.

Nghệ
nhân
dân
gian
Bạch
Huệ
(DR)
Nếu
những
bậc
trí
giả
ngày
xưa
có
bốn
thú
tiêu
dao
tao
nhã
là
:
cầm,
kỳ,
thi,
họa
(đờn,
cờ,
thơ,
vẽ),
thì
từ
đầu
thế
kỷ
20
người
nông
dân
miền
sông
nước
Cửu
Long
cũng
bắt
đầu
biết
đến
một
thú
tiêu
dao
bình
dị
nhưng
rất
hàn
lâm:
Đờn
ca
tài
tử.
Đến
hiện
tại
có
thể
nói
rằng,
Đờn
ca
tài
tử
là
một
bản
sắc
văn
hóa
độc
đáo
của
người
Nam
Bộ.
Trải
qua
thời
gian
trên
dưới
một
thế
kỷ,
trong
làng
Đờn
ca
tài
tử
đã
xuất
hiện
nhiều
“tay
ca”
cự
phách.
Và
một
trong
những
tay
ca
thuộc
hàng
cự
phách
nhất
đó
là
nữ
danh
ca
Bạch
Huệ,
người
đã
“ca
tài
tử”
cho
đến
ngày
nhắm
mắt.
Con
nhà
tông
…
Nữ
danh
ca
tài
tử
Bạch
Huệ
sinh
năm
1933
tại
Cần
Thơ.
Cha
cô
là
thầy
đờn
Sáu
Tửng,
một
tay
đờn
kìm
quán
tuyệt,
một
danh
cầm
lừng
lẫy
thuộc
hàng
tiền
bối
của
Văn
Vĩ,
Năm
Cơ,
Bảy
Bá
(Ba
người
được
mệnh
danh
là
Tam
Hùng
trong
làng
đờn
cổ
nhạc
hồi
trước).
Danh
cầm
Sáu
Tửng,
ngoài
nổi
tiếng
trong
lĩnh
vực
Đờn
ca
tài
tử,
còn
tham
gia
đờn
cho
nhiều
đoàn
hát
cải
lương
chuyên
nghiệp.
Bạch
Huệ
có
một
người
anh
trai
là
nhạc
sĩ
nổi
tiếng
Huỳnh
Anh,
tác
giả
của
bài
tân
nhạc
trứ
danh
Mưa
Rừng
(viết
riêng
cho
Thanh
Nga
và
đến
hiện
tại
vẫn
còn
được
nhiều
người
yêu
thích).
Từ
nhỏ,
Bạch
Huệ
đã
sống
trong
cái
không
khí
Đờn
ca
tài
tử
của
vùng
đất
Cần
Thơ.
Tiếng
Đờn,
lời
ca
câu
hát
tài
tử
đã
thấm
vào
tâm
hồn
của
cô
lúc
nào
không
hay
biết.
Để
rồi,
dù
thân
phụ
không
cho,
nhưng
Bạch
Huệ
vẫn
lén
học
ca
tài
tử.
Đến
năm
13
tuổi,
Bạch
Huệ
đã
được
mời
ca
trên
đài
phát
thanh
Pháp
Á
ở
Sài
Gòn.
Bạch
Huệ
ca
đã
có
tiếng
nhưng
cha
cô
lại
chưa
hay
biết.
Đến
năm
Bạch
Huệ
18
tuổi,
khi
danh
cầm
Sáu
Tửng
phát
hiện
con
gái
là
một
tay
ca
tài
tử
điệu
nghệ
thì
chuyện
đã
rồi.
Và
ông
phải
chấp
nhận
cái
cảnh:
“Con
nhà
tông
không
giống
lông
cũng
giống
cánh”.
Tiếng
tăm
Bạch
Huệ
trở
nên
vang
dội
khi
mà
vào
năm
1951,
tờ
báo
Tiếng
Dội
của
ông
Trần
Tấn
Quốc
-người
chủ
xướng
giải
Thanh
Tâm,
cho
trưng
cầu
ý
kiến
độc
giả,
thì
Bạch
Huệ
đoạt
danh
hiệu
“Nữ
đệ
nhất
danh
ca”.
Sau
đó,
nhiều
đoàn
hát
đã
mời
Bạch
Huệ
cộng
tác.
