Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
gây
bất
ngờ
khi
xuất
hiện
với
vóc
dáng
phong
độ
ở
tuổi
U.90.
Ông
vẫn
thỉnh
thoảng
đi
hát,
sống
cuộc
sống
bình
yên
ở
xứ
cờ
hoa.
Xem
tiếp...
Thanh
Hải
&
Thanh
Thanh
Hoa
SÂN
KHẤU
CẢI
LƯƠNG
MIỀN
NAM
VÀO
ĐẦU
THẬP
NIÊN
60
CỦA
THẾ
KỶ
TRƯỚC,
MỘT
GIỌNG
CA
MỚI
XUẤN
HIỆN
LÀM
CHẤN
ĐỘNG
TRONG
GIỚI
CẢI
LƯƠNG
ĐƯỢC
XEM
LÀ
MỘT
HIỆN
TƯỢNG,
ĐÓ
LÀ
GIỌNG
CA
CỦA
NS
THANH
HẢI
KẾ
THỪA
HAI
GIỌNG
CA
NGHỆ
SĨ
TÀI
DANH
ĐƯƠNG
KIM
LÚC
BẤY
GIỜ:
NS
ÚT
TRÀ
ÔN
VÀ
NS
HỮU
PHƯỚC.
NHƯNG
SỰ
KẾ
THỪA
CỦA
NS
THANH
HẢI
ĐÃ
TẠO
CHO
MÌNH
MỘT
KỸ
THUẬT
CA
NGÂM
RIÊNG,
VÀ
ÔNG
ĐÃ
SÁNG
TẠO
ĐƯA
PHONG
CÁCH
DIỄN
NGÂM
CỦA
TAO
ĐÀN
VÀO
CA
VỌNG
CỔ,
MÀ
TRONG
GIỚI
TÔN
TẶNG
ÔNG
LÀ
“VUA
TAO
ĐÀN”.
THEO
CHÚNG
TÔI,
KỸ
THUẬT
CA
NGÂM
VỌNG
CỔ
CỦA
NS
THANH
HẢI
LÀ
MANG
ÂN
HƯỞNG
ĐẬM
CHẤT
TAO
ĐÀN.
KHÁT
VỌNG
CỦA
BUỔI
BÌNH
MINH
NS
Thanh
Hải
tên
thật
là
Hồ
Văn
Xia,
ông
sinh
ra
trong
một
gia
đình
công
nhân
cao
su
ở
Bến
Cát
–
Bình
Dương
(1938).
Thanh
Hải
mồ
côi
cha
từ
lúc
8
tuổi,
nhưng
rất
hiếu
học
nêN
nên
khi
trở
thành
thanh
niên
có
được
ít
vốn
học
vấn
và
tiếng
Pháp,
Thanh
Hải
được
một
công
ty
cao
su
thời
đó
ở
Bến
Cát
nhận
vào
làm
nhân
viên
kiểm
nghiệm
mủ
cao
su.
Tuy
vậy,
Thanh
Hải
vốn
say
mê
Cải
lương
từ
thời
niên
thiếu
và
ông
rất
thần
tượng
giọng
ca
của
Đệ
nhất
danh
ca
Út
Trà
Ôn,
cho
nên,
tuy
làm
nhân
viên
cao
su
nhưng
tâm
hồn
vẫn
luôn
say
mê
Cải
lương,
và
cũng
là
khát
vọng
của
Thanh
Hải
lúc
bấy
giờ.
Khát
vọng
đó
ngày
càng
mãnh
liệt
hơn,
thôi
thúc
ông
phải
giã
từ
với
nghề
kiểm
tra
nhựa
cao
su…
Khi
tạm
biệt
rừng
cao
su
quê
nhà,
Thanh
Hải
đã
ngoài
hai
mươi
tuổi,
ông
chưa
từng
được
học
nghề
ca
diễn
Cải
lương
ngày
nào
nhưng
vẫn
đuổi
theo
khát
vọng.
Nhưng
rồi
trời
không
phụ
lòng
người
nhiệt
thành,
Thanh
Hải
lại
tìm
gặp
được
soạn
giả
Điền
Long
(đồng
hương)
và
được
Diền
Long
giới
thiệu
ông
vào
gánh
Hữu
Chí
(lúc
24
tuổi).
