Đang
truy
cập
:
412
•Máy chủ tìm kiếm : 5
•Khách viếng thăm : 407
Hôm
nay
:
63704
Tháng
hiện
tại
:
3345663
Tổng
lượt
truy
cập
:
121613695
Nghệ sĩ Minh Cảnh gây bất ngờ khi xuất hiện với vóc dáng phong độ ở tuổi U.90. Ông vẫn thỉnh thoảng đi hát, sống cuộc sống bình yên ở xứ cờ hoa.
Những gánh hát xưa
Sau
khi
hòa
bình
(1954),
nguồn
giải
trí
tinh
thần
của
bà
con
chẳng
có
gì.
Muốn
đọc
báo
thì
phải
nhờ
đò
dọc
từ
quận
(huyện)
ngày
một
chuyến
lên
tận
“tỉnh”
mua
giùm,
nhưng
hầu
hết
người
dân
ký
tên
đều
bằng
dấu
thập
nguệch
ngoạc
thì
mấy
ai
đọc
được
báo?
Radio
thì
cả
làng
chưa
ai
có,
nên
nguồn
giải
trí
duy
nhất
là
những
gánh
hát
mà
lâu
lâu
mới
đến
một
lần.
Gánh
hát
xưa
có
hai
dạng.
Dạng
thứ
nhất
là
hát
bội.
Với
hát
bội,
dù
gánh
cũng
có
“tên”
đàng
hoàng
nhưng
không
ai
gọi
cả;
mà
họ
chỉ
gọi
tên
ông
Bầu
của
gánh
đó
mà
thôi:
Gánh
bầu
Bời,
gánh
bầu
Trình…
Dạng
thứ
hai
là
cải
lương,
với
cải
lương,
không
biết
sao
người
ta
lại
gọi
“tên”
gánh
hát
đó
mà
không
gọi
tên
ông
Bầu:
Gánh
Kiếp
Bướm,
gánh
Điền
Viên…
Có
thể
kể
thêm
một
dạng
nữa
là
“hát
bội
pha
cải
lương”,
nhưng
dạng
nầy
khán
giả
quê
tôi
không
ưa
chuộng;
vì
“Thà
hát
bội
ra
hát
bội,
cải
lương
ra
cải
lương
chứ
vừa
hát
bội
vừa
cải
lương
nghe
nó
tréo
ngoe!”.
Các
cụ
bảo
thế!
Dù
với
dạng
nào,
tùy
theo
gánh
hát
nhỏ,
lớn
mà
chọn
nhà
lồng
chợ
hay
đình
làng
để
trình
diễn.
Khi
vừa
tới
điểm;
một
bộ
phận
lo
việc
thiết
lập
sân
khấu,
phông
màn;
và
lấy
vải
thô
bao
quanh
nhà
lồng
(hay
đình
làng)
để
phân
cách
không
gian
“rạp
hát”
và
bên
ngoài
để
tiện
việc
kiểm
soát,
bán
vé.
Bộ
phận
thứ
hai
không
kém
quan
trọng
là
bộ
phân
“rao
bảng”.
“Rao
bảng”
nôm
na
có
nghĩa
là
báo
cho
người
trong
làng
biết
hôm
nay
có
gánh
hát
đến
và
đêm
nay
diễn
tuồng
gi.
Bộ
phận
nầy
mướn
một
cỗ
xe
ngựa.
Hai
bên
hông
và
sau
xe
có
vẽ
hình
ấn
tượng
nhất
của
nội
dung
tuồng
hát
diễn
đêm
đó.
Trên
xe
để
môt
trống
chầu,
trên
đó
có
một
hay
hai
người
đánh
liên
tục
từng
ba
dùi
một
(Thùng
thùng!
Thùng!)
suốt
từ
đầu
làng
đến
cuối
làng..
Vì
tốc
độ
ngựa
chạy
chậm
nên
sau
xe
là
lũ
con
nít
chúng
tôi
tự
nguyện
chạy
theo…
chơi!
