
để
đợi
liên
lạc
với
thành
phố
mời
thêm
diễn
viên.
Sự
dẻo
dai
và
sức
chịu
đựng
của
con
người
có
nhiều
đến
mấy
đi
chăng
nữa
thì
cũng
có
những
lúc
gục
gã.
Tiền
bạc
không
còn,
nhân
viên
phải
hái
trộm
đu
đủ
của
nhà
hát
ăn
tạm
qua
ngày
còn
ông
bầu
phải
đem
xe
hơi
cầm
thế
và
sau
đó
không
có
tiền
chuộc,
đã
bỏ
luôn.
Nhớ
lại
chuyến
đi
năm
đó,
Ngọc
Giao
ngậm
ngùi:
“tôi
thương
nhớ
các
anh
em
không
quản
vất
vả,
đói
khổ
ở
lại
với
tôi
ngày
đó,
đúng
là
hoạn
nạn
mới
biết
lòng
người”.
Phải
nói,
chỉ
có
Ngọc
Giao
mới
dám
làm
điều
đó
khi
có
có
20
người
với
dàn
âm
thanh,
ánh
sáng
thô
sơ.
Thế
mà
ông
dám
“vuốt
râu
hùm”
tung
hoành
khắp
các
nẻo
đường
của
đất
Bắc.
Lại
nói
về
lần
đầu
đoàn
đặt
chân
lên
đất
Bắc
đã
gặp
phải
nhiều
sóng
gió.
Nhờ
tên
tuổi
của
bầu
Ngọc
Giao
lúc
này
đã
lan
truyền
ra
tận
Hà
Nội
nên
ông
được
nhiều
bạn
bè
trong
giới
giúp
đỡ.
Rạp
Hồng
Hà
các
đêm
đoàn
Ngọc
Giao
đến
diễn
đều
bán
sạch
hết
vé
từ
sớm.
Người
dân
nườm
nượp
đến
xem
bởi
lối
diễn
xuất
bốc
lửa
ngùn
ngụt,
biến
hóa
linh
hoạt
rồi
phong
cách
tự
nhiên
gây
“sấm
sét”
trên
sân
khấu
của
các
ca
sĩ
trẻ.
Tên
tuổi
được
khẳng
định,
nhiều
đơn
vị
kể
cả
tư
nhân
và
nhà
nước
tìm
đến
đoàn
ký
hợp
đồng
diễn
xuất.
Qua
một
chặng
đường
khá
dài
tính
từ
khi
thành
lập
đoàn
Ngọc
Giao
rồi
Trường
Sơn
đến
ngày
tan
rã
cũng
26
năm
(1976
-
2001).
Làm
bầu
thì
oai
lắm
nhưng
có
khi
cũng
khổ
sở,
túng
quẫn
vì
những
đêm
hát
bị
thất
thu,
thua
lỗ.
Bầu
phải
đứng
ra
dàn
xếp,
năn
nỉ
từng
nghệ
sĩ
để
xin
thông
cảm
hoặc
khất
nợ
lần
sau.
Sự
bần
cùng
của
nghề
làm
bầu
chỉ
có
người
trong
giới
mới
hiểu
hết.
Có
lần
quái
kiệt
Trần
Văn
Trạch
đã
“mách”
cho
Ngọc
Giao
một
kế:
“Nếu
giận
ai
thì
đừng
nên
đánh
đập
mà
nhẹ
nhàng
xúi
nó
làm
bầu
là
một
cách
trả
thù
tế
nhị
nhất”.
Nghe
vậy,
Ngọc
Giao
chỉ
cười
bảo:
“Đó
chỉ
là
phút
bộc
trực
của
con
người
chứ
các
loại
bầu
bì
đều
là
cái
nghiệp.
Như
gia
đình
ông
bầu
'vua'
Hoàng
Biếu
kia
làm
bầu
suốt
cuộc
đời
nhiều
thế
hệ
mà
có
khi
còn
phải
dỡ
mái
tôn
lợp
nhà
đem
đi
bán
lấy
tiền
mướn
xe
chuyên
chở
đội
quân
đi
diễn.
