Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Phùng
Há
“đá”
Năm
Châu
Năm
Châu
“câu”
Phùng
Há
.
Trước
khi
kể
giai
thoại
“Phùng
Há
Đá
Năm
Châu
–
Năm
Châu
Câu
Phùng
Há”,
tôi
xin
nói
rõ
không
phải
vì
tôi
thất
kính
với
hai
vị
cố
ân
sư
trong
ngành
nghệ
thuật
sân
khấu.
Tôi
dùng
câu
nói
“Phùng
Há
Đá
Năm
Châu
–
Năm
Châu
Câu
Phùng
Há”
là
nguyên
văn
câu
chuyện
của
quái
kiệt
Ba
Vân,
người
đồng
thời
với
hai
nghệ
sĩ
Phùng
Há
và
Năm
Châu,
kể
cho
chúng
tôi
nghe
về
“Chuyện
tình
không
đoạn
kết”
của
hai
danh
tài
Phùng
Há
–
Năm
Châu
trong
thập
niên
30,
40
của
thế
kỷ
vừa
qua.
Trong
đầu
thập
niên
50,
đoàn
hát
Việt
Kịch
Năm
Châu
có
thông
lệ,
là
sau
bữa
ăn
trưa
các
nghệ
sĩ
cùng
ngồi
chung
quanh
một
cái
bàn
dài
để
uống
trà
hoặc
uống
cà
phê,
khi
đó
những
nghệ
sĩ
trẻ
thường
hỏi
các
nghệ
sĩ
đàn
chú,
bác
về
nghệ
thuật
ca
diễn
hoặc
những
chuyện
vui
buồn
trên
sân
khấu
trong
các
thập
niên
trước.
Hai
ông
Bảy
Nhiêu
và
Ba
Vân
là
hai
nghệ
sĩ
biết
nhiều
chuyện
vui
buồn
của
lớp
nghệ
sĩ
tiền
phong,
đặc
biệt
về
hai
tài
danh
Phùng
Há
và
Năm
Châu.
Kể
về
hai
tài
danh
Phùng
Há
và
Năm
Châu,
ông
Bảy
Nhiêu
nói:
“Trong
những
năm
1934-1935,
Phùng
Há
với
Năm
Châu
là
đôi
diễn
viên
được
khán
giả
yêu
mến
nhứt.
Đêm
diễn
nào
không
có
Phùng
Há
và
Năm
Châu
diễn
chung
với
nhau
là
khán
giả
la
ó,
trả
vé
đòi
tiền
lại.
Dẫu
ông
quản
lý
có
giải
thích
lý
do
vắng
mặt
Phùng
Há
hay
Năm
Châu
là
vì
họ
không
có
vai
trong
tuồng
hát
đó,
thì
khán
giả
cũng
ào
lên
sân
khấu
làm
dữ.
Phùng
Há
hoặc
Năm
Châu
ra
sân
khấu
thì
họ
vỗ
tay
yêu
cầu
Năm
Châu
và
Phùng
Há
hát,
vai
nào
cũng
được,
hát
cương
cũng
được,
miễn
là
họ
hát
chung
với
nhau
một
lớp
tuồng
cho
họ
coi
thì
họ
mới
chịu”.
Còn
ông
Ba
Vân
thì
kể:
“Trong
tuồng
Tiết
Đinh
San-Phàn
Lê
Huê,
Phùng
Há
đóng
vai
Phàn
Lê
Huê,
Tư
Út
đóng
vai
Tiết
Đinh
San.
Bữa
hát
đó
Tư
Út
nhờ
Năm
Châu
thế
vai.
Năm
Châu
không
chịu
hát
cương
nhưng
anh
chưa
từng
tập
vai
đó
nên
phải
nương
theo
lối
hát
của
Phùng
Há.
Lúc
hai
người
đối
trận,
vì
thầy
là
Lê
San
Thánh
Mẫu
nói
Lê
Huê
và
Đinh
San
có
mối
duyên
tiền
định
nên
Phàn
Lê
Huê
(Phùng
Há)
ra
trận
không
thật
tình
đối
địch
với
Tiết
Đinh
San.