Với
gánh
hát
nhỏ
như
bầu
Bời,
bầu
Trình
,
thì
chỉ
cần
để
trống
trước
cửa
“rạp”.
Lũ
trẻ
tranh
nhau
mà
đánh
(cũng
từng
ba
dùi
một).
Âu
cũng
là
cách
tiết
kiệm
chi
phí
vậy!
Mỗi
lần
gánh
hát
về
làng
thì
y
như
ngày
hội.
Coi
hát
cũng
nhiều
mà
đi
chơi
cũng
không
ít.
Một
trong
những
động
lực
nầy
là
nam
nữ
được
hẹn
hò
nhau
“hợp
pháp”!
Đội
quân
bán
hàng
theo
thời
vụ
hoạt
động
cũng
xôm
trò,
dù
chỉ
là
mía
chặt
khúc,
đậu
phộng
nấu…
,
mà
nước
đá
si
rô,
nước
đá
nhận
là
món
hàng
đặc
biệt
nhất,
vì
ngày
thường
không
hề
có,
ngay
cả
lúc
tiệc
tùng.
Với
những
gánh
cải
lương
thì
có
bán
vé
hẳn
hoi.;
nhưng
với
hát
bội
thì
không,
mà
là
“bà
bầu”
và
vài
người
thân
tín
đứng
ở
cửa
thu
tiền.
Giá
cũng
không
nhất
định.
Những
đêm
đầu
người
coi
đông
thì
người
lớn
năm
đống,
trẻ
em
ba
đồng,
những
ngày
cuối
giá
có
hạ
hơn.
Chỉ
vì
không
bán
vé
mà
thường
xuyên
xảy
ra
việc
kèo
cưa
“trả
giá”
khá
buồn
cười:
“Một
đứa
ba
đồng,
hai
đứa
“ăn”
năm
đồng
thôi,
được
không?”.
Lại
có
nhiều
rự
lợi
dụng
lúc
chen
lấn
mà
lẻn
vào
không
trả
tiền;
đôi
khi
cũng
được
trót
lọt,
nhưng
phần
đông
bị…
nắm
lổ
tai,
nắm
tóc
kéo
ra!
Tương
tợ,
cũng
có
rự
giở
vải
lén
chui
vào,
và
hậu
quả
cũng
giống
trường
hợp
trên!
Đêm
cuối
cùng,
đại
hạ
giá,
có
khi
chỉ
còn
phân
nửa!
Thế
mà
cũng
chẳng
ai
coi,
vì
không
ai
có
tiền
mà
coi
hoài,
hơn
nữa
viêc
đồng
áng
họ
cần
phải
được
nghỉ
ngơi
dưỡng
sức.
Khi
đó
trong
“rạp”
toàn
là
khán
giả
nhí
mà
cũng
chẳng
được
bao
nhiêu;
mà
chúng
vào
coi
là
coi
đào
kép,
trang
phục,
đánh
thương
đánh
kiếm,
chứ
hát
bội
thường
“hát
chữ
nho”
thì
có
hiểu
gì
đâu
mà
coi?
Có
hiểu
chăng
là
một
vài
câu
thông
dụng:
“Tróc
mã
đề
thương,
ứ
ư
ứ
ư…”
hay
những
câu
tên
quân
trình
báo:
“
Cấp
báo!
Cấp
báo!”-
“Điều
chi?”
–
“Dạ,
chí
nguy
thậm
chí
nguy!
Giặc
Hung
Nô
vượt
khỏi
biên
thùy.
Ta,
dũng
tướng
thảy
đều
tử
trận…”,
“Lui!
Thôi
rồi!…
“
(ò
e
ó
e)
Không
có
gánh
nào
có
ghế
cho
khán
giả
ngồi;
muốn
ngồi
ghế
thì
phải
mang
theo!