Thế
nhưng,
có
lẽ
tổ
nghiệp
đã
muốn
cho
“hai
loài
hoa
trắng”
trấn
giữ
mỗi
người
một
lĩnh
vực,
nên
mới
cố
tình
sắp
đặt
cho
“Hoa
lan
trắng”
(Út
Bạch
Lan)
“trấn”
bên
cánh
nữ
của
cải
lương,
còn
“Hoa
huệ
trắng”
(Bạch
Huệ)
trấn
bên
cánh
nữ
của
Đờn
ca
tài
tử.
Và
có
lẽ
vì
thế,
sau
khi
tham
gia
một
số
đoàn
hát
cải
lương
chuyên
nghiệp,
Bạch
Huệ
đã
không
thu
được
thành
công
như
khi
còn
ở
bên
Đờn
ca
tài
tử.
Cuối
cùng,
Bạch
Huệ
trở
lại
với
lĩnh
vực
Đờn
ca
tài
tử
và
hầu
như
đã
“ngự
trị”
lĩnh
vực
này
đến
cuối
đời.
Mấy
thập
niên
qua,
do
nhiều
nguyên
nhân
khác
nhau,
sân
khấu
cải
lương
chuyên
nghiệp
đã
dần
mất
khán
giả.
Thế
hệ
khán
giả
lớn
tuổi
đôi
khi
cũng
không
còn
mặn
mà
với
cải
lương.
Và
dĩ
nhiên,
lượng
khán
giả
trẻ
đến
với
cải
lương
là
rất
ít.
Đờn
ca
tài
tử
là
bộ
môn
“xưa”
hơn
cải
lương
nên
thu
hút
càng
ít
người
trẻ
tuổi.
Thế
nhưng,
có
một
điều
đặc
biệt
đối
với
Bạch
Huệ,
đó
là
giọng
ca
của
cô
lại
được
nhiều
bạn
trẻ
biết
đến
và
yêu
thích.
Từ
năm
2008,
Bạch
Huệ
bị
tai
nạn
giao
thông
phải
ngồi
xe
lăn,
thế
nhưng,
người
ta
vẫn
thấy
cô
xuất
hiện
ở
hầu
hết
các
chương
trình
Đờn
ca
tài
tử
từ
Sài
Gòn
đến
các
tỉnh.
Thời
gian
gần
đây,
người
ta
vẫn
còn
thấy
một
bà
lão
tóc
bạc
ngồi
xe
lăn
ca
trên
sân
khấu
của
một
phòng
trà
có
tiếng
ở
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh.
Mọi
người
cũng
được
chứng
kiến
một
hình
ảnh
đáng
ngạc
nhiên
:
mấy
chục
sinh
viên
trẻ
tuổi
ngồi
nghe
say
mê
bài
Dạ
cổ
hoài
lang
được
thể
hiện
bởi
một
bà
lão
liệt
hai
chân
phải
bám
hai
tay
vào
thân
cột
nhà
để
ca.
Bà
lão
tóc
bạc
phơ
đó
chính
là
nữ
danh
ca
tài
tử
Bạch
Huệ.
Từ
Đờn
ca
tài
tử
đến
Cải
lương
Bạch
Huệ
“chuyên
trị”
Đờn
ca
tài
tử,
chứ
không
phải
là
nghệ
sĩ
cải
lương
chuyên
nghiệp.
Đờn
ca
tài
tử
khác
biệt
với
cải
lương
như
thế
nào?
Đờn
ca
tài
tử
có
phải
là
“quê
mùa”
như
người
ta
thường
nghĩ?
Đờn
ca
tài
tử
có
“dễ
chơi”
không
?
Xin
lướt
qua
đôi
chút
về
những
vấn
đề
này
để
hiểu
thêm
và
trân
trọng
hơn
nữa
“cái
nghề”
mà
danh
ca
Bạch
Huệ
đã
gắn
bó
suốt
70
năm.
Tản
mạn
từ
các
tài
liệu
ghi
chép
cho
liên
quan,
có
thể
khái
quát
về
tài
tử
và
cải
lương
như
sau
:
Người
dân
đồng
bằng
Nam
Bộ
từ
bao
lâu
nay
có
một
thú
vui
rất
văn
học,
đó
là
hò
đối
đáp:
Hò
trên
đồng
ruộng
khi
gieo
mạ
hay
cắt
lúa,
hò
trên
sông
khi
chèo
thuyền,
hò
đêm
trăng
trong
dịp
lễ
cúng
đình
…
Từ
đó
mà
bao
câu
hò
điệu
lý
đã
ra
đời.
