Nghệ
sĩ
Lệ
Thủy
:
Thinh
sắc
lưỡng
toàn
Trong
nghệ
thuật
cải
lương,
để
thành
công,
một
nghệ
sĩ
đòi
hỏi
phải
có
một
trong
hai
yếu
tố
tiên
quyết
:
thinh
và
sắc.
Trong
hai
yếu
tố
này,
cái
thinh
luôn
đi
trước
cái
sắc.
Thế
nhưng,
thỉnh
thoảng
cũng
có
một
vài
nghệ
sĩ
được
trời
ban
cho
cả
thinh
và
sắc.
Trong
số
lượng
ít
ỏi
đó
có
nữ
nghệ
sĩ
Lệ
Thủy,
một
nghệ
sĩ
“thinh
sắc
lưỡng
toàn”.
Lệ
Thủy
tái
ngộ
khán
giả
Paris
sau
27
năm,
trong
trích
đoạn
Tô
Ánh
Nguyệt
-
Paris-2011.
Lê
Phước/RFI
Trong
nghệ
thuật
cải
lương,
để
thành
công,
một
nghệ
sĩ
đòi
hỏi
phải
có
một
trong
hai
yếu
tố
tiên
quyết:
thinh
và
sắc.
Thinh
tức
là
giọng
ca,
sắc
ý
muốn
nói
đến
cái
đến
vóc
dáng
bên
ngoài,
đến
khuôn
mặt
có
“làm
sáng
sân
khấu”
hay
không.
Trong
hai
yếu
tố
này,
cái
thinh
luôn
đi
trước
cái
sắc,
và
thực
tế
đã
chứng
minh,
có
nhiều
nghệ
sĩ
không
may
mắn
có
được
sắc
vóc
bằng
chị
bằng
em,
nhưng
nhờ
sở
hữu
một
giọng
ca
đặc
sắc
nên
đã
được
thành
công
vang
dội.
Nói
như
vậy
để
khẳng
định
rằng,
nghệ
sĩ
mà
có
được
một
trong
hai
yếu
tố
kể
trên
đã
là
quý
rồi.
Thế
nhưng,
trong
sân
khấu
cải
lương,
thỉnh
thoảng
cũng
có
một
vài
nghệ
sĩ
được
trời
ban
cho
cả
thinh
và
sắc.
Trong
số
lượng
ít
ỏi
đó
có
nữ
nghệ
sĩ
Lệ
Thủy,
một
nghệ
sĩ
“thinh
sắc
lưỡng
toàn”.
Tài
không
đợi
tuổi
Lệ
Thủy
tên
thật
là
Trần
Thị
Lệ
Thủy,
sinh
ngày
20/05/1948,
là
con
cả
của
một
gia
đình
nông
dân
nghèo
có
8
người
con
tại
làng
Đông
Thành,
huyện
Bình
Minh,
tỉnh
Vĩnh
Long.
Từ
nhỏ
cái
trách
nhiệm
“chị
hai”
(gọi
theo
kiểu
miền
Nam)
đã
sớm
đè
nặng
lên
đôi
vai
Lệ
Thủy.
Do
cuộc
sống
khó
khăn,
nên
từ
nhỏ
cô
đã
theo
gia
đình
bôn
ba
đến
Sài
Gòntìm
kế
mưu
sinh.
Được
phát
hiện
tài
năng
ca
cổ
từ
năm
mới
lên
10
tuổi.
Lúc
đó
các
em
của
Lệ
Thủy
liên
tục
đau
ốm,
gia
đình
nợ
nần
tứ
phía,
Lệ
Thủy
phải
nghỉ
học
đi
làm
việc
để
phụ
giúp
gia
đình
và
quyết
định
xin
đi
theo
gánh
Trâm
Vàng
ở
Biên
Hòa
Đồng
Nai
để
đỡ
gánh
nặng
cho
ba
má.
Cũng
như
nhiều
nghệ
sĩ
thành
danh
khác,
“vai
diễn”
đầu
tiên
của
Lệ
Thủy
trên
sân
khấu
là
ngâm
thơ
hậu
trường,
rồi
có
khi
được
đóng
thế
những
vai
kép
con,
và
rồi
đóng
đào
nhì
trên
sân
khấu
đoàn
Trâm
Vàng...
Sau
đó,
Lệ
Thủy
về
công
ty
Kim
Chung
của
ông
bầu
Trần
Viết
Long,
một
đại
bang
có
đến
7
đoàn
hát.
Tại
sân
khấu
Kim
Chung
Lệ
Thủy
bắt
đầu
tỏa
sáng
với
vai
trò
đào
chính.
Năm
15
tuổi,
tức
năm
1963,
Lệ
Thủy
được
ban
tuyển
chọn
giải
Thanh
Tâm
quyết
định
trao
“Huy
chương
vàng
triển
vọng”.
Thế
nhưng,
sau
đó
ban
tuyển
chọn
mới
biết
Lệ
Thủy
15
tuổi,
chưa
đủ
tuổi
theo
điều
lệ
giải.
Vì
thế,
phải
đợi
đến
năm
1964,
Lệ
Thủy
mới
chính
thức
nhận
giải
thưởng
cao
quý
này
cùng
với
nam
nghệ
sĩ
Thanh
Sang.
Trong
tổng
số
24
nghệ
sĩ
qua
10
đợt
phát
giải
của
giải
Thanh
Tâm,
Lệ
Thủy
là
nghệ
sĩ
có
tuổi
đời
trẻ
nhất
khi
nhận
giải.