Vốn
đã
có
làn
hơi
chất
giọng
tốt
và
năng
khiếu
ca
ngâm,
nhưng
vẫn
phải
làm
những
công
việc
lặt
vặt
ở
gánh
để
được
học
nghề.
Vì
lòng
say
mê
nghề,
Thanh
Hải
học
nghề
bằng
nhiều
cách
như
được
vài
đào
kép
chỉ
ca
diễn,
ông
tự
học
lóm
hàng
đêm,
đứng
bên
cánh
gà
sân
khấu
xem
những
nghệ
sĩ
đi
trước
ca
diễn.
Với
sự
thông
minh
và
nhạy
bén,
chưa
đầy
nữa
năm
thì
Thanh
Hải
đã
biết
được
khá
nhiều
về
kỹ
thuật
ca
ngâm,
nhịp
nhàng,
hơi
điệu,
cách
biểu
đạt
vai
diễn…
Khi
sang
gánh
Ánh
Sáng,
NS
Thanh
Hải
may
mắn
gặp
được
soạn
giả
Công
Quận,
người
này
có
cảm
tình
với
Thanh
Hải
và
bằng
cặp
mắt
nhà
nghề,
soạn
giả
Công
Quận
phán
đoán:
“Thanh
Hải
sẽ
sớm
trở
thành
kép
chánh
nổi
tiếng”,
vì
các
tố
chất:
vóc
dáng
cao
ráo,
gương
mặt
đẹp
trai
nhất
là
đôi
mày
rậm
rất
lý
tưởng
với
kép
chánh,
làn
hơi
chất
giọng
sẳn
tốt…
Soạn
giả
Công
Quận
bắt
đầu
bổ
túc
kinh
nghiệm
ca
diễn
và
viết
tuồng
“o
bế”
cho
Thanh
Hải
một
vai
để
làm
đòn
bẩy.
Một
vai
chính
trong
vở
“Trăng
nước
Hà
Tiên”
cho
Thanh
Hải,
đây
cũng
là
vai
chánh
đầu
đời
của
ông
được
thành
công,
làm
hài
lòng
cả
bầu
gánh
và
soạn
giả
Công
Quận.
Với
NS
Thanh
Hải
luôn
ghi
nhớ
soạn
giả
Công
Quận
là
người
thầy
đầu
tiên
của
ông,
tạo
cho
ông
một
dấu
son
trong
đời
làm
nghệ
thuật
của
mình;
sau
đó
có
cố
NSND
Ba
Vân,
soạn
giả
Thu
An,
NSND
Út
Trà
Ôn,
NSƯT
Kim
Chưởng
đã
góp
phần
chăm
sóc
kinh
nghiệm
ca
diễn
qua
nhiều
vai
chánh
và
một
nghệ
danh
Thanh
Hải
sáng
chói
sau
này.
NS
Thanh
Hải
thành
công
từ
vai
đầu,
dường
như
đó
là
liều
thần
dược
kích
thích
ông
tiếp
những
thành
công
sau
đó.
Soạn
giả
Công
Quận
rất
hài
lòng
khi
mình
đã
sáng
tác
theo
kiểu
“đo
ni
đóng
giày”
cho
Thanh
Hải
chính
xác,
ông
viết
tiếp
vai
chánh
cho
Thanh
Hải
trong
vở
“Đường
lên
núi
Tây
Ninh”
và
“Chiếc
lá
vàng”,
vai
sau
ca
diễn
cao
hơn
vai
trước,
và
tên
tuổi
Thanh
Hải
bắt
đầu
gây
tiếng
vang
ở
khu
vực
miền
Đông
Nam
bộ
lúc
bấy
giờ
(26
tuổi).
Sự
thành
công
bước
đầu
của
NS
Thanh
Hải
không
chỉ
là
niềm
vui
–
hạnh
phúc
của
Công
Quận
và
Thanh
Hải,
mà
còn
là
niềm
phấn
chấn
của
cả
gánh
hát
Ánh
Sáng
của
bầu
Năm
Tập
được
thu
hút
khán
giả
ngày
càng
đông
hơn.
Do
vậy,
bầu
Năm
Tập
có
quyết
định
đưa
gánh
mình
về
Sài
Gòn
để
thử
sức
“tranh
hùng”
với
một
số
đại
bang
Cải
lương
đương
thời.