Năm
Châu
(trong
vai
Tiết
Đinh
San)
huơ
thương
lên
hét
lớn:
“Nè
đỡ,
tôi
đâm
đa!”
Phùng
Há
(Phàn
Lê
Huê)
trả
lời:
“Ai
đâm
tôi
đỡ,
ai
để
hở
mà
đâm?”
Năm
Châu
nghe
trả
lời
hơi
kỳ,
không
biết
phải
hát
cương
ra
sao,
nên
ỡm
ờ
nói:
“Thế
nào
cũng
có
hở,
mà
hễ
hở
thì
tôi
đâm
nữa!”
Phùng
Há
(Phàn
Lê
Huê)
tức
cười
quá
nên
nói:
“Đâm
gì
mà
đâm
hoài
vậy?”
Khán
giả
vỗ
tay,
la
lớn.
Người
thì
la:
“Đâm
đi!
Tiết
Đinh
San...
đâm
đại
đi...”
Người
khác
hét
lại:
“Đỡ
đi!
Đừng
để
hở
cho
ổng
đâm...”
Đêm
hát
đó
khán
giả
cảm
thấy
thật
vui,
họ
xen
vô
góp
ý
với
Tiết
Đinh
San
hoặc
Phàn
Lê
Huê,
giống
như
họ
cùng
diễn
trên
sân
khấu”.
Về
nghệ
thuật
sân
khấu,
tất
nhiên
ông
Năm
Châu
không
đồng
ý
lối
diễn
như
vậy
nhưng
về
mặt
tình
cảm
thì
đây
là
một
kỷ
niệm
khó
quên
trong
những
bước
đầu
đi
hát.
Hai
diễn
viên,
Phùng
Há
và
Năm
Châu,
hát
chung
nhiều
tuồng
như:
Tái
Sanh
Duyên
(Phùng
Há
trong
vai
Mạnh
Lệ
Quân,
Năm
Châu
trong
vai
Lưu
Khuê
Bích),
tuồng
Đời
Cô
Lựu
(Phùng
Há
trong
vai
cô
Lựu,
Năm
Châu
trong
vai
Hai
Thành),
tuồng
Tô
Ánh
Nguyệt
(Phùng
Há
trong
vai
Tô
Ánh
Nguyệt,
Năm
Châu
trong
vai
Minh),
tuồng
Giọt
Máu
Chung
Tình
(Năm
Châu
trong
vai
Võ
Đông
Sơ,
Phùng
Há
trong
vai
Bạch
Thu
Hà)...
Những
vai
diễn
chung
tình
của
cặp
đào
kép
trứ
danh
mang
đến
cho
khán
giả
những
nụ
cười,
những
xao
xuyến
vì
tình
yêu
hoặc
những
giọt
nước
mắt
thương
cảm
cho
số
phận
đau
thương
của
nhân
vật.
Sau
nhiều
đêm
diễn
cặp
với
nhau,
hai
nghệ
sĩ
tài
danh
đóng
vai
người
tình,
người
yêu,
người
chồng,
người
vợ
trên
sân
khấu
đã
trở
thành
đôi
tình
nhân
thật
lý
tưởng
trong
giới
nghệ
sĩ
cải
lương.
Ông
Năm
Châu,
sau
lần
hát
cương
như
đã
kể
trên,
đã
để
lại
một
ấn
tượng
sâu
đậm
trong
lòng
cô
Phùng
Há.
Hành
động
hát
cương
đó
cũng
là
một
giai
thoại
khó
quên
trong
ký
ức
của
các
bạn
nghệ
sĩ
đồng
thời
với
Năm
Châu
và
Phùng
Há.
Theo
lời
kể
của
ông
Bảy
Nhiêu,
sau
lần
hát
cương
bất
đắc
dĩ
đó,
ông
Năm
Châu
không
bao
giờ
hát
cương
nữa.