Hồ
Bảo
Xuyên-Lệ
Thủy:
đỉnh
cao
của
nghệ
thuật
ca
diễn
Ở
đoàn
Kim
Chung,
Lệ
Thủy
đã
có
dịp
đóng
cặp
với
“kép
đẹp”
Minh
Phụng,
và
đã
tạo
nên
một
đôi
bạn
diễn
được
khán
giả
ái
mộ,
đến
mức
mà
báo
chí
khi
ấy
gọi
họ
là
“Cặp
bão
biển
đang
lên”.
Giai
đoạn
này,
Lệ
Thủy
đã
ghi
đậm
dấu
ấn
trong
lòng
người
mộ
điệu
qua
hàng
loạt
các
vở
cải
lương:
Xin
một
lần
yêu
nhau,
Đêm
lạnh
chùa
hoang,
Kiếp
nào
có
yêu
nhau,
Người
phu
khiêng
kiệu
cưới,
Áo
vũ
cơ
hàn,
Hoa
Mộc
Lan,
Chung
Vô
Diệm,
Mạnh
Lệ
Quân,
Máu
nhuộm
sân
chùa,
Tây
Thi,
Tiêu
Anh
Phụng,
Kiếm
Sĩ
Dơi,
Manh
áo
quê
nghèo,
Mỹ
nhân
và
loạn
tướng…
Trong
các
vở
đó,
có
lẽ
Đêm
lạnh
chùa
hoang
là
vở
mà
Lệ
Thủy
được
khán
giả
nhớ
đến
nhiều
nhất.
Lệ
Thủy
sở
hữu
một
ngoại
hình
có
thể
nói
là
thuộc
hàng
“bắt
mắt
nhất”
trong
số
các
nữ
nghệ
sĩ
cải
lương.
Trên
sân
khấu,
dù
vào
bất
cứ
vai
nào,
ở
Lệ
Thủy
cũng
toát
lên
một
vẻ
đẹp
“chân
phương”
khó
tả,
nói
chung
là
một
vẻ
đẹp
rất
đổi
“Nam
Bộ”.
Có
lẽ
đó
cũng
chính
là
một
ưu
thế
giúp
cô
dễ
dàng
lấy
được
thiện
cảm
của
khán
giả
miền
đồng
bằng
sông
nước
Cửu
Long.
Nói
về
diễn
xuất,
Lệ
Thủy
có
một
phong
cách
diễn
“chân
phương”
tương
đồng
với
vẽ
đẹp
“chân
phương”
của
cô.
Ở
Lệ
Thủy,
ta
thấy
cô
thể
hiện
nhân
vật
lúc
nào
cũng
“rất
vừa
đủ”,
không
bao
giờ
diễn
quá
lố,
mà
cũng
chẳng
khi
nào
có
chuyện
diễn
“không
tới”.
Đây
là
một
cách
diễn
rất
khó,
vì
nó
đòi
hỏi
người
nghệ
sĩ
phải
nghiên
cứu
rất
kỹ
kịch
bản,
nhất
là
phải
là
“chân
tài
thực
học”
thì
mới
có
đủ
khả
năng
ước
lượng
chính
xác
cách
diễn
thế
nào
là
“vừa
đủ”,
bởi
diễn
quá
một
chút
là
“dư”,
mà
diễn
non
một
chút
là
“thiếu”,
trong
khi
trên
sân
khấu
cải
lương,
“thiếu”
hay
“dư”
gì
cũng
đều
không
tốt.
Hơn
nữa,
cách
diễn
“chân
phương”,
nói
cách
khác
là
“có
sao
diễn
vậy”,
góp
phần
đưa
sân
khấu
gần
hơn
với
đời
thường,
gần
hơn
với
khán
giả,
khác
hẳn
với
những
nghệ
sĩ
bị
chi
phối
bởi
trường
phái
“ước
lệ
tượng
trưng”
của
nghệ
thuật
hát
bội.
Cải
Lương
chi
bảo
Bạch
Tuyết
nhận
định:
“Hiếm
ai
cùng
một
lúc
hội
đủ
cả
hai
yếu
tố
ca
-
diễn
nhưng
Lệ
Thuỷ
đã
làm
được,
và
đã
làm
trên
cả
tuyệt
vời”.
Trong
tuồng
Đêm
lạnh
chùa
hoang,
với
vai
quận
chúa
Mông
Cổ
Hồ
Bảo
Xuyên,
Lệ
Thủy
đã
thật
sự
đạt
đến
trình
độ
“ca
trong
diễn,
diễn
trong
ca”.
Cái
vai
quận
chúa
Hồ
Bảo
Xuyên
như
viết
ra
là
chỉ
để
dành
cho
Lệ
Thủy,
bởi
cô
có
một
sắc
diện
“sáng
sân
khấu”,
rất
hợp
làm
một
“lá
ngọc
cành
vàng”,
cô
cũng
có
một
giọng
ca
kim
pha
thổ,
trong
trẻo
mà
có
pha
chút
trầm
lặng,
rất
hợp
để
biểu
hiện
cho
tâm
trạng
“buồn
nhưng
không
thảm”,
“bi
nhưng
không
lụy”,
một
tâm
trạng
bi
hùng
của
nàng
quận
chúa
Mông
Cổ.
Hồ
Bảo
Xuyên
của
Lệ
Thủy
là
một
quận
chúa
Mông
Cổ
uy
nghi,
oai
phong
lẫm
liệt,
lấy
sát
phạt
làm
niềm
vui,
lấy
xâm
lăng
làm
lẽ
sống,
thế
nhưng
đã
bị
tiếng
sét
ái
tình
đánh
trúng
khi
gặp
chàng
trai
đất
Trung
Nguyên
tên
Tần
Lĩnh
Sơn.