Đương
nhiên,
cái
hò
không
phải
là
do
bà
con
Nam
Bộ
sáng
tạo
ra,
mà
là
do
ông
cha
ta
đã
du
nhập
vào
Nam
trong
quá
trình
“Nam
tiến”.
Thế
nhưng,
những
câu
hò
điệu
lý
của
bà
con
Nam
Bộ
có
cái
rất
riêng,
và
phải
là
giọng
“rặc”
miền
Nam
thì
hò
nghe
mới
hay.
Đến
cuối
thế
kỷ
XIX,
Nhã
Nhạc
Cung
Đình
Huế
bắt
đầu
tiến
xuống
phương
Nam
và
đương
nhiên
là
được
văn
hóa
Nam
Bộ
dung
hợp
như
bản
chất
vốn
có
của
nền
văn
hóa
này.
Sự
hội
ngộ
giữa
hai
nền
âm
nhạc
đã
cho
ra
đời
cái
gọi
là
“Đờn
ca
tài
tử”.
Bà
con
nông
dân
Nam
Bộ
khi
rảnh
rỗi,
hay
nhân
dịp
trăng
rằm,
hẹn
nhau
tập
trung
lại
một
nhà,
ngồi
ngoài
sân,
cùng
“ăn
nhậu”,
cùng
ca
hát.
“Ăn
nhậu”
ở
đây
không
mang
nghĩa
“rượu
chè
be
bét”,
mà
là:
mượn
men
rượu
làm
thắm
men
tình,
làm
nồng
câu
ca
tiếng
hát.
Dần
dần,
người
ta
ngồi
ca
hoài
cũng
chán,
trong
khi
có
những
bài
ca
mới
khá
dài,
có
chứa
đựng
những
hành
động
hay
những
lời
đối
đáp.
Thế
là,
người
ca
tài
tử
mới
bắt
đầu
đứng
dậy
“ca”
với
những
“cử
chỉ”
tay,
mắt,
mặt…để
bổ
trợ
cho
lời
ca.
Đương
nhiên,
những
cử
chỉ
điệu
bộ
này
hết
sức
“thô
sơ”,
thể
hiện
đúng
như
“rập
khuôn”
cái
tình
cảm
mà
bài
ca
muốn
nói.
Tức
đúng
với
bản
chất
chân
quê
của
người
nông
dân:
nghĩ
sao
nói
vậy.
Đó
là
cách
ca
mà
các
nhà
nghiên
cứu
sau
này
gọi
là
“Ca
ra
bộ”.
Trong
khoảng
thời
gian
đầu
thế
kỷ
XX,
người
Việt
Nam
đã
biết
đến
kịch
nghệ
của
Pháp.
Kịch
cổ
điển
của
Pháp
được
biểu
diễn
trên
sân
khấu,
mỗi
vở
diễn
thường
được
chia
ra
thành
5
màn,
xoay
quanh
một
cốt
truyện
nào
đó.
Loại
hình
này
cũng
đã
ảnh
hưởng
đến
những
người
ca
tài
tử
Nam
Bộ.
Bởi
có
người
nghĩ
:
Tại
sao
chỉ
viết
những
bài
ca
vắn
mà
không
viết
thành
hẳn
một
tuồng
cùng
một
cốt
truyện
nhưng
có
nhiều
tình
tiết
và
đưa
lên
sân
khấu
biểu
diễn.
Trong
ý
tưởng
đó,
“Cải
lương”
đã
ra
đời.
Như
vậy,
Cải
lương
nói
một
cách
nôm
na
là
Ca
ra
bộ
được
đưa
lên
trình
diễn
trên
sân
khấu.
Thế
nhưng,
đã
lên
sân
khấu
hát
nguyên
tuồng
thì
phải
“diễn
xuất”.
Tức
là,
người
nghệ
sĩ
trên
sân
khấu
lấy
lời
“ca”
để
bổ
trợ
cho
động
tác
“diễn”.
Người
ta
đến
“xem”
nghệ
sĩ
biểu
diễn,
còn
người
nghệ
sĩ
thì
“hát”
cho
người
ta
“xem”.
Bởi
vậy
mà,
thường
nghe
ông
bà
ta
nói
là
“hát
cải
lương”,
nhưng
lại
là
“Ca
tài
tử”.
Bởi
vì,
trong
Đờn
ca
tài
tử,
thì
động
tác
“ca”
là
chính
mà
“ra
bộ-diễn”
là
phụ.