MỘT
HIỆN
TƯỢNG
CỦA
CẢI
LƯƠNG
-
THẬP
NIÊN
60
Khi
về
Sài
Gòn,
gánh
Ánh
Sáng
vô
rạp
trương
bảng
hiệu,
trong
giới
Cải
lương
và
khán
giả
đều
cảm
thấy
lạ
vì
chưa
từng
biết
qua
“Ánh
Sáng”,
nhưng
qua
vài
suất
diễn
“tiếng
lành
đồn
xa”
khán
giả
và
cả
người
trong
cuộc
kéo
nhau
xem
“Ánh
Sáng”
vì
gánh
có
một
kép
“Thượng
thặng”.
Quả
nhiên
NS
Thanh
Hải
không
phụ
lòng
mọi
người
với
tài
năng
ca
diễn
của
ông
lúc
đó,
chỉ
mới
vào
nghề
trên
dưới
ba
năm
(1961-1963).
Và
kể
từ
đây,
NS
Thanh
Hải
là
tầm
ngắm
của
các
ông
bầu
đại
bang,
rồi
ông
lần
lượt
hát
kép
chánh
qua
các
đại
bang
Cải
lương
Sài
Gòn
nổi
tiếng
(1962-1968):
Thủ
Đô,
Kim
Chưởng,
Kim
Chung…
Có
thể
kể
đến
những
vai
vang
bóng
một
thời
của
NS
Thanh
Hải
như
Đào
Cam
Mộc
trong
vở
“Tiếng
trống
sang
canh”,
Châu
Vũ
Đào
trong
“Chiếc
lá
mùa
thu”,
Hoàng
tử
trong
“Trăng
lên
ngoài
cửa
ngục”,
Kim
Bình
trong
“Sầu
quan
ải”,
Ai
Bình
Cơ
trong
“Hai
chiều
ly
biệt”,
Hải
Bằng
trong
“Cô
gái
sông
Đà”,
Tô
Điền
Sơn
trong
“Thuyền
ra
cửa
biển”,
Trần
Tử
Lang
“Nắng
chiều
trên
sông
Dịch”,
Lý
Kim
Tùng
“Nửa
bản
tình
ca”…
Ngoài
ra
NS
Thanh
Hải
còn
nổi
tiếng
trên
làng
đĩa
nhựa
Sài
Gòn,
khá
nhiều
hãng
ký
contract
(hợp
đồng)
độc
quyền
như:
Tứ
Hải,
Việt
Hải,
Hồng
Hoa,
Asia,
Hồn
Nước,
Việt
nam…;
ước
tính
con
số
chỉ
có
thể
đứng
sau
“Hoàng
đế
đĩa
nhựa
–
Tấn
Tài”.
Tính
từ
thời
gian
chính
thức
ký
contract
(1962-1968),
NS
Thanh
Hải
thu
hơn
100
vở
và
vài
trăm
bài
Vọng
cổ.
Các
vở
tiêu
biểu
như:
Sầu
quan
ải,
Tiếng
trống
sang
canh,
Hai
chiều
ly
biệt,
Chiếc
lá
mùa
thu,
Nửa
bản
tình
ca,
Cô
gái
sông
Đà,
Thuyền
ra
cửa
biển,
Tống
tửu
Ô
hắc
Lợi,
Hằng
Nga
–
Hậu
Nghệ,
Triệu
Tử
Long
đoạt
ấu
chúa,
Hán
Đế
biệt
Chiêu
Quân…;
các
bài
Vọng
cổ
như
Tần
Quỳnh
khóc
bạn,
Tiếng
chuông
thức
tỉnh,
Nắng
chiều
trên
sông
Dịch,
Chén
cơm
cúng
mẹ,
Gánh
bưởi
Biên
Hòa,
Khói
tàu
lướt
sóng…
Theo
tư
liệu
của
nhà
báo
Khổ
Gia
Trường:
“Trong
thập
niên
1960,
SKCL
miền
Nam
xuất
hiện
hàng
loạt
kép
chánh
nổi
tiếng.
Mỗi
người
một
vẻ
trong
ca
diễn
và
đều
tạo
dấu
ấn
đáng
nhớ.