Thế
là
tình
yêu
đã
sinh
ra
trong
chiến
tranh
và
loạn
lạc,
giữa
một
kẻ
trong
tư
thế
xâm
lăng,
và
một
người
quyết
chí
bảo
vệ
quê
hương
đất
nước.
Đoạn
hay
nhất
trong
vở
tuồng
này
là
đoạn
cuối,
lúc
Tần
Lĩnh
Sơn
vào
ngôi
chùa
hoang
lấy
được
nửa
bức
mật
đồ,
và
sau
đó
bị
quân
của
quận
chúa
Hồ
Bảo
Xuyên
bao
vây.
Trước
tình
thế
trái
ngang
phải
chọn
lựa
giữa
tình
yêu
và
đất
nước,
Hồ
Bảo
Xuyên
đã
chọn
cách
hy
sinh
thân
mình
để
cứu
người
yêu.
Đến
lúc
đó,
khán
giả
bổng
dưng
rơi
lệ
xót
xa
cho
số
phận
của
nàng
quận
chúa
Hồ
Bảo
Xuyên-Lệ
Thủy
trên
sân
khấu.
Đoạn
ca
diễn
lúc
Hồ
Bảo
Xuyên
và
Tần
Lĩnh
Sơn
uống
rượu
chia
tay
trong
ngôi
chùa
hoang
trước
khi
quyết
đấu
sinh
tử
là
đoạn
ca
diễn
“trên
cả
tuyệt
vời”,
làm
cho
người
xem
được
“sướng
con
mắt”,
còn
người
nghe
thì
được
“đã
cái
lỗ
tai”.
Năm
2007,
trong
kỉ
niệm
45
năm
nghiệp
cầm
ca
tổ
chức
tại
nhà
hát
lớn
thành
phố
Hồ
Chí
Minh,
một
Lệ
Thủy
tuổi
lục
tuần
đã
vào
vai
một
Hồ
Bảo
Xuyên
tuổi
đôi
mươi
một
cách
“ngọt
lùi”.
Nhất
là
đến
đoạn
trong
ngôi
chùa
hoang
nói
trên,
khi
Tần
Lĩnh
Sơn-Minh
Phụng
đang
chợp
mắt
sau
khi
lấy
được
nửa
bức
mật
đồ
mà
không
hề
biết
quân
Mông
Cổ
đến
bao
vây,
Hồ
Bảo
Xuyên-Lệ
Thủy
ca
một
đoạn
Lý
Con
Sáo:
“Sầu
đêm
này
và
ngàn
đêm
nữa
đi,
em
vẫn
yêu
chỉ
yêu
một
mình
anh.
Dù
chia
lìa
tình
đôi
nơi
cách
xa,
ngủ
đi
anh
một
giấc
mơ
thần
tiên”,
rồi
vô
vọng
cổ:
“Ngủ
đi
anh
một
giấc
ngủ
thần
tiên
trên
trăm
miền
hoa
cỏ,
rồi
rạng
sáng
ngày
mai
mình
chia
tay
vĩnh
viễn,
người
ở
đầu
sông
kẻ
cuối
chân
trời”,
nghe
Lệ
Thủy
ca,
xem
Lệ
Thủy
diễn
trên
sân
khấu,
khán
giả
chợt
thốt
lên:
“Đúng
là
gừng
càng
già
càng
cay”,
bởi
ca
ngọt
quá,
mà
diễn
cũng
hay
quá.
Tô
Ánh
Nguyệt-Lệ
Thủy
:
một
hình
mẫu
kinh
điển
của
sân
khấu
cải
lương
Nhìn
lại
những
thập
niên
1960-1970,
Lệ
Thủy
“tung
hoành”
chủ
yếu
trong
các
tuồng
kiếm
hiệp.
Bắt
đầu
những
thập
niên
1980,
cô
mới
thật
sự
chinh
phục
khán
giả
trong
các
vai
xã
hội.
Giai
đoạn
đoạn
này,
tên
tuổi
Lệ
Thủy
được
gắn
nhiều
nhất
với
đoàn
2-84.
Số
là
váo
tháng
Hai
năm
1984,
Lệ
Thủy
cùng
với
một
số
nghệ
sĩ
gạo
cội
như
Diệp
Lang,
Minh
Vương,
Bạch
Tuyết,
Ngọc
Giàu
…
theo
đoàn
nghệ
sĩ
của
nhà
nước
Việt
Nam
đi
biểu
diễn
ở
Tây
Âu,
đây
được
xem
là
lần
đầu
tiên
cải
lương
Việt
Nam
đem
chuông
đi
đánh
xứ
người.
Sau
chuyến
lưu
diễn
ấy,
các
nghệ
sĩ
trong
đoàn
hợp
lại
thành
lập
nên
đoàn
nghệ
thuật
2-84.
Ở
đoàn
2-84,
Lệ
Thủy
để
đời
với
các
vai
diễn
trong
nhiều
vở
cải
lương
đặc
sắc
như
Tô
Ánh
Nguyệt,
Áo
cưới
trước
cổng
chùa,
Kiếp
chồng
chung,
Lôi
vũ
…Trong
các
vở
đó,
vai
diễn
làm
bất
tử
hình
ảnh
Lệ
Thủy
trong
lòng
người
mộ
điệu
là
vai
Nguyệt
trong
tuồng
Tô
Ánh
Nguyệt
của
soạn
giả
Trần
Hữu
Trang.