Và
khi
một
nghệ
sĩ
cải
lương
và
một
người
ca
tài
tử
thể
hiện
cùng
một
bài
ca,
thì
qua
động
tác
thể
hiện,
người
ta
có
thể
phân
biệt
được
đâu
là
dân
cải
lương
mà
đâu
là
dân
tài
tử:
động
tác
của
tài
tử
thì
“thô
sơ”,
có
sao
làm
vậy,
còn
động
tác
của
nghệ
sỹ
cải
lương
thì
có
ít
nhiều
ước
lệ
trong
đó,
nên
nó
được
thể
hiện
đúng
mức
và
đẹp
mắt,
mang
tính
chuyên
nghiệp.
Vì
cái
trọng
tâm
là
biểu
diễn,
cho
nên
người
nghệ
sĩ
cải
lương
không
phải
bận
tâm
học
đầy
đủ
bài
bản
tổ,
mà
thường
chỉ
học
ca
cái
gì
cần
thiết
cho
vai
tuồng
mà
thôi.
Ví
dụ
như
bản
Phụng
Hoàng
12
câu,
trong
vai
tuồng
soạn
giả
chỉ
viết
có
4
câu,
thì
người
nghệ
sĩ
đóng
vai
tuồng
đó
chỉ
tập
trung
học
ca
bốn
câu
đó
mà
thôi.
Phụng
Hoàng
là
bài
bản
khá
quen
thuộc
nằm
trong
20
bài
bản
tổ,
nên
dĩ
nhiên
nghệ
sĩ
cải
lương
chuyên
nghiệp
đều
biết
ca
hết
12
câu,
thế
nhưng
không
phải
ai
cũng
làu
thông
20
bài
bản
tổ.
“Làu
thông”
ở
đây
tức
là
hiểu
rõ
nhịp
nhàng
và
ca
đúng
nhịp
từ
đầu
đến
cuối
tất
cả
20
mươi
bài
bản
tổ.
Chưa
hết,
mỗi
bài
bản
đều
thể
hiện
một
tâm
trạng
cụ
thể.
Có
bài
bản
thể
hiện
sự
bi
ai
tột
cùng,
có
bài
bản
thể
hiện
sự
đau
khổ
vừa
phải,
có
bài
bản
thể
hiện
sự
bi
hùng,
có
bài
bản
thể
hiện
sự
tươi
vui
rộn
rã…Trong
từng
bài
bản,
người
ca
phải
làm
sao
sử
dụng
giọng
ca
thể
hiện
được
tâm
trạng
cần
thiết
(đúng
“cái
thần”
của
bài
bản)
và
đương
nhiên
cũng
phải
đúng
nhịp
nhàng.
Đây
là
một
yêu
cầu
rất
khó
mà
nếu
không
phải
nghệ
sỹ
cải
lương
bậc
thầy
thì
khó
lòng
đạt
đến
được.
Bởi
vậy,
nhiều
nghệ
sĩ
cải
lương
được
gọi
là
chuyên
nghiệp,
nhất
là
trong
giai
đoạn
ngày
nay,
chỉ
đạt
được
một
điều
là
ca
đúng
nhịp
thôi
chứ
chưa
đạt
đến
mức
thể
hiện
được
“cái
thần”
của
bài
bản.
Trong
khi
đó,
như
đã
nói,
dân
ca
tài
tử
“đúng
điệu”
là
phải
đặt
trọng
tâm
cho
việc
“ca”,
vì
thế
họ
tập
trung
thể
hiện
được
“cái
thần”
của
bản
ca.
Như
vậy,
dù
sinh
ra
và
trưởng
thành
từ
nơi
thôn
dã,
nhưng
Đờn
ca
tài
tử
thật
sự
là
một
nghệ
thuật
mang
tính
hàn
lâm.
Tức
là,
không
phải
khi
ca
tài
tử
là
muốn
ca
thế
nào
thì
ca,
mà
rất
có
khuôn
phép,
bài
bản.
Người
ca
phải
ca
làm
sao
cho
đúng
nhịp,
đúng
dây
đờn.
Hơn
thế
nữa,
người
ca
phải
hiểu
được
nét
tinh
túy
của
các
bài
bản
tài
tử,
đó
là:
mỗi
bài
bản
tài
tử
đều
có
ý
thể
hiện
một
tâm
trạng
cụ
thể,
đó
là
“cái
thần”
của
Đờn
ca
tài
tử.