Ánh
sáng
thì
nhờ
vào
cái
đèn
măng
sông
treo
một
bên
sân
khấu.
Với
gánh
cải
lương
thì
“sang”
hơn,
họ
có
máy
đèn
riêng,
để
đến
lúc
hai
đối
thủ
đánh
phép:
”Hô
biến!”,
đèn
vụt
tắt,
lập
tức
bên
sau
phông
màn
trắng,
khán
giả
thấy
các
bảo
bối
đấu
nhau
quyết
liệt.
Đây
là
màn
ăn
khách
nhứt!
Ngoài
ra,
nhờ
có
máy
đèn
mà
có
cảnh
“phực
đèn
màu”
sau
khi
đào
kép
xuống
“hò”
(câu
1,
câu
5),
làm
giọng
ca
thêm
muồi,
thêm
lâm
ly
tình
tứ
hơn,
đã
khiến
nhiều
tiếng
vỗ
tay,
nhiều
tiếng
tắc
lưỡi
ngợi
khen.
Về
dàn
nhạc
tùy
theo
cải
lương
hay
hát
bội,
mà
có
đờn
nguyệt,
đờn
gáo,
đờn
cò,
ghi
ta,
và
trống.
Mọi
thứ
cũ
mèm,
được
điều
khiển
bởi
quý
“thầy
đờn”…
“hình
mai
vóc
liễu”,
ốm
tỏng
ốm
teo!
Về
tuồng
tích
thì
thường
diễn
trích
đoạn
của
các
truyện
Tàu;
như
“Lưu
Kim
Đính
giải
giá
Thọ
Châu”,
“Tiết
Đinh
San
cầu
Phàn
Lê
Huê”,
“Tôn
Tẩn
hạ
san”,
hoặc
những
chuyện
cổ
tích
như
“Thạch
Sanh
Lý
Thông”,
“Phạm
Công
Cúc
Hoa”
v..v..
Về
“kịch
bản”
(với
hát
bội)
dường
như
có
“khuôn
mẫu”
sẵn
cho
đào
kép,
nghĩa
là
có
những
bài
bản
riêng
cho
mọi
tình
huống.
Như
khi
hai
tướng
xông
trận
thì
hát
thế
nào,
khi
vua
lâm
triều
thì
phải
hát
ra
sao,
v..v..
thêm
vào
đó
chút
“hát
cương”
tùy
theo
tay
nghề
của
đào
kép.
Ông
Bầu
vừa
đạo
diễn,
vừa
nhắc
tuồng.
Có
nhiều
khán
giả
nhí
khoái
vào
hậu
trường
để
coi
đào
kép
sắm
tuồng
hơn
coi
trên
sân
khấu,
trong
đó
có
kẻ
viết
bài
nầy.
Chúng
thường
được
dễ
dãi
nếu
không
phá
phách
hay
ăn
ổi
chín,
vì
“sợ
tổ
thích
mùi
thơm
của
ổi
mà
bỏ
đi”.
Các
anh
chị
đào
kép
bảo
vậy!
Nếu
nghệ
sĩ
ngày
nay
là
một
trong
những
nghề
có
thu
nhập
cao
nhứt,
thì
nghệ
sĩ
hát
bội
(và
cả
cải
lương
gánh
nhỏ)
thời
đó
có
thu
nhập
rất
ít
oi,
nói
khác
đi,
nếu
chỉ
dựa
vào
thù
lao
diễn
xuất
thì
không
thế
nào
đủ
sống.
Đó
là
nói
với
đào
chánh,
kép
chánh;
còn
“kép
cơm”,
tức
những
người
đóng
vai
lính,
quân
hầu
thì
càng
thê
thảm,
bởi
lâu
lâu
mới
được
chút
ít
tiền
bồi
dưỡng
để…
hớt
tóc
mà
thôi!