Từ
đó
đến
nay,
mỗi
khi
nhắc
đến
Lệ
Thủy
là
người
mộ
điệu
cải
lương
lập
tức
nghĩ
trước
tiên
đến
Tô
Ánh
Nguyệt,
mà
mỗi
khi
nhắc
đến
Tô
Ánh
Nguyệt
là
nghĩ
ngay
đến
Lệ
Thủy.
Bàn
về
vai
Nguyệt,
trước
Lệ
Thủy,
đã
có
khá
nhiều
nữ
nghệ
sĩ
bậc
thầy
thủ
diễn
thành
công.
Bởi
vậy,
nhận
đóng
vai
này
quả
thật
là
một
“sự
liều
lĩnh”
đối
với
Lệ
Thủy.
Ấy
thế
mà,
chính
“sự
liều
lĩnh”
kia
đã
thật
sự
làm
bất
tử
tên
tuổi
Lệ
Thủy
trong
nghệ
thuật
sân
khấu
cải
lương.
Cái
hay
của
Lệ
Thủy
là
cô
đã
không
rập
khuôn
theo
các
nghệ
sĩ
đi
trước,
mà
cô
đã
diễn
vai
Nguyệt
đúng
theo
phong
cách
“chân
phương”
của
riêng
mình.
Lệ
Thủy
đã
thành
công
khi
lột
tả
được
một
cô
Nguyệt
“kiên
cường
và
bản
lĩnh”:
kiên
cường
vượt
qua
vòng
lễ
giáo
phong
kiến
để
lựa
chọn
tình
yêu
cho
chính
mình,
kiên
cường
vượt
qua
sóng
gió
cuộc
đời
để
bảo
vệ
bào
thai
là
kết
quả
của
một
mối
tình
thơ
mộng,
kiên
cường
bứt
ruột
giao
con
cho
vợ
chồng
Minh
để
theo
cha
về
nhà
phụng
dưỡng
mẹ
già
đang
lâm
trọng
bệnh,
kiên
cường
tỏ
vẻ
lạnh
nhạt
với
Minh
để
bảo
vệ
hạnh
phúc
cho
người
mình
yêu
và
cho
đứa
con
khờ,
kiên
cường
ôm
đau
khổ
về
quê
sau
khi
bị
chính
đứa
con
ruột
của
mình
tìm
đến
xua
đuổi…
Thế
nhưng,
cô
Nguyệt
của
Lệ
Thủy
không
chỉ
có
kiên
cường,
mà
vẻ
kiên
cường
đó
là
sự
cố
gắng
bên
ngoài,
còn
trong
cõi
lòng
thì
đầy
phong
ba
bão
táp.
Đoạn
thể
hiện
tâm
lí
nhân
vật
hay
nhất
là
đoạn
gần
hai
mươi
năm
sau,
lúc
ấy
Minh
đã
có
vợ,
con
của
Minh
và
Nguyệt
là
Tâm
thì
được
vợ
chồng
Minh
nuôi
dưỡng,
còn
Nguyệt
thì
âm
thầm
tìm
đến
sống
gần
đó
để
được
phần
nào
có
cảm
giác
gần
con.
Thế
là
Minh
thường
xuyên
lui
tới
thăm
Nguyệt
và
van
nài
Nguyệt
nối
lại
tình
xưa.
Nguyệt
kiên
quyết
không
chấp
nhận
vì
hạnh
phúc
của
Minh
và
của
con
mình.
Bởi
vậy,
trước
mặt
Minh,
Nguyệt
phải
tỏ
ra
lạnh
lùng,
kiên
quyết
từ
chối,
thậm
chí
còn
nặng
lời
xua
đuổi
Minh,
ấy
thế
nhưng
trong
lòng
thì
cô
còn
yêu
Minh
nhiều
lắm.
Hay
lắm
đoạn
Minh-Minh
Vương
van
nài
Nguyệt-Lệ
Thủy
nối
lại
tình
xưa,
Nguyệt-Lệ
Thủy
nói:
“Chúng
ta
hãy
dành
tất
cả
những
gì
tốt
đẹp
nhất
cho
con”.
Minh-Minh
Vương
hỏi
khó:
“Còn
chúng
ta
?”,
thì
Nguyệt-Lệ
Thủy
trả
lời:
“Hãy
sống
như
loài
chim
Uyên
Ương
khi
thời
tiết
đổi
thay,
một
con
chẳng
may
bị
cuốn
vào
sóng
dữ,
thì
con
còn
lại
một
mình
đương
sức
gió,
vẫn
tháng
tháng
tháng
ngày
ngày
gào
to
trên
sóng
dữ”.
Minh-Minh
Vương
chỉ
vào
cập
gối
thêu
chim
Uyên
Ương
hỏi
tiếp:
“Nhưng
đã
từ
lâu
rồi
em….?!”,
trong
dụng
có
ý
nhắc
Nguyệt
rằng:
“Em
vẫn
còn
yêu
anh,
và
bằng
chứng
là
cặp
gối
thêu
chim
Uyên
Ương
này”,
thì
Nguyệt-Lệ
Thủy
trả
lời:
“Giấc
xuân
mộng
từ
lâu
cam
trống
trãi.
Tình
gối
chăn
nay
vẫn
chịu
lạnh
lùng.
Nghĩa
mẹ
con
xin
có
lúc
được
trùng
phùng.
Duyên
can
lệ…”.
Đến
chữ
“Duyên
can
lệ”,
Nguyệt-Lệ
Thủy
đưa
mắt
nhìn
Minh-Minh
Vương
nói
tiếp:
“…không
thể
nào
tái
hợp”.
