1.
NSND
Phạm
Văn
Khoa
là
bậc
trưởng
lão
của
điện
ảnh
Việt
Nam.
Những
bộ
phim
“Kén
rể”,
“Khôn
dại”,
“Chị
Dậu”,
“Làng
Vũ
Đại
ngày
ấy”,
“Sẽ
đến
một
tình
yêu”
là
một
phần
không
thể
thiếu
làm
nên
danh
tiếng
của
ông.
Thuở
còn
trẻ,
niềm
đam
mê
nghệ
thuật
đã
cháy
bỏng
trong
tâm
hồn,
để
ông
thường
xuyên
tham
gia
các
đoàn
kịch:
Thế
Lữ,
Hoa
Lan,
rồi
có
mặt
trong
Đoàn
kịch
Chiến
thắng
cùng
Thế
Lữ,
Thanh
Tịnh,
Đoàn
Phú
Tứ,
Song
Kim
v.v…
phục
vụ
bộ
đội
trong
kháng
chiến
chống
Pháp.
Ở
chiến
khu,
ông
làm
chủ
nhiệm
báo
Cờ
giải
phóng,
rồi
làm
Báo
Sự
thật
v.v…
Đạo
diễn
Phạm
Văn
Khoa
là
một
trong
những
nghệ
sĩ
lão
thành
đặt
viên
gạch
nền
móng
cho
điện
ảnh
cách
mạng
Việt
Nam.
Năm
1955,
ông
cùng
đạo
diễn
danh
tiếng
Roman
Karmen
(Liên
Xô)
thực
hiện
bộ
phim
tài
liệu
“Việt
Nam”
-
cuốn
biên
niên
sử
về
cuộc
kháng
chiến
chống
Pháp
của
dân
tộc.
Khi
ngành
điện
ảnh
thành
lập,
ông
trở
thành
Giám
đốc
Doanh
nghiệp
Quốc
gia
Chiếu
bóng
và
Chụp
ảnh
đầu
tiên,
kiêm
TBT
báo
Điện
ảnh,
trước
khi
là
Giám
đốc
Xưởng
Phim
Việt
Nam.
Năm
1958,
sự
nghiệp
đạo
diễn
phim
truyện
của
ông
bắt
đầu
bằng
bộ
phim
“Vườn
cam”,
phản
ánh
chân
thực
vấn
đề
xã
hội
khi
đó
là
phong
trào
hợp
tác
xã
nông
nghiệp.
Ngay
sau
đấy,
ông
tiếp
tục
gây
tiếng
vang
với
bộ
ba
phim
về
đề
tài
chiến
tranh:
“Lửa
trung
tuyến”,
“Lửa
rừng”
và
“Lửa”,
trong
đó,
“Lửa
trung
tuyến”
được
trao
Bằng
khen
tại
LHPQT
Matxcơva
và
Bông
sen
bạc
tại
LHPVN
1973.
Với
những
bộ
phim
hài
hước,
hóm
hỉnh,
phê
phán
tệ
tham
nhũng,
tiêu
cực
của
một
bộ
phận
cán
bộ:
“Sau
cơn
bão”,
“Kén
rể”,
“Khôn
dại”
v.v...,
ông
đã
trở
thành
người
khơi
nguồn
thành
công
dòng
phim
hài
Việt
Nam.
Đặc
biệt,
hai
tác
phẩm
nổi
tiếng
trong
sự
nghiệp
điện
ảnh
của
ông,
cũng
là
những
dấu
mốc
của
điện
ảnh
Việt
Nam:
“Chị
Dậu”
giành
Huy
chương
vàng
tại
LHPQT
Nantes
tại
Pháp
và
“Làng
Vũ
Đại
ngày
ấy”
đã
có
mặt
tham
dự
tại
LHPQT
ở
Hawaii.
Năm
1984,
ông
nhận
danh
hiệu
Nghệ
sĩ
nhân
dân
đợt
1
(1984)
và
Huân
chương
Độc
lập
hạng
3
năm
1985.
Với
3
tác
phẩm
đã
giành
các
giải
thưởng,
đạo
diễn
Phạm
Văn
Khoa
đã
được
trao
Giải
thưởng
Nhà
nước
năm
2007.
 |
|
Đạo
diễn
Phạm
Văn
Khoa
với
các
diễn
viên
trong
phim
Làng
Vũ
Đại
ngày
ấy. |
Bằng
những
tác
phẩm
đặc
sắc
của
mình,
đạo
diễn
Phạm
Văn
Khoa
đã
ghi
vào
nền
điện
ảnh
cách
mạng
Việt
Nam
một
dấu
ấn
riêng
sừng
sững
không
thể
phủ
nhận.