Khi
ông
bầu
giao
vai
để
hát,
ông
buộc
phải
được
tập
tuồng
đàng
hoàng,
phải
ráp
lời
thoại
hoặc
những
lớp
diễn
suất
quan
trọng
với
người
bạn
diễn
thật
thuần
thục
rồi
ông
mới
công
diễn.
Ông
cũng
sáng
tác
ba
tác
phẩm
-
Nợ
Dâu,
Men
Rượu
Hương
Tình
và
Sân
Khấu
Về
Khuya
-
để
nói
lên
cuộc
đời
tình
cảm
và
tuyên
ngôn
về
quan
điểm
Nghệ
Thuật
Vị
Nghệ
Thuật
của
mình.
Năm
1936,
ông
Nguyễn
Bửu,
đại
điền
chủ
ở
Trà
Vinh,
thích
nữ
nghệ
sĩ
Phùng
Há
nên
lập
đoàn
hát
cải
lương
tuồng
Tàu,
lấy
nghệ
danh
Phùng
Há
đặt
tên
bảng
hiệu
là
gánh
hát
Phụng
Hảo.
Năm
Châu
và
Phùng
Há
rời
đoàn
hát
Trần
Đắc
gia
nhập
gánh
hát
Phụng
Hảo.
Nhưng
chỉ
một
thời
gian
ngắn,
nghệ
sĩ
Năm
Châu
rời
đoàn
hát
Phụng
Hảo
để
đi
Hà
Nội
hát
trong
khi
đó
thì
đoàn
hát
Phụng
Hảo
đang
còn
lưu
diễn
ở
thành
phố
Nam
Vang
–
Cao
Miên.
Nữ
nghệ
sĩ
Phùng
Há
kết
hôn
với
ông
Nguyễn
Bửu,
trở
thành
bà
bầu
gánh
hát
trẻ
nhất
thời
bấy
giờ.
Trong
thập
niên
30,
40,
nghệ
sĩ
thay
chồng
đổi
vợ
là
chuyện
bình
thường.
Phần
lớn
các
nghệ
sĩ
thời
đó
đều
xa
gia
đình,
xa
cha
mẹ
khi
còn
rất
nhỏ,
không
được
sự
chăm
sóc
và
sự
quản
thúc
của
cha
mẹ
nên
tự
quyết
định
chuyện
vợ
chồng
của
mình.
Nghệ
sĩ
Ba
Vân
kết
luận
chuyện
tình
của
Phùng
Há-Năm
Châu
trong
thập
niên
30
bằng
câu
nói
“Phùng
Há
Đá
Năm
Châu,
Năm
Châu
Câu
Phùng
Há”,
vì
anh
biết
khi
Phùng
Há
bằng
lòng
làm
vợ
của
ông
Nguyễn
Bửu
đã
quyết
định
xa
rời
người
bạn
tình
và
bạn
diễn
là
Năm
Châu,
đó
là
một
hình
thức
“đá”
người
tình
cũ
để
xáp
lại
với
người
mới.
Còn
Năm
Châu
thì
trước
khi
đi
Hà
Nội
hát
để
xa
Phùng
Há,
anh
có
gởi
cho
Phùng
Há
một
bức
thư,
có
thể
là
thơ
bày
tỏ
nỗi
lòng,
một
cách
“câu”
lại
người
yêu
cũ.
Ba
Vân
chỉ
suy
đoán
rồi
nói
vậy
chớ
không
ai
hiểu
nội
dung
bức
thư
đó
ra
sao,
cho
đến
ngày
nghệ
sĩ
Năm
Châu
mất
(ngày
21
tháng
4
năm
1978),
bà
Phùng
Há
mới
nói
rõ
chuyện
ngày
xưa:
“Khi
tôi
lấy
chồng,
ảnh
đột
ngột
rời
gánh
Phụng
Hảo,
nghe
đâu
đi
Hà
Nội
một
thời
gian...
Khi
đó,
gánh
Phụng
Hảo
hát
ở
Nam
Vang
và
tôi
chưa
tới
30
tuổi...