Ánh
mắt
của
Nguyệt-Lệ
Thủy
khi
ấy
thể
hiện
sự
dứt
khoát
cho
người
kia
thấy
rõ
rằng:
câu
chuyện
bắt
buộc
phải
giải
quyết
như
vậy,
và
không
còn
cách
nào
khác.
Ấy
thế
nhưng,
trong
sự
dứt
khoát
đó,
Lệ
Thủy
lại
để
trong
ánh
mắt
cô
Nguyệt
đượm
nét
u
buồn
đong
đầy
tình
cảm,
một
nổi
u
buồn
sâu
thẳm
miên
man,
một
ánh
mắt
không
phải
chỉ
để
thể
hiện
sự
quyết
liệt
từ
chối
của
mình,
mà
còn
để
cho
người
kia
biết
rằng:
“Em
còn
yêu
anh
lắm,
bởi
thế
đến
nay
vẫn
không
bước
thêm
bước
nữa.
Nhưng
thôi
anh
ơi,
chúng
ta
hãy
sống
vì
hạnh
phúc
của
con.
Anh
hãy
hiểu
và
xẻ
chia
với
em
điều
đó”.
Cái
ánh
mắt
dứt
khoát
nhưng
tình
cảm
để
tìm
kiếm
sự
cảm
thông
kia
thật
sự
đã
khẳng
định
trình
độ
diễn
xuất
thượng
thừa
của
Lệ
thủy,
nó
đã
“ám
ảnh”
người
xem
suốt
suốt
mấy
chục
năm
qua.
Rồi
đến
khi
Minh
từ
biệt
ra
về,
lúc
ấy
Minh-Minh
Vương-
đang
bệnh
nặng,
nên
phải
lê
bước
rất
nặng
nề
và
cất
tiếng
ho,
ở
sau
lưng,
Nguyệt-Lệ
Thủy
ứa
nước
mắt
len
lén
nhìn
theo,
khi
thấy
Minh-Minh
Vương
toan
ngoái
đầu
lại,
lập
tức
Nguyệt-Lệ
Thủy
cuối
đầu
làm
mặt
lạnh
trong
nước
mắt,
rồi
khi
Minh-Minh
Vương
vừa
bước
chân
đi
khỏi,
thì
Nguyệt-Lệ
Thủy
mới
khóc
òa
lên.
Có
hay
đâu
khi
giọt
nước
mắt
của
Nguyệt-Lệ
Thủy
đang
âm
thầm
trên
sân
khấu,
thì
khán
giả
dưới
kia
chợt
thấy
con
tim
khó
thở,
đến
khi
cô
Nguyệt-Lệ
Thủy
khóc
òa,
thì
cũng
là
lúc
nước
mắt
khán
giả
bỗng
tuôn
trào
lai
láng.
Đoạn
này
tuy
rất
đời
thường,
diễn
biến
tâm
trạng
không
mấy
phức
tạp,
nhưng
lại
rất
khó
diễn,
bởi
như
người
ta
thường
nói:
“Vẽ
ma
thì
dễ
chứ
vẽ
người
thì
khó”,
do
đó
diễn
xuất
một
cái
gì
càng
gần
với
đời
thường
chừng
nào
thì
càng
khó
diễn
chừng
ấy,
diễn
dư
hay
thiếu
một
chút
là
bị
phát
hiện
ngay.
Trong
vai
Tô
Ánh
Nguyệt,
quả
thật
là
Lệ
Thủy
đã
diễn
rất
“vừa
đủ”,
một
sự
vừa
đủ
chuẩn
mực,
diễn
quá
một
chút
nữa
cũng
không
được,
mà
diễn
non
một
chút
nữa
cũng
không
hay.
Cuối
năm
2011,
Lệ
Thủy
đã
được
tái
ngộ
khán
giả
Paris
sau
27
năm
kể
từ
khi
cải
lương
Việt
Nam
đem
chuông
đi
đánh
xứ
người
vào
năm
1984.
Xem
Lệ
Thủy
diễn
lại
vai
Tô
Ánh
Nguyệt
trên
sân
khấu,
khán
giả
mới
chợt
nhận
ra
rằng:
không
còn
ranh
giới
giữa
nhân
vật
và
nghệ
sĩ
nữa.
Lệ
Thủy
đã
thật
sự
biến
thành
cô
Nguyệt,
và
cô
Nguyệt
cũng
đã
thật
sự
“nhập”
vào
Lệ
Thủy.
Tất
cả
những
động
tác
trên
sân
khấu,
từ
nói,
ca,
đi,
đứng,
khóc,
cười
của
cô
Nguyệt-Lệ
Thủy
khi
ấy
đã
trở
thành
một
cái
gì
rất
tự
nhiên,
rất
vừa
đủ,
rất
chân
phương
và
rất
Lệ
Thủy.
Có
thể
nói
rằng,
Lệ
Thủy
đã
tạo
nên
một
hình
mẫu
cho
nhân
vật
Tô
Ánh
Nguyệt.
Thành
công
của
Lệ
Thủy
trong
vai
diễn
này
lớn
đến
mức
mà
đã
có
khuynh
hướng
làm
lu
mờ
các
thế
hệ
sau
khi
diễn
vai
Tô
Ánh
Nguyệt,
bởi
khi
nghe
nói
Tô
Ánh
Nguyệt,
là
người
mộ
điệu
nghĩ
ngay
đến
Lệ
Thủy.
Giọng
ca
Lệ
Thủy:
Vang
mãi
tiếng
chuông
ngân
Cái
duyên
sân
khấu
của
Lệ
Thủy
rất
lớn,
bởi
vậy
dường
như
vừa
xuất
hiện
trên
sân
khấu
là
khán
giả
đã
“cảm
thấy
thương
rồi”.