Gánh
hát
thường
về
làng
vào
tháng
mười
một
âm
lịch
cho
đến
trước
khi
sắp
đổ
mưa,
vì
thời
gian
nầy
dân
làng
có
thu
nhập
(chủ
yếu
là
lúa),
hoặc
rảnh
rang;
nên
đến
coi
đông,
nhưng
rồi
nhiều
lắm
gánh
hát
cũng
lưu
lại
chỉ
một
tuần,
thì
rạp
hát
vắng
hoe.
Gánh
không
hát
nữa,
nhưng
cũng
chẳng
dọn
đi,
ông
Bầu
cho
ở
lại
để
đào
kép
kiếm
việc
làm.
Ai
mướn
gì
làm
nấy,
như
gặt
lúa,
vác
lúa;
với
những
người
yếu
sức
thì
đi
mót,
đi
câu,
bắt
cua
lưới
cá.
Đào
kép
đều
từ
nông
dân
xuất
thân
nên
những
việc
làm
đó
họ
chẳng
thua
gì
dân
bản
xứ.
Với
hát
bội,
không
có
thì
coi
đỡ
ghiền
chứ
thực
tình
khán
giả
cũng
không
“mặn”
lắm.
Cho
nên
từ
khi
cải
lương
về
làng,
hát
bội
không
còn
chỗ
đứng
nữa.
Gánh
bầu
Bời
và
bầu
Trình
năm
xưa
thỉnh
thoảng
lại
đến,
rồi
một
vài
đêm
lại
gồng
gánh
buồn
bã
lên
đường
để
rồi
không
bao
giờ
trở
lại!
Thấy
tình
cảnh
nầy,
không
biết
ai
trong
làng
tôi
đã
ứng
khẩu
và
truyền
miệng
câu
“thơ”
ác
nhơn:
“Bầu
Trình
hát
dở
đừng
lo/
Sang
năm
hát
khá
được
đi
xe
bò!/
Bầu
Bời
hát
dở
đừng
rầu/
Sang
năm
hát
khá
được
ngồi
xe
trâu!”
Với
gánh
cải
lương,
thu
nhập
có
khá
hơn
nhiều.
Buổi
trưa
rỗi
việc,
mấy
chú
bác
ở
Xóm
Ngã
Tư,
mời
đào
kép
chánh
và
một
hay
vài
ông
“thầy
đờn”
đến
nhà
“làm”
mấy
bài
vọng
cổ
hay
mấy
lớp
xàng
xê
quanh
bàn
rượu,
bữa
cơm,
đơn
sơ
nhưng
thắm
tình…
nghệ
sĩ!
Tất
nhiên
trước
khi
ra
về,
anh
chị
đào
kép
cũng
được
chút
thù
lao
khá
hậu
hỉ.
Tuồng
tích
cũng
không
khác
gì
hát
bội;
nhưng
nhờ
trang
phục
bắt
mắt
và
văn
chương
bóng
bẩy
làm
người
coi
thích
thú;
cũng
như
diễn
xuất
“thực”
hơn,
lời
ca
muồi
hơn,
nên
có
nhiều
đoạn
đã
làm
người
xem
xúc
động,
rơi
nước
mắt,
và
không
ngần
ngại
kẹp
tiền
vào
quạt
giấy
phóng
lên
sân
khấu!
(Đây
là
hình
thức
thưởng
tiền
ở
quê
tôi).Và
đào
kép
cũng
không
ngừng
khai
thác
khía
cạnh
nầy:
Mở
đầu
tuồng
Phạm
Công
Cúc
Hoa
là
màn
Phạm
Công
cõng
mẹ
mù
lòa
đi
ăn
xin.
Hai
mẹ
con
quần
áo
rách
bươm,
Phạm
Công
vẻ
mặt
thểu
não,
tay
cầm
thau
nhôm
móp
méo,
cõng
mẹ
chầm
chậm
quanh
sân
khấu;
ca
điệu
Hoài
Tình:
“Bà
con
cô
bác
giùm
thương/
bố
thí
cho
tôi
một
chén
cơm
thừa/…
(nói
dậm:
Mẹ
!