Đó
là
phong
cách
làm
phim
chân
thật,
gần
gũi,
phản
ánh
sâu
đậm
hiện
thực
cuộc
sống
bằng
tâm
huyết,
bằng
lao
động
nghệ
thuật
hết
mình
và
giàu
sáng
tạo,
cẩn
trọng
trong
từng
hình
ảnh,
từng
chi
tiết
với
cách
tiếp
cận
khán
giả
thật
gần
gũi.
Đạo
diễn,
NSƯT
Nhuệ
Giang
chính
là
kết
quả
tình
yêu
của
người
đạo
diễn
lớn
Phạm
Văn
Khoa
với
nghệ
sĩ
sân
khấu
Bích
Châu.
Môi
trường
nghệ
thuật
ăm
ắp
ấy
đã
nuôi
dưỡng
niềm
đam
mê
điện
ảnh
một
cách
thầm
lặng
và
mạnh
mẽ
trong
Nhuệ
Giang.
Để
rồi,
xứng
đáng
là
ái
nữ
của
một
đạo
diễn
tên
tuổi,
chị
đã
có
một
“gia
tài”
đủ
để
tự
hào:
phim
“Thung
lũng
hoang
vắng”
(Bông
sen
bạc
tại
LHPVN;
giải
B
của
Hội
Điện
ảnh
Việt
Nam
và
giải
Fipresci
tại
LHPQT
Melbourne),
“Tâm
hồn
mẹ”
(giải
thưởng
của
BGK
tại
LHPVN
17
và
diễn
viên
Phùng
Hoa
Hoài
Linh
giành
giải
Nữ
diễn
viên
chính
xuất
sắc
tại
LHPQT
Dubai),
“Khoan
nói
lời
yêu
thương”
(Cánh
diều
vàng
cho
phim;
giải
Đạo
diễn
phim
truyện
video
xuất
sắc
và
giải
Nam
diễn
viên
chính
xuất
sắc
thể
loại
phim
truyện
video
v.v…),
“Bỏ
trốn”
(giải
B
của
Hội
Điện
ảnh),
“Lạc
lối”
(Cánh
diều
bạc)
v.v…
Bộ
phim
nào
của
đạo
diễn
Nhuệ
Giang
cũng
đều
chan
chứa
tâm
hồn
nhân
hậu
với
cuộc
sống.
Chị
luôn
đi
sâu
phản
ánh
những
thân
phận
nhỏ
bé,
hay
chịu
nhiều
tổn
thương
của
xã
hội
và
làm
sáng
rõ
tâm
hồn
đẹp
đẽ
của
họ,
từ
đó,
cất
lên
tiếng
nói
yêu
thương,
mong
muốn
mọi
người
cùng
cảm
thông,
chia
sẻ.
Những
bộ
phim
chị
làm
hợp
tác
với
chồng,
NSND
Nguyễn
Thanh
Vân,
cũng
đều
rất
thành
công.
Họ
đã
cùng
nhau
làm
gần
10
bộ
phim.
Khi
anh
làm
đạo
diễn
thì
chị
làm
phó
cho
anh
và
ngược
lại.
Chị
từng
lăn
lộn
với
nắng
cát
miền
Trung
khi
anh
làm
phim
“Đời
cát”.
Cũng
nhờ
“con
mắt
xanh”
của
chị,
anh
mới
có
được
diễn
viên
Mai
Hoa
góp
phần
quan
trọng
cho
thành
công
của
phim.
2.
Bố
chồng
của
NSƯT
Nhuệ
Giang,
chính
là
NSND
Hải
Ninh,
một
tên
tuổi
đã
gắn
với
lịch
sử
điện
ảnh
cách
mạng
Việt
Nam
với
những
tác
phẩm
mãi
mãi
là
niềm
tự
hào:
“Vĩ
tuyến
17
ngày
và
đêm”
(giải
thưởng
của
Hội
đồng
hoà
bình
thế
giới,
Giải
quốc
tế
tại
LHPQT
Maxcơva;
“Em
bé
Hà
Nội”
(Giải
quốc
tế
và
Giải
thưởng
đặc
biệt
của
Hội
đồng
Giám
khảo
LHPQT);
“Mối
tình
đầu”
(Giải
nhất
UNESCO
và
Giải
bạc
LHPQT
tân
hiện
thực);
“Thành
phố
lúc
rạng
đông”
giành
Giải
thưởng
lớn
Bồ
câu
vàng
tại
LHPQT
Lai-xich
v.v…
Mỗi
bộ
phim
của
ông
đều
là
những
tác
phẩm
sử
thi
hoành
tráng,
phản
ánh
chân
thực
nhiều
vấn
đề
trọng
đại
của
lịch
sử
dân
tộc
trong
giai
đoạn
đất
nước
còn
chia
cắt.