Bên
cạnh
đó,
giọng
ca
của
Lệ
Thủy
cũng
có
cái
duyên
đặc
biệt
khó
tả,
một
giọng
ca
cũng
được
xem
là
“vừa
nghe
đã
thấy
thương
rồi”.
Đi
vào
kỹ
thuật
một
chút
thì
ta
thấy
rằng
giọng
ca
Lệ
Thủy
sang
sảng,
trong
như
pha
lê,
nhưng
lại
có
pha
một
chút
trầm
buồn.
Đó
là
“giọng
kim
pha
thổ”,
lảnh
lót,
sâu
lắng,
rất
ngọt,
rất
giòn.
Ở
ngoài
đời,
giọng
nói
Lệ
Thủy
nghe
khàn
khàn,
thế
mà
khi
lên
sân
khấu
bổng
nhiên
trở
nên
trong
trẻo,
lảnh
lót.
Trong
một
lần
diễn
chung
với
cô,
trước
khi
lên
sân
khấu,
thấy
giọng
cô
khàn
khàn
nên
tôi
hơi
lo
vì
sợ
một
chốc
lên
sân
khấu
cô
sẽ
không
hát
được,
nhưng
cô
cười
và
cho
tôi
biết,
giọng
cô
ngoài
đời
và
trên
sân
khấu
xưa
nay
rất
khác
nhau,
ngoài
đời
giọng
cô
khàn
khàn,
có
khi
bị
bệnh
lại
càng
khàn
hơn,
nhưng
mà
lạ
thay,
khi
lên
sân
khấu
thì
lập
tức
cái
giọng
khàn
khàn
ấy
trở
nên
trong
trẻo
ngọt
ngào.
Và
quả
đúng
như
vậy,
lần
ấy
khi
cô
lên
sân
khấu,
tôi
chợt
giật
mình
vì
cái
giọng
khàn
khàn
đã
biến
đi
đâu
mất,
mà
thay
vào
đó
là
một
giọng
ca
lảnh
lót
đến
khó
tả.
Đúng
thật
là
“lạ
thay”,
cái
“lạ
thay
này”
này
chính
là
“cái
duyên
sân
khấu”
của
Lệ
Thủy.
Giọng
Lệ
Thủy
rất
tương
đồng
với
giọng
hát
của
nữ
danh
ca
Thanh
Hương:
cả
hai
đều
được
cho
là
có
“giọng
kim
pha
thổ”,
ngoài
ra
cả
hai
điều
cùng
một
trường
phái
“ca
chân
phương”,
nói
nôm
na
là
“có
sao
ca
vậy”.
Mà
“chân
phương”
lại
chính
là
cái
hồn
của
bài
vọng
cổ,
bởi
vậy
mà
hai
cô
đều
đã
để
đời
với
nhiều
bài
vọng
cổ
đặc
sắc.
Lệ
Thủy
từng
tâm
sự
là
cô
thần
tượng
giọng
ca
Thanh
Hương,
người
thuộc
hàng
tiền
bối
của
cô,
bởi
khi
Lệ
Thủy
mới
chập
chững
vào
nghề
thì
giọng
ca
Thanh
Hương
đã
nổi
đình
nổi
đám
trong
làng
cải
lương
Nam
Bộ.
Lệ
Thủy
cho
biết:
“Nghệ
sĩ
trẻ
thường
hay
nghe
rồi
bắt
chước
cách
luyến
láy,
sắp
xếp
nhịp
của
nghệ
sĩ
đi
trước
nhưng
nó
chỉ
là
cái
nền,
còn
phát
triển
theo
hướng
nào
phải
tùy
vào
nỗ
lực
của
mình”.
Và
Lệ
Thủy
đã
làm
được
điều
đó:
cũng
là
lối
ca
chân
phương,
nhưng
với
sự
rèn
luyện
không
ngừng,
giọng
ca
Lệ
Thủy
đã
dần
thoát
khỏi
ảnh
hưởng
của
Thanh
Hương
ở
cái
gọi
là
“hoa
lá”,
tức
cách
nhấn
nhá,
luyến
láy,
xấp
chữ
đã
tạo
thành
nét
riêng
của
Lệ
Thủy.
Thậm
chí
đến
giọng
ca,
dù
là
cùng
giọng
“kim
pha
thổ”,
nhưng
Lệ
Thủy
đã
tạo
được
một
giọng
ca
rất
riêng
mà
hễ
vừa
cất
lên
thì
người
nghe
biết
ngay
là
Lệ
Thủy,
không
thể
nhầm
lẫn
vào
đâu
được.
Lệ
Thủy
đã
khẳng
định
mình
thành
công
đến
mức
mà
đã
được
nhiều
nhà
chuyên
môn
xếp
cô
thành
một
trường
phái
ca
cổ
riêng:
“Trường
phái
Lệ
Thủy”,
tức
tách
biệt
hẳn
với
“Trường
phái
Thanh
Hương”.
Giọng
ca
Lệ
Thủy
lảnh
lót,
trong
trẻo
lại
có
chút
trầm
buồn
nhưng
không
quá
bi
lụy,
giống
như
tiếng
chuông
chiều
ngân
nga
trong
gió,
nó
vang
rất
xa
nhưng
lại
được
truyền
đi
một
cách
nhè
nhẹ
mơ
hồ,
nó
không
chói
tai
khi
nghe
gần
mà
rất
rõ
khi
ở
xa,
nó
không
quá
ồn
ào
nhưng
lại
đầy
đủ
âm
điệu
và
hơi
thở.