Đến
nơi
khác
chưa
có
cơm
cho
công
nhân
ăn,
phải
tạm
cầm
mấy
cái
máy
âm
li,
tối
diễn
chờ
lấy
tiền
bán
vé
để
chuộc
lại.
Còn
ông
bầu
Duy
Ngọc
có
lúc
buồn
đời
trốn
nợ
vì
thua
độ
đá
gà
phải
nằm
lì
trên
chiếc
ghế
rách
tả
tơi
nhà
bạn”.
Suốt
26
năm,
ông
bầu
Ngọc
Giao
đã
chu
du
khắp
đất
nước
và
gặt
hái
được
những
thành
công
đáng
nể
nhưng
cuộc
đời
một
ông
bầu
vẫn
“ba
chìm
bảy
nổi”.
Biết
bao
“vận
đổi
sao
dời”
hỷ
nộ
ái
ố
của
một
kiếp
bầu,
ông
nghiệm
lại
thì
thấy
buồn
nhiều
hơn
vui,
những
giọt
nước
mắt
nhiều
hơn
là
những
nụ
cười.
Năm
1977
là
một
năm
nghiệt
ngã
nhất
với
danh
phận
một
ông
bầu
mang
tên
hai
đoàn
hát
là
Ngọc
Giao
1
và
Ngọc
Giao
2
(vì
đông
nghệ
sĩ
quá
nên
phải
chia
ra
thành
hai
cơ
sở).
Nhưng
ngay
cả
thời
vang
bóng
nhất
thì
nghiệp
cầm
ca
vốn
dĩ
cũng
chỉ
là
kiếp
“con
tằm
nhả
tơ”,
cái
thăng
hoa
chỉ
trong
tích
tắc
rồi
lại
quay
về
với
bể
khổ
trần
ai.
Vì
nghiệp
dĩ
cầm
ca
mà
lang
thang
hò
hét
mãi
cũng
chỉ
đủ
“lùa
cơm
vào
miệng”
nên
đời
nghệ
sĩ
Ngọc
Giao
là
cả
một
chặng
đường
đầy
thăng
trầm.
Chuyện
tình
cay
đắng
cuối
đời
Chinh
chiến
vì
nghệ
thuật
như
một
con
ngựa
bất
kham
chạy
mãi
mà
không
thấy
chùn
chân
mỏi
gối.
Một
thời,
khi
sự
nghiệp
bầu
show
đang
lên
như
diều
gặp
gió,
người
ta
thấy
Ngọc
Giao
“thất
thần”
từ
bỏ
cuộc
chơi.
Đó
là
những
ngày
tháng
buồn
da
diết
(1977),
ông
bị
hụt
hẫng,
chán
chường
và
chao
đảo
vì
một
người
phụ
nữ
một
thời
ông
gọi
là
“mình
ơi”
đã
dứt
áo
ra
đi,
bỏ
lại
cho
ông
năm
đứa
con
côi
cút.
Ông
viết
hồi
ức
về
những
ngày
đó:
“Chiếc
áo
ngủ
màu
xanh
của
vợ
tôi
đã
bị
rách
toác
một
lỗ.
Một
hiền
phụ
của
một
gia
đình
nề
nếp
gia
phong
thế
mà
đã
gây
nên
bao
nỗi
xót
xa
buồn
tủi
cho
con
cái
sau
này.
Cả
một
gia
đình
tan
hoang
đổ
nát,
tiếng
kêu
xé
lòng
của
một
người
đàn
ông
chẳng
sợ
trời
cũng
chẳng
hề
sợ
đất”.