Một
trong
những
gương
mặt
sáng
gia
1thời
ấy
là
NS
Thanh
Hải.
Ngoài
Huy
chương
vàng
Diễn
viên
xuất
sắc
giải
Thanh
Tâm
(giải
này
trong
suốt
mười
năm
tồn
tại
từ
1958
đến
1967
chỉ
có
6
nghệ
sĩ
được
HCV
là
Thanh
Nga,
Thành
Được,
Bạch
Tuyết,
Hữu
Phước,
Ngọc
Giàu
và
Thanh
Hải).
Đó
là
một
giải
thưởng
danh
giá
chính
thức
của
SKCL
trước
1975.
Thanh
Hải
còn
được
xem
là
nghệ
sĩ
Cải
lương
miền
Nam
có
được
nhiều
biệt
danh
nhất
do
báo
giới
Sài
Gòn
và
khán
giả
phong
tặng
dựa
trên
tài
năng
trong
thời
điểm
thăng
hoa
nhất
của
ông.
Đó
là
các
biệt
danh:
“Vua
Tao
Đàn”,
“Anh
hùng
lưu
diễn”
và
“Kép
triệu
phú”
đầu
tiên
của
Cải
lương
Việt
Nam…”
Với
những
danh
hiệu
nói
trên,
với
nhiều
giai
thoại
khác
về
NS
Thanh
Hải,
bởi
sự
ái
mộ
của
khán
giả
lúc
bấy
giờ
cũng
như
người
trong
cuộc,
tất
cả
đều
xem
NS
Thanh
Hải
là
một
hiện
tượng
mới
của
Cải
lương
vào
giữa
thập
niên
60
của
thế
kỷ
20;
đặc
biệt
là
sự
sáng
tạo
của
ông
ứng
dụng
cách
ngâm
Tao
Đàn
vào
Cải
lương,
đây
chính
là
dấu
hiệu
của
hiện
tượng
mới.
Sau
khi
hết
hợp
đồng
ở
Kim
Chung,
Thanh
Hải
cùng
NS
Văn
Hường
lập
gánh
hát
riêng
nhưng
thất
bại
vì
tình
hình
chiến
sự.
Kế
đến
là
NS
Thanh
Hải
cộng
tác
cho
Công
ty
Thái
Dương
(của
bà
bầu
Tiêu
Thị
Mai)
cho
đến
ngày
miền
Nam
hoàn
toàn
giả
phóng.
Sau
năm
1975,
ngoài
cộng
tác
cho
một
số
đoàn
tỉnh,
sau
đó
NS
Thanh
Hải
về
trụ
lại
ở
Đoàn
Văn
Công
TP.
HCM
cho
đến
ngày
giải
nghệ
(khoảng
năm
1982
–
1984),
và
giai
đoạn
này
NS
Thanh
Hải
không
để
lại
vai
nào
đáng
kể
nữa,
dường
như
ông
đã
kết
thúc
một
kiếp
“con
tằm”…
MỘT
GIỌNG
CA
ĐẦY
ẤP
CHẤT
TAO
ĐÀN
Theo
từ
vựng
thì
Tao
Đàn
là
từ
để
chỉ
một
nhóm
nhà
văn,
nhà
thơ
có
chung
quan
điểm
nghệ
thuật
văn
chương
và
ngâm
vịnh
(ngày
nay
dưới
hình
thức
Câu
lạc
bộ).
Có
thể
thấy
hình
thức
Tao
Đàn
gắn
liền
với
kỹ
thuật
ca
ngâm
ví
dặm
của
vùng
Nghệ
Tĩnh
từ
rất
xa
xưa,
sau
này
kết
hợp
cách
ngâm
thơ
Đường
và
theo
điệu
Xổng
thành
cách
ngâm
Tao
Đàn
cho
thơ
mới.
Từ
Tao
Đàn
ra
đời
cụ
thể
nhất
từ
ngày
rằm
tháng
giêng
năm
Bính
Thìn
(1736)
tại
Hà
Tiên,
do
Mạc
Thiện
Tích
(1718-1780)
đã
cùng
nhiều
danh
sĩ
tài
hoa
lúc
bấy
giờ
lập
nên
Tao
Đàn
Chiêu
Anh
Các.