Tôi
quyết
định
lấy
chồng
để
cả
hai
chúng
tôi
có
thể
dứt
khoát...
Người
ta
đưa
cho
tôi
lá
thư
ảnh
gởi
trước
khi
đi,
không
một
lời
từ
biệt.
Lá
thư
gồm
12
câu
vọng
cổ
là
tất
cả
tâm
tình
của
ảnh.
Trong
từng
lời,
từng
câu,
tôi
hiểu
ảnh
đã
buồn
bực,
thất
vọng
và
trách
móc
tôi
rất
nhiều...
Nhưng
cho
dù
có
hiểu
nhau,
thương
nhau
đến
mấy,
cũng
bằng
không
thôi...
Số
phận
như
vậy
rồi”
-(Phùng
Há)
Dưới
đây
là
12
câu
vọng
cổ
giã
biệt
và
lần
chia
tay
cuối
cùng:
1-
Ngàn
dặm
xa
trong
cánh
nhạn
xòe,
cứ
mỗi
độ
báo
tin,
sương
mờ
mịt
ngọn
khói
lam.
Nghi
ngút
tỏa
bung
lung
trên
các
hàng
thành
quách
cũ.
2-
Lơ
lửng
lá
vàng
rơi,
thoang
thoảng
gió
heo
may,
đưa
hương
vị
cố
nhơn
về,
đánh
thức
bao
ký
vãng
xa
xăm
mà
ta
đã
cùng
hưởng
chung
với
nhau
ở
giữa
đất
phong
trần.
3-
Lòng
bỗng
rạo
rực
băn
khoăn
vội
vàng
tạ
liễu
từ
hoa,
ân
cần
giao
trả
lại
cho
nước
non,
rồi
xếp
gió
trăng
thơ
mộng,
vùn
vụt
bánh
xe
lăn
trong
muôn
dặm
tử
phần.
4-
Bồi
hồi
lòng
mong
mỏi,
xé
không
gian
tìm
dấu
cũ.
Nặng
nề
lòng
nhớ
nhung
mến
tưởng,
đinh
ninh
cái
câu
tao
ngộ
ta
sẽ
cùng
sớt
chia
nhau
mà
trang
trải
nợ
nần.
5-
Nào
dè
đâu
thời
gian
đã
tàn
phá
bức
tranh
tình.
Mùi
đã
lạt,
tình
đã
phai,
cùng
cố
nhân
tuy
gần
nhau
trong
gang
tấc
mà
cách
xa
nhau
như
núi
Sở
sông
Tần.
6-
Ánh
thái
dương
đương
xán
lạn
trong
veo
tưng
bừng
hoa
cỏ
đón,
bỗng
thình
lình
đâu
cơn
gió
vụt,
đám
mây
vần,
ôi,
cố
nhân
ơi,
sao
nỡ
để
tay
hèn
nâng
phẩm
tiên?
7-
Bây
giờ
đây
tui
có
đi
hay
ở
cũng
lỡ
làng
rồi,
mảnh
hương
nguyền
đốt
không
thơm,
tơ
loan
chùng
phím
trúc.
Thơ
ngày
xưa
đã
lạt,
mộng
ngày
xưa
đã
tan.
Gió
trúc
cuốn
xa,
trăng
tà
chiếc
bóng.
8-
Ngao
ngán
nỗi
đường
xa
quán
khách,
bây
giờ
có
ra
đi
thì
sức
mỏi
chân
chùng,
nhưng
hoa
còn
đâu,
liễu
còn
đâu?
Nước
non
đã
bao
phen
nắng
vàng
mưa
bụi
thì
biết
bao
năm
đã
hỏi
liễu
tầm
hoa.
9-
Mờ
mịt
ánh
trăng
mây
lòng
hơi
chùng
dưới
gối.
Chiếc
nhạn
trong
sương
nhiều
khi
tràn
trụa
chảy,
không
ngăn
dòng
máu
nối
dòng
châu.