Ngọc
Giao
buồn
bã,
từ
bỏ
tất
cả
để
đi
lang
thang
một
mình
trong
cõi
thực
và
ảo
của
tâm
hồn,
cõi
lòng
ông
như
bị
trăm
ngàn
mũi
kim
châm
rách
nát
và
ông
đã
từng
suy
nghĩ:
“Tự
nhiên
ta
muốn
nằm
xuống
và
nhắm
mắt,
quả
thật
ta
chẳng
cần,
con
người
ta
chỉ
chết
một
lần.
Đối
với
thượng
đế,
dù
ở
hoàn
cảnh
nào,
chúng
ta
đều
có
một
lần
trả
món
nợ
cuộc
đời.
Kẻ
nào
chết
năm
nay
thì
khỏi
chết
năm
sau…”.
Và
ông
đã
khóc,
một
Ngọc
Giao
mạnh
mẽ,
hùng
dũng
như
đại
bàng
nay
đã
phải
rơi
lệ
vì
tình.
Những
năm
tháng
còn
lại
trên
con
tàu
sắp
đắm,
ông
không
phải
tìm
tòi
và
suy
nghĩ
gì
cả,
rằng
đường
đi
của
ông
đã
được
vạch
sẵn,
nó
đã
vĩnh
viễn
được
định
đoạt
thì
dù
có
giãy
giụa
thế
nào
đi
chăng
nữa
cũng
chỉ
thêm
mệt
mỏi
mà
thôi.
Ông
vẫn
chỉ
là
chồng
của
một
người
vợ
không
chung
thủy.
Sau
khi
chia
tay
vợ,
Ngọc
Giao
gửi
các
con
lại
cho
ông
bà
chăm
sóc
còn
mình
thì
tìm
kiếm
niềm
vui
bằng
những
chuyến
đi
không
có
điểm
dừng.
Không
phải
là
người
nghiện
rượu
nhưng
ngày
nào
ông
cũng
làm
bạn
với
men
say
để
dập
tắt
ngọn
lửa
đang
bốc
cháy
trong
người
ông.
Thời
gian
già
nua
bởi
sự
thiếu
thốn
cả
tình
lẫn
tiền
khiến
ông
trở
thành
sỏi
đá,
có
khi
giận
giữ
dù
biết
rằng
giận
dữ
sẽ
mất
lý
trí
và
sẽ
thành
vô
lý.
Ngọc
Giao
viết
thư
về
cho
con
tâm
sự
rất
nhiều:
“Ba
nghĩ
đến
cái
chết
nhưng
ba
lại
sợ
chết.
Ôi,
lẻ
loi
và
buồn
thảm
quá,
rồi
các
con
sẽ
ra
sao?”.
Nỗi
buồn
nào
rồi
cũng
sẽ
tan
khi
con
người
ta
đã
đi
tới
tận
cùng
của
nỗi
khổ
đau.
Hai
mươi
năm
sống
trong
sự
cô
đơn
và
trống
trải,
thiếu
vắng
một
bờ
vai
thực
sự
mặc
dầu
đàn
bà
đối
với
một
ông
bầu
tầm
cỡ
như
Ngọc
Giao
chưa
bao
giờ
thiếu,
nhưng
tất
cả
chỉ
là
cơn
gió
đến
rồi
đi,
không
để
lại
một
chút
hương
tình
nào.
Năm
1997,
Ngọc
Giao
kết
duyên
với
một
người
con
gái
bằng
nửa
tuổi
ông.
Cô
ấy
được
ông
dìu
dắt
từ
một
người
phụ
việc
cho
đoàn
lên
hàng
diễn
viên
múa.
Thời
gian
đầu
“bén
rễ
tình”,
họ
phải
lén
lút
hẹn
hò
vì
sợ
con
ông
biết
được
sẽ
xấu
hổ
hay
phản
đối.
“Cái
kim
trong
bọc
lâu
ngày
cũng
lộ”,
chuyện
của
hộ
rồi
cũng
bị
mọi
người
tỏ
thường
nên
Ngọc
Giao
quyết
định
“danh
chính
ngôn
thuận”
với
người
vợ
thứ
hai.
Các
con
của
ông
đều
đồng
cảm
với
cha
nên
không
đứa
nào
phản
đối.