Người
ca
tài
tử
được
xem
là
“đúng
điệu”
không
chỉ
biết
ca
đúng
nhịp,
mà
còn
phải
biết
sử
dụng
giọng
ca
để
thể
hiện
đúng
tâm
trạng,
đúng
“cái
thần”
mà
bài
bản
đòi
hỏi.
Nói
cách
khác
là
thể
hiện
tất
cả
những
cung
bậc
tình
cảm
bằng
giọng
hát.
Một
nghệ
sĩ
cải
lương
chuyên
nghiệp
chưa
chắc
gì
có
nhịp
nhàng
và
cách
ca
“chuẩn”
như
dân
ca
tài
tử
“đúng
điệu”.
Trên
có
sở
đó,
có
thể
nói
rằng,
người
ca
tài
tử
là
những
nghệ
sĩ
nhà
nghề
“chuyên
trị”
về
“ca”.
Đương
nhiên,
ở
đây
chỉ
nói
đến
những
dân
ca
tài
tử
“đúng
điệu”,
tức
là
những
bậc
thầy
trong
Đờn
ca
tài
tử,
chứ
không
nói
đến
Đờn
ca
tài
tử
đại
trà
trong
quần
chúng.
Có
người
cho
rằng,
chữ
“tài
tử”
trong
Đờn
ca
tài
tử
có
nghĩa
là
“dân
chơi
không
chuyên
nghiệp”.
Thế
nhưng,
qua
những
điều
phân
tích
bên
trên,
ta
thấy
không
thể
hiểu
như
vậy.
Còn
nhớ
cụ
Trần
Văn
Khê
thường
nói,
chữ
“tài
tử”
phải
mang
ý
nghĩa
của
câu
“Dặp
dìu
tài
tử
giai
nhân”
như
trong
Truyện
Kiều
của
cụ
Nguyễn
Du.
Người
ca
tài
tử
là
những
bậc
tài
hoa,
yêu
thích
môn
nghệ
thuật
đờn
ca
Nam
Bộ
này,
nhưng
không
phải
lấy
đó
làm
nghề
để
sinh
nhai,
mà
lấy
đó
là
một
đam
mê,
một
thú
tiêu
khiển
không
thể
thiếu
và
sẵn
sàng
sống
hết
mình
với
thú
tiêu
khiển
đó.
Tức
là,
người
ca
tài
tử
lấy
sự
ca
để
nuôi
dưỡng
tinh
thần
và
cũng
biết
“chết
sống”
với
nó.
Có
lẽ
đó
cũng
là
lý
do
mà
tại
sao
danh
ca
Ngọc
Bảo
bên
tân
nhạc
suốt
đời
ông
chỉ
thích
xưng
là
“Tài
tử
Ngọc
Bảo”
chứ
không
phải
là
“Ca
sĩ
Ngọc
Bảo”
trong
khi
giọng
ca
Ngọc
Bảo
thuộc
đẳng
cấp
bậc
thầy
trong
dòng
nhạc
của
ông.
Người
ca
tài
tử
“đúng
điệu”
không
lấy
tài
tử
làm
kế
sinh
nhai
còn
có
trình
độ
ca
như
vậy,
thì
huống
gì
là
người
lấy
ca
tài
tử
làm
nghề,
tức
là
ca
tài
tử
chuyên
nghiệp
như
Danh
ca
Bạch
Huệ,
thì
trình
độ
ca
còn
“chuẩn”
đến
dường
nào.
Đệ
nhất
nữ
danh
ca
tài
tử
Nam
Bộ
Bạch
Huệ
có
giọng
trong,
có
pha
một
chút
khàn,
là
một
giọng
có
thế
mạnh
để
“ca
mùi”.
Tuy
nhiên,
điểm
đặc
trưng
nhất
trong
giọng
ca
của
Bạch
Huệ
đó
là
một
giọng
ca
“đầy
đặn”.
Tiếng
ca
của
Bạch
Huệ
rất
khỏe.
Thời
gian
gần
đây,
dù
ở
tuổi
80,
Bạch
Huệ
vẫn
ca
“đầy
đặn”
như
xưa.
Nghe
Bạch
Huệ
ca,
người
nghe
không
có
cảm
giác
ráng
hơi
hay
đuối
hơi.
Bạch
Huệ
ca
rất
“tròn
vành
rõ
chữ”.