Giọt
lờ
pha
giọt
đậm.
10-
Nhìn
trộm
cố
nhân
đang
vui
tươi
bỗng
thảm
đạm,
đang
cười
cợt
bỗng
âu
sầu
nhưng
hoa
kết
gót
sen,
vàng
bao
thân
ngọc,
nhẹ
nhàng
cố
nhân
thoăn
thoắt
lượn
như
con
chim
hoàng
oang
sáng
tối
hát
rồi
ca.
11-
Ầm
ĩ
sống
bến
mê,
rạt
rào
mưa
khóm
trúc,
chiếc
thân
tàn,
con
ma
dại
cứ
lầm
lũi
đi
trên
con
đường
gió
bão.
Kìa,
ai
ơi
một
hồn
quê
mà
ai
đã
bước
sa
đà.
12-
Cõi
lòng
đang
hăm
hở
vui
tươi
bỗng
đượm
lấy
một
giòng
sầu
man
mác.
Giữa
độ
đầu
xanh
tuổi
trẻ
mà
tâm
khảm
vì
ai
pha
màu
lạnh
cho
đến
đỗi
nét
xuân
tươi
mà
nay
(tôi)
đã
hóa
ra
cằn
cỗi
héo
già.
*
*
*
Dù
đã
qua
bao
nhiêu
năm,
12
câu
vọng
cổ
giã
biệt
đó
vẫn
không
phai
trong
ký
ức
của
bà
Phùng
Há.
Giọng
đã
run,
ca
không
còn
rõ
nhịp,
nhưng
từng
lời,
từng
câu
cứ
tuôn
tràn
theo
cảm
xúc
của
bà.
Bà
kể
lại:
“Khi
nhận
được
thư,
đọc
xong
tôi
khóc,
nhưng
thấy
lòng
bình
yên.
Thỉnh
thoảng
tôi
ca
một
mình
12
câu
vọng
cổ
ấy,
rồi
có
khi
đọc
và
hát
cho
bạn
bè
nghe.
Không
ai
biết
tác
giả
12
câu
vọng
cổ
ấy
là
ai,
ngoài
tôi.
Chính
người
ấy
cũng
chưa
từng
một
lần
nghe
tôi
hát...
Vậy
mà
không
hiểu
sao
bao
nhiêu
năm
qua
rồi,
có
nhiều
thứ
tôi
quên,
cũng
lẫn
lộn
lung
tung,
chỉ
riêng
12
câu
vọng
cổ
giã
biệt
của
ảnh
viết
cho
tôi
thì
tôi
nhớ
mãi.
Nếu
ngày
xưa
muốn
sống
cho
thỏa
lòng
mình
thì
chắc
ảnh
và
tôi
đã
không
thể
làm
gì
nhiều
cho
nghệ
thuật
cải
lương
-
niềm
đam
mê
của
chúng
tôi”.
Ba
tác
phẩm
-
Nợ
Dâu,
Men
Rượu
Hương
Tình,
Sân
Khấu
Về
Khuya
-
được
giới
nghệ
sĩ
cải
lương
và
các
ký
giả
kịch
trường
xem
như
những
lời
tuyên
ngôn
về
quan
điểm
nghệ
thuật
và
tự
kể
chuyện
tâm
tình
của
nghệ
sĩ
Năm
Châu.
Vở
tuồng
Men
Rượu
Hương
Tình
được
sáng
tác
khi
ông
Năm
Châu
xa
rời
bà
Phùng
Há,
ông
bỏ
đoàn
hát
Phụng
Hảo
để
đi
Hà
Nội,
tuồng
được
sáng
tác
tại
Hà
Nội,
dưới
hình
thức
kịch
nói
với
tựa
đề
Phụ
Phàng.
Khi
nghệ
sĩ
Năm
Châu
trở
về
Nam,
ông
mới
thêm
bài
ca
cổ
nhạc
cho
vở
kịch
Phụ
Phàng
và
hoàn
thành
vở
cải
lương
với
nhan
đề
mới
là
Men
Rượu
Hương
Tình.