Đây
là
nơi
mà
các
danh
sĩ
khắp
mọi
miền
thường
hội
ngộ
để
ngâm
thơ
xướng
họa,
chính
Tao
Đàn
này
đã
cho
ra
đời
“Hà
Tiên
thập
cảnh”
nổi
tiếng
cả
nước,
và
là
vốn
quý
trong
kho
tàng
thi
ca
Việt
Nam.
Ngâm
thơ
có
nhiều
lối:
Sa
Mạc,
Vân
Tiên,
Tự
Do,
Tao
Đàn,
nhưng
theo
lối
Tao
Đàn
âm
điệu
nghe
mượt
mà,
trữ
tình
và
bay
bổng
hơn.
Cách
ngâm
Tao
Đàn
tuy
không
có
tiết
tấu,
nó
có
phần
như
âm
hưởng
cách
ngâm
tự
do,
nhưng
độ
ngân
của
làn
hơi
được
trãi
dài
và
âm
“ơ…
hơ”
nghe
dìu
dặt
hơn,
vì
nó
luôn
lên
bổng
xuống
trầm;
đây
chính
là
nét
đặc
biệt
của
Tao
Đàn
mà
NS
Thanh
Hải
là
người
đầu
tiên
sáng
tạo
đưa
vào
ca
Cải
lương
thành
công.
Có
nghĩa
là
NS
Thanh
Hải
kết
hợp
với
ca
ngâm
vọng
cổ
thuần
khiết
với
ngâm
Tao
Đàn,
không
chỉ
ở
những
câu
nói
lối
ông
sử
dụng
ngâm
Tao
Đàn,
mà
trong
lòng
câu
Vọng
cổ
nếu
thích
hợp
ông
ca
theo
kiểu
như
ngâm
Tao
Đàn,
nên
giọng
ca
của
ông
vừa
mang
đặc
trưng
âm
điệu
Vọng
cổ
vừa
mang
âm
hưởng
của
Tao
Đàn
mượt
mà,
trữ
tình
là
nét
rất
riêng
của
Thanh
Hải.
Tuy
nhiên,
làn
hơi
chất
giọng
là
thiên
phú,
nhưng
khi
ca
Vọng
cổ
Thanh
Hải
có
nhiều
ảnh
hưởng
kỹ
thuật
xử
lý
hơi
–
giọng
của
cố
NSND
Út
Trà
Ôn
(một
thời
Thanh
Hải
là
học
trò
của
ông
Út)
là
điều
tất
nhiên.
Trong
tất
nhiên
lại
có
sự
ngẫu
nhiên
trùng
hợp,
đó
là
hơi
-
giọng
của
Thanh
Hải
cũng
là
giọng
“Đồng
rặt”
như
NSND
Út
Trà
Ôn,
để
rồi
từ
đó
kỹ
thuật
xử
lý
hơi
-
giọng
của
Thanh
Hải
chịu
ảnh
hưởng,
nên
cũng
giống
ông
Út
về
âm
hưởng
“ơ…
hơ”.
Nhưng
Thanh
Hải
ca
ngâm
trường
độ
thì
có
nét
riêng
không
giống
ông
Út,
mà
âm
hưởng
đằm
thắm,
êm
dịu
lại
chịu
ảnh
hưởng
“rơ”
của
NS
Hữu
Phước,
rồi
ông
lại
vận
dụng
kỹ
thuật
ngân
nga
của
Tao
Đàn
nên
chất
tươi
mượt
khác
đi
ông
Út
và
Hữu
Phước
để
hình
thành
nét
riêng
của
Thanh
Hải.
Có
lẽ
chất
giọng
“Đồng”
của
NS
Thanh
Hải
có
âm
vực
không
cao
và
rộng
như
ông
Út,
âm
điệu
không
rổn
rảng
mà
do
một
chút
trầm
hóa
khi
xuống
thấp;
cách
sắp
văn
ca
của
Thanh
Hải
khác
với
ông
Út
là
ít
khi
chẻ
nhịp,
mà
chỉ
xử
lý
ngân
nga
các
thanh
điệu
của
ca
từ
(ngang,
huyền,
hỏi,
ngã,
sắc,
nặng).