Không
chỉ
thế,
các
tác
phẩm
của
ông
còn
mang
tầm
tư
tưởng
lớn
lao,
là
tiếng
nói
của
nhân
loại
và
cả
giá
trị
lịch
sử.
 |
|
Cha
con
NSND
Hải
Ninh
-
NSND
Thanh
Vân. |
Suốt
những
năm
tháng
chiến
tranh
chống
Mỹ,
NSND
Hải
Ninh
đã
lăn
lộn
dưới
đạn
bom
ở
các
vùng
tuyến
lửa
miền
Trung,
để
thâm
nhập
thực
tế
và
đó
chính
là
chất
liệu
để
ông
tạo
nên
những
tác
phẩm
điện
ảnh
lớn.
Tôi
từng
hỏi
ông
lúc
sinh
thời,
bí
quyết
nào
để
làm
nên
những
bộ
phim
mang
giá
trị
vượt
thời
gian
ấy,
người
nghệ
sĩ
lớn
đã
chia
sẻ:
“Đó
là
lòng
yêu
nước
luôn
ngời
sáng
trong
tôi,
là
sự
đam
mê
nghề
nghiệp
đến
khắc
khoải,
dám
hy
sinh
và
chấp
nhận
lao
động
cực
nhọc
để
sáng
tạo,
đi
đến
thành
công.
Đó
cũng
là
sự
trau
đồi
không
ngừng
kiến
thức,
học
vấn
để
làm
cơ
sở
sáng
tạo
nghệ
thuật
và
là
vốn
sống
phong
phú
để
phản
ánh
chân
thật
hiện
thực”.
“Người
cha
suốt
đời
nồng
nhiệt
với
điện
ảnh,
thành
thật
với
điện
ảnh
và
hết
mình
với
điện
ảnh”
đã
có
ảnh
hưởng
lớn
đến
con
trai,
NSND
Nguyễn
Thanh
Vân.
Do
điều
kiện
chiến
tranh,
cậu
bé
Vân
phải
theo
cha
đi
khắp
mọi
miền
trong
các
chuyến
làm
phim
và
đã
hiểu
được
những
vất
vả,
nhọc
nhằn,
cũng
như
niềm
vui,
hạnh
phúc
của
nghề
đạo
diễn,
để
mà
yêu
và
dám
dấn
thân.
Nhưng
đạo
diễn
Nguyễn
Thanh
Vân
luôn
tìm
cho
mình
con
đường
đi
riêng,
bằng
sức
sáng
tạo
bứt
phá
của
thế
hệ
nghệ
sĩ
điện
ảnh
thứ
2.
Nếu
cha
anh,
NSND
Hải
Ninh
thiên
về
những
bộ
phim
chứa
đựng
các
vấn
đề
lịch
sử
đất
nước
với
chất
anh
hùng
ca,
thì
NSND
Nguyễn
Thanh
Vân
lại
đi
sâu
khai
thác
các
góc
khuất
của
thân
phận
con
người
với
âm
hưởng
trầm
buồn.
Những
rung
cảm
cá
nhân
luôn
thôi
thúc
anh
đốt
mình
cùng
nghệ
thuật:
“Với
tôi,
điều
quan
trọng
nhất
để
làm
phim
là
phải
thực
sự
rung
cảm
với
câu
chuyện,
với
vấn
đề
mình
muốn
kể.
Làm
phim
là
sự
phơi
mình
trước
mọi
người
qua
tác
phẩm”.
Cái
mà
anh
hướng
tới,
là
những
tác
phẩm
làm
lay
động
tâm
hồn.
Luôn
đi
vào
những
vấn
đề
rất
đời
thường
với
cái
nhìn
nhân
bản,
mỗi
tác
phẩm
của
anh
đều
là
tiếng
nói
của
nhân
tâm,
kéo
gần
hơn
sự
cảm
thông
giữa
con
người
với
con
người.
Anh
luôn
phát
hiện
ra
những
khía
cạnh
của
đời
sống,
để
chia
sẻ
và
thể
hiện
cảm
xúc
của
mình,
bằng
ngôn
ngữ
biểu
hiện
riêng.
Nguyễn
Thanh
Vân
cần
mẫn
cóp
nhặt,
chắt
chiu
từng
hình
ảnh,
từng
chi
tiết,
bằng
cả
tâm
huyết
và
trách
nhiệm.
Tài
năng,
sức
sáng
tạo
tràn
trề,
cùng
sự
đồng
cảm
sâu
sắc
trước
những
số
phận,
đã
làm
nên
những
tác
phẩm
với
ý
tưởng
nghệ
thụât
táo
bạo,
thấm
đẫm
tính
nhân
văn,
trong
lối
kể
chuyện
giản
dị,
nên
các
tác
phẩm
của
anh
đã
chạm
được
tới
góc
sâu
thẳm
của
trái
tim.
Đó
là
lý
do
để
thành
công
liên
tiếp
đến
với
anh.
Ý kiến bạn đọc