Nhiều
danh
ca
tài
tử
và
nghệ
sĩ
cải
lương
chuyên
nghiệp
cũng
đạt
được
tiêu
chí
tròn
vành
rõ
chữ,
thế
nhưng
điểm
đáng
lưu
ý
là
có
một
số
người
quá
lạm
dụng
kỹ
thuật
để
được
tròn
vành
rõ
chữ.
Ca
mà
có
kỹ
thuật
là
điều
cần
thiết,
nếu
tập
luyện
đúng
mức
và
áp
dụng
thỏa
đáng
kỹ
thuật
thì
giọng
ca
sẽ
trở
nên
đẳng
cấp
hơn.
Thế
nhưng,
nếu
quá
lạm
dụng
kỹ
thuật
hoặc
tập
luyện
chưa
đúng
mức
thì
giọng
ca
sẽ
trở
nên
«
phô
»,
mất
tự
nhiên
và
thiếu
hồn.
Có
những
nghệ
sĩ
bậc
thầy
vận
dụng
kỹ
thuật
một
cách
thượng
thừa
vào
giọng
ca
nên
đã
tạo
được
nét
riêng
và
giọng
ca
đã
đứng
vững
trong
lòng
người
mộ
điệu
mấy
chục
năm
qua.
Bạch
Huệ
xếp
trong
số
các
nghệ
sĩ
thượng
thừa
này.
Bạch
Huệ
ca
tròn
vành
rõ
chữ
một
cách
hết
sức
tự
nhiên
và
rất
có
hồn,
người
nghe
không
hề
nhận
ra
được
yếu
tố
kỹ
thuật
trong
đó.
Nói
cách
khác,
Bạch
Huệ
đã
đưa
kỹ
thuật
vào
giọng
ca
ở
mức
độ
thượng
thừa,
để
cho
nó
trở
nên
rất
tự
nhiên.
Một
điểm
thu
hút
nữa
trong
giọng
ca
Bạch
Huệ
:
dù
là
bậc
thầy
về
ca
tài
tử
chuyên
nghiệp,
nhưng
Bạch
Huệ
khi
ca
luôn
tỏ
ra
cố
gắng,
đầy
tâm
huyết,
gửi
hết
tâm
hồn
cho
bài
ca.
Nhờ
đó,
mà
trong
tiếng
ca
mạnh
mẽ
của
Bạch
Huệ,
người
nghe
cảm
nhận
được
sự
trân
trọng
của
người
ca
đối
với
bài
ca,
cảm
nhận
được
ở
đó
cả
tâm
hồn,
cả
trái
tim
của
người
ca.
Và
chính
điều
đó
đã
làm
cho
giọng
ca
Bạch
Huệ
thêm
quyến
rũ,
làm
cho
người
nghe
muốn
thưởng
thức
trọn
vẹn
bài
ca.
Nói
về
nhịp
nhàng,
Bạch
Huệ
là
“thợ
sắp
nhịp”.
Tài
sắp
nhịp
của
Bạch
Huệ
thuộc
hàng
siêu
đẳng,
thuộc
“đẳng
cấp
Út
Trà
Ôn”.
Bạch
Huệ
không
chỉ
giữ
nhịp
trường
canh
để
về
đúng
song
lan
chánh,
mà
còn
là
bậc
thầy
của
việc
xử
lý
nhịp
ngay
trong
lòng
bản.
Giữ
nhịp
trong
lòng
bản
cũng
là
một
đặc
trưng
của
dân
tài
tử
bởi
nghệ
sĩ
cải
lương
chuyên
nghiệp
khi
ca
thì
thường
chỉ
giữ
nhịp
trường
canh
để
về
đúng
song
lan
chánh
mà
thôi.
Nhờ
cách
sắp
nhịp
đều
cho
các
chữ,
giữ
đúng
câu
trong
lòng
bản,
nên
khi
Bạch
Huệ
ca,
người
nghe
luôn
có
cảm
giác
“yên
tâm”
không
sợ
cô
rớt
nhịp.
Có
thể
nói,
trong
trường
phái
tạo
được
cảm
giác
“yên
tâm”
như
vậy
cho
người
nghe,
Bạch
Huệ
là
một
bậc
thầy.
Mấy
chục
năm
qua,
bản
vọng
cổ
được
sử
dụng
phổ
biến
nhất
là
vọng
cổ
nhịp
32,
gồm
6
câu.
Thế
nhưng,
dần
dần
người
ta
chỉ
sử
dụng
4
câu
để
rút
ngắn
thời
gian
của
bài
vọng
cổ.