Nghệ
sĩ
cải
lương
đồng
thời
với
Năm
Châu
đều
cho
là
Năm
Châu
sáng
tác
vở
Men
Rượu
Hương
Tình
để
nói
lên
mối
tình
dở
dang
của
ông
với
bạn
tình
Phùng
Há.
Về
sau,
ông
thành
hôn
với
cô
Tư
Sạng,
danh
ca
hãng
dĩa.
Hai
vợ
chồng
ông
có
với
nhau
năm
đứa
con
nhưng
rồi
vợ
ông,
cô
Tư
Sạng,
lại
bỏ
ông
mà
đi
lấy
ông
chủ
hãng
dĩa
Ngô
Văn
Mạnh.
Thế
là
các
bạn
nghệ
sĩ
của
ông
Năm
Châu
lại
nói:
tuồng
Men
Rượu
Hương
Tình
đúng
là
một
vở
tuồng
tiền
định,
tiên
đoán
mối
tình
tan
vỡ
của
hai
danh
tài
Năm
Châu
và
Tư
Sạng.
Khi
còn
cộng
tác
với
đoàn
Việt
Kịch
Năm
Châu
trong
những
năm
đầu
thập
niên
50,
tôi
nhiều
lần
được
xem
vở
tuồng
Men
Rượu
Hương
Tình
của
Nguyễn
Thành
Châu,
diễn
viên
vai
chánh
Nam
Bình
do
nghệ
sĩ
Năm
Châu
thủ
diễn.
Giờ
đây
nhắc
lại
mối
tình
tan
vỡ
và
nỗi
đam
mê
sân
khấu
của
ông
Năm
Châu,
tôi
xin
kể
lại
chuyện
tuồng
Men
Rượu
Hương
Tình
như
sau:
“Nam
Bình,
một
nghệ
sĩ
sống
hết
mình
cho
nghệ
thuật,
cùng
vợ
là
Thu
Hồ
phiêu
bạt
rày
đây
mai
đó
trên
sân
khấu
của
gánh
hát
nhỏ
do
Nam
Bình
lập
ra.
Một
bầu
chủ
gánh
hát
“đại
ban”
để
ý
tới
vợ
chồng
anh,
liền
bỏ
tiền
ra
mời
về
hát
giúp.
Tên
tuổi
Thu
Hồ
ngày
càng
sáng
chói,
trở
thành
thần
tượng
của
khán
giả
đến
với
gánh
Nam
Thinh
này.
Thế
rồi
Thu
Hồ
phải
lòng
kép
chánh
trong
đoàn
là
Bảy
Minh.
Tin
đồn
đến
tai
Nam
Bình
nhưng
anh
không
tin.
Sự
thực
vẫn
là
sự
thực.
Thu
Hồ
trở
nên
lạnh
nhạt
với
Nam
Bình.
Anh
buồn
tê
tái,
nhưng
với
tâm
niệm
yêu
nghệ
thuật
đến
mức
xem
“sân
khấu
là
thánh
đường”
thiêng
liêng,
cao
quý,
nên
Nam
Bình
dồn
hết
trái
tim
và
khối
óc
cho
công
việc.
Những
tưởng
sẽ
quên
được
con
người
bạc
bẽo
kia
nhưng
nỗi
buồn
cứ
lảng
vảng,
dằn
vặt
anh.
Nam
Bình
đâm
ra
chè
chén,
cờ
bạc.
Nghề
của
anh
ngày
càng
xuống
dốc,
khán
giả
bắt
đầu
chán
anh
và
tay
bầu
chủ
lắm
phen
quát
mắng.
Một
hôm,
dưới
bóng
lạnh
lùng
của
trăng
khuya,
Nam
Bình
tận
mắt
chứng
kiến
vợ
anh
hẹn
hò
thân
mật
với
tình
nhân.
Nam
Bình
không
can
thiệp
vào
vì
anh
đã
hiểu
ra:
tình
yêu
giữa
họ
đã
quá
đỗi
mặn
nồng.