Bởi
vậy
mà
người
nghe
có
được
cái
cảm
giác
“nhẹ
nhàng”
để
rồi
mới
nghe
xong
lại
muốn
tiếp
tục
nghe
nữa,
để
rồi
thấy
tiếng
ca
duyên
dáng,
chân
tình
biết
bao
nhiêu,
để
rồi
nhắm
mắt
lại
thả
hồn
theo
tiếng
ca
như
thả
hồn
nương
theo
tiếng
chuông
chiều
ngân
nga
trong
cơn
gió
nhẹ
lướt
trên
con
sóng
nhấp
nhô
của
những
dòng
sông
hiền
hòa
miền
Châu
Thổ
Cửu
Long.
Đó
chính
là
nét
độc
đáo
của
giọng
ca
Lệ
Thủy,
một
giọng
ca
mà
người
mộ
điệu
cải
lương
không
chỉ
còn
ái
mộ
ở
mức
thông
thường,
mà
đã
lên
đến
mức
“yêu
thương
say
đắm”.
Khán
giả
mãi
không
bao
giờ
quên
giọng
ca
Lệ
Thủy
qua
hàng
loạt
các
bài
vọng
cổ
trứ
danh:
Cô
gái
bán
đèn
hoa
giấy,
Tiền
và
lá,
Anh
đi
xa
cách
quê
nghèo,
Bạch
Thu
hà,
Chàng
là
ai,
Quán
gấm
đầu
làng
với
Minh
Cảnh,
Chuyện
tình
Lan
và
Điệp
với
Trọng
Hữu,
Bánh
Bông
Lan
với
Minh
Vương,
Dòng
sông
quê
em
với
Thanh
Tuấn,
Con
gái
của
mẹ
với
Phượng
Liên…
Năm
2007,
trong
Live
Show
45
năm
nghiệp
cầm
ca
của
mình,
Lệ
Thủy
đã
cùng
hai
giọng
ca
nữ
quí
báu
khác
còn
sót
lại
của
sân
khấu
cải
lương
là
Sầu
nữ
Út
Bạch
Lan
và
Cải
lương
chi
bảo
Bạch
Tuyết
khẳng
định
một
lần
nữa
nét
đẹp
của
bản
vọng
cổ
khi
cả
ba
ru
hồn
khán
giả
qua
bài
Tình
quê
hương
của
nghệ
sĩ
Bạch
Tuyết
dưới
bút
danh
là
Nguyễn
Thị
Khánh
An.
Nghệ
sĩ
được
sự
yêu
mến
ngoại
hạng
của
khán
giả
Đóng
góp
nghệ
thuật
của
nghệ
sĩ
Lệ
Thủy
đã
được
ghi
nhận
qua
nhiều
giải
thưởng
cao
quý:Giải
Thanh
Tâm
năm
1964,
Giải
Kim
Khánh
năm
1974,
“Danh
ca
vọng
cổ
được
yêu
thích
nhất”
năm
1989
do
báo
Sân
khấu
TP.HCM
tổ
chức,
Danh
hiệu
nghệ
sĩ
ưu
tú
năm
1993,
“Kỷ
lục
Guiness
Việt
Nam
2008
cho
Đôi
bạn
diễn
lâu
năm
và
ưng
ý
nhất”
(cùng
với
nghệ
sĩ
Minh
Vương),
Giải
Mai
vàng
cho
hạng
mục
“Nữ
diễn
viên
cải
lương
được
yêu
thích
nhất”
do
báo
Người
Lao
Động
tổ
chức
năm
2008và
2009,
Danh
hiệu
nghệ
sĩ
nhân
dân
năm
2012.
Thế
nhưng,
còn
một
giải
thưởng
không
thể
không
nhắc
đến,
một
giải
thưởng
cực
kì
quý
giá
mà
bất
kì
nghệ
sĩ
nào
cũng
mơ
ước,
đó
là
sự
ái
mộ
đặc
biệt
của
khán
giả
Nam
Bộ
dành
cho
nữ
nghệ
sĩ
Lệ
Thủy,
một
sự
ái
mộ
“chưa
từng
thấy”.
Từ
những
năm
1990,
Lệ
Thủy
là
một
trong
những
nghệ
sĩ
thuộc
hàng
"cây
đa
cây
đề"
về
lưu
diễn
ở
các
tỉnh
Miền
Nam,
đem
lời
ca
tiếng
hát
đến
cho
đồng
bào
vùng
sâu
vùng
xa.
Những
câu
chuyện
“thật
như
đùa”
về
sự
ái
mộ
“không
thể
tưởng
nổi”
của
khán
giả
dành
cho
Lệ
Thủy
cũng
bắt
đầu
xuất
hiện.
Còn
nhớ
ngày
ấy
lần
đầu
tiên
Lệ
Thủy
về
biểu
diễn
ở
quê
tôi,
một
xã
vùng
sâu
thuộc
Miền
Tây
Nam
bộ,
vì
xã
không
có
rạp
hát
nên
nhà
tổ
chức
phải
dùng
lưới
sắt
và
vải
bao
thành
một
vòng
tạo
ra
“rạp
hát
ngàn
sao”
trước
sân
ủy
ban
xã.
Nghe
nói
5
giờ
chiều
là
Lệ
Thủy
sẽ
lên
đến
“rạp”,
thế
là
bà
con
không
kể
già,
trẻ,
lớn,
bé
từ
3
giờ
chiều
đã
đứng
chật
cứng
cổng
“rạp”
để
chờ
Lệ
Thủy.