Kỹ
thuật
xử
lý
hơi
–
giọng
của
ông
cả
hơi
miệng
và
hơi
mũi
cùng
kết
hợp
tạo
thành
hơi
gió
là
“ớ…
hơ
và
ơ…”
vừa
trầm
ấm
và
khi
ngân
thì
rất
vang
với
những
ca
từ
có
thanh
điệu
dấu
sắc,
hỏi
(Nam
bộ
thanh
hỏi
và
ngã
cùng
một
độ
cao)
và
không
dấu
(thanh
ngang).
Ông
ngân
nga
bằng
cách
xử
lý
hơi
bụng,
ngậm
miệng
mà
ngâm
thành
âm
“ơ”
làm
cho
chất
“Đồng”
vang
vang,
nhất
là
khi
ngâm
Tao
Đàn
nghe
âm
giọng
rất
du
dương
làm
mát
tai
người…
Trong
bài
Vọng
cổ
“Chén
cơm
cúng
mẹ”
chúng
tôi
có
dịp
nghe
lại
với
kỹ
thuật
ca
ngâm
này
của
NS
Thanh
Hải
rất
rõ:
Ngâm:
“Nhìn
di
ảnh
hương
trầm
nghi
ngút
khói
Tưởng
mẹ
hiền
như
sống
lại
với
lòng
con
Mẹ
ơi,
bới
lưng
cơm,
tay
cầm
đũa
run
run
Mắt
xoáy
lệ
chan
hòa
trên
chén
ngọc”.
(những
chữ
in
đậm
là
ngữ
điệu
Tao
Đàn)
Ca
Vọng
cổ:
“Con
lâm
râm
khấn
vái
nam
–
mô
–
a
di
–
đà
–
phật
nhắc
lại
lòng
từ
bi
của
mẹ
từ
ngày
xưa
đã
hết
dạ
tu…
hành.
Lòng
con
xót
xa
chưa
trọn
mười
ân
đáp
nghĩa
sanh
thành.
Mẹ
đã
dày
công
nuôi
con
không
hề
gian
khổ,
một
chén
cơm
này
sao
đáng
nghĩa
cù
lao.
Nhưng
có
chén
cơm
con
mới
hiểu
lời
mẹ
rằng:
các
con
chớ
tranh
nhau
vì
một
miếng
ăn
mà
phải
chia
ly
tình
thâm
thủ
túc”
(ơ…
hơ…
ơ…)
–
câu
1.
Dường
như
trong
mỗi
câu
ca
Vọng
cổ,
NS
Thanh
Hải
lại
có
đoạn
cất
giọng
đưa
ngữ
điệu
ngâm
nga
Tao
Đàn
vào,
khiến
âm
điệu
vừa
trữ
tình
bay
bổng
lên
dìu
dặt…,
chẳng
hạn
như
8
nhịp
cuối
câu
2:
“Mẹ
lo
ruộng
thí
mươn
cau,
nhà
thờ
ba
chái
sau
này
chẳng
yên,
sợ
rằng
huynh
đệ
tranh
quyền,
anh
em
kiện
cáo
thâm
tình
cách
xa”;
câu
4,
8
nhịp
cuối
cùng
tương
tự:
“Thương
con
thương
đứa
giàu
sang,
thương
con
thương
đứa
khôn
ngoan
lắm
lời.
Ghét
con
ghét
đứa
thật
thà,
ghét
con
ghét
đứa
xấu
xa
cơ
hàn”…
Có
lẽ,
nói
về
sự
nghiệp
nghệ
thuật
và
tài
năng
của
NS
Thanh
Hải
còn
nhiều
điều
để
nói,
nhưng
bài
viết
có
hạn
cũng
như
khả
năng
người
viết.
Thiện
chí
chúng
tôi
muốn
nhắc
lại
những
tài
nghề
của
nghệ
sĩ
lão
thành,
nhằm
tôn
vinh
một
thời
mà
họ
đã
cống
hiến
cho
nghệ
thuật
dân
tộc,
đồng
thời
cung
cấp
thêm
thông
tin
cho
bạn
đọc
và
ít
nhiều
cho
các
nghệ
sĩ
trẻ
chiêm
nghiệm
trên
con
đường
theo
Tổ
nghiệp
của
mình.
Hy
vọng
là
vậy.
Tác
giả
bài
viết:
tanconhac
Nguồn
tin:
Đỗ
Dũng
-
BSKTP
Ý kiến bạn đọc