Nam
Bình
trở
về
gánh
hát
xưa,
chia
sẻ
ngọt
bùi
với
đồng
nghiệp.
Sức
lực
mỏi
mòn
nhưng
vì
cuộc
sống
của
anh
em
trong
gánh
hát,
Nam
Bình
vẫn
phải
đứng
ra
cáng
đáng,
ca
hát
trên
sàn
diễn
ọp
ẹp.
Cuối
cùng
trên
giường
bệnh
anh
đã
vĩnh
viễn
ra
đi,
trên
môi
vẫn
thảng
thốt
gọi
tên
Thu
Hồ
vợ
anh
ngày
xưa”.
Nhân
câu
chuyện
kể
của
cố
nghệ
sĩ
Ba
Vân
về
Năm
Châu
và
Phùng
Há
–
Phùng
Há
Đá
Năm
Châu,
Năm
Châu
Câu
Phùng
Há
–
tôi
ghi
lại
cốt
chuyện
tuồng
Men
Rượu
Hương
Tình
và
sưu
tầm
12
câu
vọng
cổ
giã
biệt
của
Năm
Châu
gởi
cho
Phùng
Há
trước
khi
chia
tay
đi
Hà
Nội.
Câu
chuyện
tuồng
Men
Rượu
Hương
Tình
và
lời
văn
cổ
phong
trong
12
câu
vọng
cổ
giã
biệt
đã
nói
lên
mối
tình
sâu
đậm
giữa
hai
nghệ
sĩ
tiền
phong
nhưng
cả
hai
đành
chia
tay
vì
không
muốn
vấn
vương
mãi
khi
một
người
đã
nặng
gánh
gia
đình
và
người
kia
phải
tìm
một
quyết
định
dứt
khoát
để
giữ
cho
cả
hai
không
bị
tiếng
đời
dị
nghị
và
giữ
gìn
tình
cảm
đẹp
mà
khán
giả
đã
dành
cho
họ.
Ngày
21
tháng
4
năm
1978,
khi
nghe
tin
ông
Năm
Châu
mất,
bà
bảy
Phùng
Há
đã
chạy
vào
nhà
thương,
vấp
té
liên
hồi.
Người
ta
nói:
“Ảnh
đã
đi
rồi,
cô
Bảy
ơi”,
nhưng
bà
vẫn
lay
ông
Năm
Châu,
gào
khóc:
“Khoan,
anh
khoan
đi!
Anh
có
nghe
không,
có
hiểu
không?
Anh
phải
nghe
tôi
nói
rồi
mới
yên
lòng
ra
đi
được.
Tôi
biết
anh
còn
uất
hận
ở
trong
lòng,
sở
dĩ
tôi
làm
vậy
là
vì
anh,
vì
thương
anh...
,giờ
này...
cho
tới
giờ
phút
này,
tôi
vẫn
yêu
anh...”
Bà
đã
nói
thật
lòng,
đã
thét
lên
những
lời
tận
trái
tim
như
người
đang
trong
cơn
mê
sảng
nói
những
gì
đã
giấu
sâu
kín
trong
trái
tim
mình.
Cuối
cùng
rồi
bà
cũng
nói
ra
được
những
gì
bà
giấu
kín
trong
tim
đã
nhiều
năm
qua,
dù
lời
tự
thú
mối
tình
thầm
kín
đó
đã
thốt
ra
trước
mặt
nhiều
người,
có
cả
sự
hiện
diện
của
chị
Kim
Cúc,
người
vợ
đương
thời
của
Năm
Châu.
Tôi
nghĩ
có
lẽ
mối
tình
của
bà
Phùng
Há
và
ông
Năm
Châu
mãi
mãi
đẹp
chính
bởi
vì
nó
dang
dở...
Nguyễn
Phương,
2012
Tác
giả
bài
viết:
tancogiaoduyen
Nguồn
tin:
SG
Nguyễn
Phuong
-
TBOL
Ý kiến bạn đọc