Cuối
cùng,
khoảng
5
giờ
xe
hơi
chở
Lệ
Thủy
đã
đến
trước
cổng
“rạp”,
nhưng
không
cách
nào
chạy
vào
trong
được
vì
bà
con
hò
hét
đòi
gặp
Lệ
Thủy.
Không
hiểu
sao
lúc
đó
trời
bắt
đầu
mưa
như
trút
nước
như
là
để
“giải
vây”
cho
Lệ
Thủy,
thế
nhưng
lạ
thay,
lạ
kỳ
thay:
bà
con
không
ai
chạy
đi
tránh
mưa,
tất
cả
vẫn
“bám
trụ
vị
trí
chiến
đấu”
mặc
cho
cơn
mưa
xối
xả.
Đến
mức
mà
Lệ
Thủy
phải
cầm
dù
(ô)
bước
ra
khỏi
xe
chào
bà
con,
thế
là
bà
con
mới
“tha”
cho
xe
chở
Lệ
Thủy
vào.
Khi
một
nghệ
sĩ
lớn
về
quê
biểu
diễn
thì
lúc
nào
cũng
có
phần
giao
lưu
trực
tiếp
với
khán
giả:
nghệ
sĩ
đứng
trên
sân
khấu
nói
chuyện
với
khán
giả,
khán
giả
được
phát
micro
để
tâm
tình
công
khai
với
nghệ
sĩ
trên
sân
khấu.
Qua
những
lần
giao
lưu
như
thế,
mới
càng
thấy
rõ
cái
lòng
ái
mộ
không
thể
tưởng
nổi
của
khán
giả
nông
thôn
dành
cho
Lệ
Thủy.
Nào
là
chuyện
một
bà
lão
cầm
micro
tâm
sự:
“Mỗi
ngày
đi
mần
(làm)
về,
nghe
tiếng
con
ca
là
má
hết
mệt
liền”,
rồi
chuyện
có
một
nữ
khán
giả
tuổi
gần
ngũ
tuần,
đứng
dậy
cầm
micro
hỏi
tuổi
Lệ
Thủy,
khi
nghe
Lệ
Thủy
cho
biết
tuổi,
khán
giả
nữ
nọ
tỉnh
bơ:
“Vậy
là
con
lớn
hơn
má
hai
tuổi”.
Thế
đấy,
trong
lòng
bà
con
mê
cải
lương
Nam
Bộ,
Lệ
Thủy
vẫn
mãi
trẻ
trung
như
giọng
ca
lảnh
lót
ngọt
ngào
của
cô
vậy.
Rồi
đến
chuyện
có
một
cụ
bà
mới
2
giờ
chiều
đã
lụ
khụ
mang
chiếu
đến
”rạp
ngàn
sao”
chọn
chỗ
gần
sân
khấu
để
trải
chiếu
ngồi
chờ
đến
tối
khi
Lệ
Thủy
diễn
thì
được
nhìn
rõ
mặt
Lệ
Thủy
hơn.
Đến
khi
vãn
hát,
cụ
bà
về
nhà
mới
phát
hiện…
ăn
trộm
đã
vét
hết
lu
gạo
rồi.
Còn
nghe
kể
có
cụ
bà
khi
hấp
hối
còn
kêu
con
cháu
bật
máy
cassette
để
nghe
tiếng
hát
Lệ
Thủy.
Có
khi
trên
đường
đến
chỗ
hát,
đoàn
xe
chở
Lệ
Thủy
phải
qua
phà.
Thế
là
nhiều
lần
xe
chở
Lệ
Thủy
lên
phà
rồi,
phà
chạy
đến
giữa
kênh
đào
thì
không
tài
nào
cặp
bến
bên
kia
được:
vì
bà
con
hay
tin
tập
trung
dầy
đặc
cả
hai
bên
bờ
kênh.
Còn
việc
về
Miền
Tây
mà
thấy
có
những
gia
đình
vì
quá
yêu
Lệ
Thủy
nên
đặt
tên
cho
con
gái
mình
là
Lệ
Thủy
cũng
là
chuyện
rất
phổ
biến…và
còn
nhiều
câu
chuyện
“thật
như
đùa”
như
vậy
lắm,
đúng
là
“kể
đến
sáng
cũng
chưa
hết”…
Trong
lịch
sử
cải
lương
Nam
Bộ
từ
gần
một
thế
kỉ
nay,
thật
sự
khó
mà
tìm
được
một
nghệ
sĩ
được
khán
giả
nông
thôn
ái
mộ
đến
mức
như
thế.
Giải
thích
nguyên
nhân
thì
có
nhiều
lắm:
có
người
cho
rằng
do
giọng
ca
Lệ
Thủy
chân
phương,
mộc
mạc
nên
dễ
tiếp
cận
người
nông
thôn,
có
người
lại
bảo
là
do
Lệ
Thủy
có
một
vẻ
đẹp
rất
bình
dị,
lại
có
một
lối
sống
bình
dân
nên
được
bà
con
thương
mến
…
Ai
cũng
có
lý
riêng
của
mình,
nhưng
để
giải
thích
đến
nơi
đến
chốn
một
sự
ái
mộ
“đến
khó
hiểu”
như
vậy
thì
thật
là
không
thể,
chỉ
còn
biết
bảo
rằng:
“cái
duyên
sân
khấu”
của
Lệ
Thủy
quá
lớn,
cô
đã
được
tổ
nghiệp
ưu
ái
và
đã
đền
đáp
cho
sự
rèn
luyện,
cống
hiến
của
cô
bằng
phần
thưởng
cao
quý
đó,
một
phần
thưởng
mà
“có
vàng
cũng
không
mua
được”.
Lê
Phước(theo
RFI)
-
Ý kiến bạn đọc