Năm
2001,
Ngọc
Giao
chính
thức
giã
từ
kiếp
giang
hồ
bầu
sô
của
mình
quay
về
làm
một
người
lao
động
bình
thường.
Ông
nhường
lại
“sân
chơi”
cho
các
con
và
đào
tạo
chúng
trở
thành
những
diễn
viên
có
thể
sống
được
bằng
nghề.
Ông
cùng
người
vợ
thứ
hai
về
quận
2
mở
quán
cà
phê,
ngày
ngày
có
bạn
hữu
gần
xa
thăm
hỏi.
Do
còn
sức
khỏe,
còn
“ham
muốn”
kiếm
tiền
nên
ông
cùng
một
số
người
thân
trong
gia
đình
mở
một
công
ty
chuyên
cung
cấp
máy
móc
phục
vụ
cho
ngành
công
nghiệp
chế
biến
gỗ.
Công
việc
lại
cuốn
ông
đi
nay
đây
mai
đó
theo
các
công
trình,
lại
ra
Bắc
vào
Nam
chẳng
thiếu
một
chỗ
nào.
Những
đêm
đông
gió
rét
ở
thành
phố
sương
mù
(Lào
Cai),
nằm
trong
vài
ba
lớp
chăn
mà
vẫn
lạnh
cóng,
những
lúc
như
vậy
ông
lại
nhớ
tới
người
vợ
trẻ
cũng
đang
“chăn
đơn
gối
chiếc”
một
mình.
Vừa
nhớ,
vừa
thương,
ông
nhắn
cho
vợ
những
dòng
tâm
sự
“thử
lòng”:
“Chúng
mình
đã
sống
với
nhau
hơn
mười
năm
rồi
mà
không
có
con
cái.
Em
còn
rất
trẻ,
tương
lai
còn
dài,
nếu
như
ai
thương
em,
cho
em
hạnh
phúc
thì
em
có
thể
đi
theo
người
ta,
anh
không
trách
em
đâu”.
Không
ngờ,
chính
những
tâm
sự
“thử
lòng”
ấy
như
dầu
đổ
thêm
vào
lửa,
tạo
động
lực
và
thời
cơ
cho
cô
vợ
nói
lời
chia
tay
nhẹ
nhàng
với
ông.
Mùa
xuân
năm
2011,
lão
bầu
Ngọc
Giao
nhận
được
lời
chia
tay
của
người
vợ
trẻ.
Cô
ta
đưa
ra
những
bằng
chứng
là
các
tin
nhắn
ông
khuyên
cô
cùng
với
lý
do
là
“anh
quá
già”
nên
ông
chỉ
biết
cứng
họng,
đứng
chết
lặng.
Ở
độ
tuổi
72,
khi
cuộc
đời
đã
xế
bóng,
ông
bầu
“vua”
lừng
lẫy
một
thời
từng
làm
mây
làm
mưa,
từng
chinh
phục
hàng
tá
người
đẹp
nay
lại
quay
về
với
nỗi
cô
độc
của
một
người
thất
bại
thảm
hại
trên
tình
trường.
Không
còn
sức
khỏe
để
gào
thét
nữa,
cũng
chẳng
còn
vững
vàng
mà
phiêu
bạt
bồng
bềnh
viễn
xứ,
ông
vùi
mình
vào
những
trang
viết
tự
tình,
những
vần
thơ
thấm
đẫm
nỗi
u
buồn,
cô
đơn
và
đớn
đau
tột
cùng.
Ông
sợ
nỗi
cô
đơn
nên
mỗi
ngày
thường
đi
rong
chơi
dọc
ngang
phố
xá,
tìm
bạn
bè
“chén
tạc
chén
thù”
và
nhờ
có
chất
men
chất
ngất
ấy
mà
đêm
về
cho
ông
một
giấc
ngủ
ngon.
Hôn
nhân
&
Pháp
luật
Ý kiến bạn đọc