Me!
Mẹ
rán
nhịn
đói
chút
xíu
nữa
nghe
mẹ!
Chừng
nào
bà
con
cho
cơm,
con
đút
mẹ
ăn
nghe
mẹ!…).
Thế
là
nước
mắt
khán
giả
tuôn
ra,
tiếng
hỉ
mũi
rồn
rột,
giọng
nghẹn
ngào:
“Tui
cho
tiền
nè!”
.
Và
quạt
giấy
kẹp
tiền
“bay”
lên
tới
tấp,
người
không
có
quạt
thì
tự
đem
lên.
Một
ông
“thầy
đờn”
thấy
vậy
nói
với
Phạm
Công:
“Được
khá
đó
nghen
mậy!
Tiếp
lớp
2
nghe!”
(tức
bảo
ca
lại
lần
nữa);
nhưng
Phạm
Công
ca
tiếp
tới
lớp
4,
khi
mà
khán
giả
lơi
cho
tiền
mới
thôi!
Hồi
còn
trẻ
con,
chúng
tôi
chuyên
“coi
hát”
trong
hậu
trường
nên
nghe
thấy
rõ
cảnh
nầy.
Một
tuồng
có
hai
màn,
hết
màn
một
là
nghỉ
giải
lao.
Trước
khi
qua
màn
hai
thì
một
người
đứng
sau
màn
(thường
là
ông
bầu
hoặc
anh
kép
chánh)
nói
lời
tri
ân
khán
giả
và
giới
thiệu
vở
tuồng
ngày
mai
với
những
lời
lưu
loát
và
không
kém
văn
hoa.
Gần
cuối
màn
hai
thì
gánh
hát
cho
“thả
dàn”,
tức
mở
cửa
ai
muốn
coi
cứ
vào
coi,
việc
làm
nấy
cũng
không
ngoài
mục
đích
quảng
cáo
lời
ca
điệu
hát,
trang
phục,
diễn
viên
của
mình.
Đến
năm
1960,
quê
tôi
nằm
trong
vùng
binh
lửa.
“Gánh
nhà”
bầu
Trình,
bầu
Bời
nghe
nói
đã
“rã
gánh”,
đào
kép
“về
quê
cắm
câu”;
chỉ
tụ
tập
lại
hát
trong
những
ngày
lễ
cúng
đình
thần.
Những
gánh
cải
lương
cũng
biệt
tích,
trong
lúc
ở
thập
niên
nầy
(60-70)
là
thời
vàng
son
của
cải
lương:
Ở
Sài
gòn
có
nhiều
đoàn
hát
lớn
như
Kim
Chung,
Thanh
Minh,
Hương
Mùa
Thu…
,
xuất
hiện
nhiều
soạn
giả
lớn
với
nhiều
tuồng
hát
để
đời.
Kha
Tiệm
Ly.
Mã
an
toàn:
Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
lần
đầu
làm
live
show
ở
Việt
Nam
Hãy
để
cố
NSƯT
Vũ
Linh
được
yên
nghỉ
Trường
ĐH
Sân
khấu
-
Điện
ảnh
TP
HCM
tuyển
sinh
diễn
viên
cải
lương
Nam
nghệ
sĩ
Thanh
Điền
đã
trở
thành
youtuber
chuyên
nghiệp?
'Thần
đồng
cải
lương'
Linh
Tý:
Tôi
chưa
làm
điều
gì
khiến
ba
Linh
Tâm
mất
mặt
Nghệ sĩ Minh Cảnh gây bất ngờ khi xuất hiện với vóc dáng phong độ ở tuổi U.90. Ông vẫn thỉnh thoảng đi hát, sống cuộc sống bình yên ở xứ cờ hoa.
Ý kiến bạn đọc