Tuy
nhiên,
vọng
cổ
thoát
thai
từ
Dạ
cổ
hoài
lang
có
đủ
loại
:
nhịp
4,
nhịp
8,
nhịp
16,
nhịp
32,
nhịp
64…Và
không
có
nhiều
nghệ
sĩ
cải
lương
được
gọi
là
chuyên
nghiệp,
đặc
biệt
là
thế
hệ
nghệ
sĩ
trẻ
ngày
nay,
ca
được
các
loại
vọng
cổ
không
phải
nhịp
32.
Thế
nhưng,
Bạch
Huệ
là
người
“chuyên
trị”
tất
cả
thể
loại
vọng
cổ.
Phải
nói
rằng,
mỗi
loại
vọng
cổ
có
cái
hay
riêng.
Chẳng
hạn
như
vọng
cổ
nhịp
4
mỗi
câu
rất
ngắn,
vì
thế
người
nghe
không
có
cảm
giác
chờ
đợi,
bởi
vì
vừa
dứt
câu
này
lại
tới
ngay
câu
khác.
Đó
có
phải
chăng
cũng
là
một
cách
giúp
người
nghe
giảm
cảm
giác
“bị
chán”?
Đối
với
những
bài
bản
không
phải
vọng
cổ,
thì
ngoài
20
bài
bản
tổ
còn
có
vô
số
bài
bản
tài
tử
khác.
Gần
3/4
thế
kỷ
theo
nghiệp
ca
tài
tử,
Bạch
Huệ
làm
cho
nhiều
nghệ
nhân
ca
tài
tử
và
ngay
cả
nghệ
sĩ
cải
lương
chuyên
nghiệp
“kính
nể”,
vì
cô
ca
sành
điệu
rất
nhiều
bài
bản.
Xin
nhắc
lại
ca
sành
điệu
ở
đây
tức
là
Bạch
Huệ
không
chỉ
ca
đúng
nhịp
mà
còn
ca
đúng
“cái
thần”
của
các
bài
bản.
Điều
đáng
nói
là
nghe
Bạch
Huệ
ca
bất
kỳ
bài
bản
nào,
người
muốn
học
ca
cảm
thấy
rất
dễ
theo
dõi
nhịp
nhàng
và
có
cảm
giác
dễ
làm
theo.
Có
lẽ
vì
thế
mà
Bạch
Huệ
đã
là
thầy
dạy
rất
thành
công
của
rất
nhiều
thế
hệ
học
trò
trong
bộ
môn
Đờn
ca
tài
tử.
Một
điểm
nổi
bật
nữa
ở
Bạch
Huệ,
mà
chính
điểm
nổi
bật
này
đã
đưa
Bạch
Huệ
lên
một
đẳng
cập
khó
có
người
bì
kịp.
Trong
nhiều
sự
khác
biệt
giữa
cải
lương
và
tài
tử,
nổi
bật
nhất
đó
là
cách
ca.
Nghệ
sĩ
cải
lương
thường
có
cách
ca
“mướt”
hơn
dân
tài
tử,
tức
là
nghệ
sĩ
cải
lương
có
khuynh
hướng
ca
“uốn
éo,
bay
lượn,
điểm
tô”
giọng
ca,
còn
dân
tài
tử
thì
giữ
giọng
ca
theo
lối
“chân
phương”
không
“hoa
lá”.
Cái
tính
chân
phương
thuần
túy
này
được
thể
hiện
rất
rõ
trong
cách
ca
tài
tử
theo
kiểu
xưa.
Và
một
trong
những
cái
dễ
nhận
biết
nhất
đối
với
dân
tài
tử
là
họ
hay
ca
theo
lối
“hơ
hơ”.
Như
Danh
ca
Tám
Thưa,
Cô
Tư
Sạng,
Cô
Năm
Cần
Thơ,
Cô
Ba
Bến
Tre,
Chín
Hòa,
Tư
Bé,
Năm
Phồi…những
tay
ca
tài
tử
cự
phách
của
miền
Nam
trước
kia.
Khi
nghe
những
bậc
tiền
bối
này
ca,
người
nghe
sẽ
nhận
ra
ngay
đó
là
ca
theo
lối
tài
tử
kiểu
xưa
qua
cách
họ
ca
rất
chân
phương,
lối
hơ
hơ
rất
đặc
trưng
của
tài
tử.
Thế
nhưng,
theo
thời
gian,
Đờn
ca
tài
tử
cũng
phải
dần
thay
đổi.
Cái
lối
ca
tài
tử
theo
kiểu
xưa
vì
thế
cũng
dần
được
các
thế
hệ
sau
cách
tân.
Bạch
Huệ
gắn
bó
với
Đờn
ca
tài
tử
từ
những
ngày
lối
ca
tài
tử
theo
kiểu
xưa
còn
được
yêu
mến
đến
khi
nó
dần
được
thay
đổi
để
phù
hợp
với
thời
đại.
Giọng
ca
Bạch
Huệ
là
một
minh
chứng
rõ
nét
nhất
cho
sự
cách
tân
này.
Ta
thấy
rằng,
ca
mà
chỉ
có
“chân
phương”
thì
có
lẽ
hợp
với
đời
xưa
hơn,
và
chọn
lọc
người
nghe
hơn,
còn
nếu
như
ca
mà
uốn
éo,
lạng
bẻ
quá
mức
thì
cũng
làm
mất
cái
thần
của
tài
tử.
Bởi
vì
nên
nhớ
rằng,
ca
tài
tử
rất
trọng
cái
“chân
phương”.
Chỉ
có
điều
ca
tài
tử
theo
lối
xưa
quá
thiên
về
tính
chân
phương,
còn
nhiều
nghệ
sĩ
cải
lương,
nhất
là
thế
hệ
ngày
nay,
thì
lại
lạm
dụng
cái
“hoa
lá”.
Bạch
Huệ
đã
biết
chan
hòa
đúng
mức
cái
“chân
phương”
và
“hoa
lá”
trong
giọng
ca.
Và
đương
nhiên,
Bạch
Huệ
ca
“chân
phương”
nhiều
hơn
“hoa
lá”,
nhưng
cô
đã
biết
đưa
cái
“hoa
lá”
một
lượng
vừa
đủ
để
cho
giọng
ca
mượt
mà
hơn,
“thời
đại”
hơn.
Tức
là,
khi
nghe
Bạch
Huệ
ca,
người
nghe
cảm
nhận
được
đó
là
ca
theo
lối
tài
tử
nhưng
vẫn
có
sự
mượt
mà
vừa
phải.
Bởi
thế
mà
giọng
ca
Bạch
Huệ
giữ
được
nét
chân
phương
của
tài
tử
xưa
nhưng
cũng
có
nét
“thời
đại”,
vì
thế
mà
thu
hút
được
người
mộ
điệu
cả
bên
tài
tử
lẫn
cải
lương.
Nếu
Danh
ca
Minh
Chí
nổi
tiếng
là
“Vua”
ca
bài
Xàng
Xê,
thì
Bạch
Huệ
cũng
nổi
tiếng
là
người
ca
tuyệt
vời
hơi
Oán.
Hồi
đầu
những
thập
niên
1990,
khi
phong
trào
Đờn
ca
tài
tử
bắt
đầu
được
phục
hồi,
Bạch
Huệ,
Công
Thành
và
Tấn
Đạt
đã
tạo
ra
một
“tam
tuyệt”
trong
bài
“Bùi
Kiệm-Nguyệt
Nga”
theo
điệu
Tứ
Đại
Oán
trong
đó
Bạch
Huệ
vai
Nguyệt
Nga,
Tấn
Đạt
vai
Bùi
Kiệm
và
Công
Thành
vai
Bùi
Ông.
Ba
người
ca
bài
này
theo
lối
tài
tử
Nam
Bộ
một
cách
xuất
thần
:
Chững
chạc
trong
giọng
ca,
chuẩn
mực
trong
nhịp
nhàng,
chuẩn
xác
trong
việc
thể
hiện
cái
thần
của
bài
Tứ
Đại
Oán.
Có
một
điểm
đặc
biệt
nữa
mà
không
thể
nào
không
nhắc
đến
khi
bàn
về
tài
ca
của
Bạch
Huệ,
đó
là:
Bạch
Huệ
có
thể
được
xem
là
người
ca
hay
nhất
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
của
cụ
Cao
Văn
Lầu.
Đây
là
bài
ca
ra
đời
trong
bối
cảnh
nông
thôn
Nam
Bộ,
nói
lên
nỗi
lòng
của
người
vợ
quê
mùa
đêm
khuya
nghe
tiếng
trống
nhớ
chồng
ngoài
biên
ải
(Dạ
cổ
hoài
lang
tức
là:
Đêm
khuya
nghe
tiếng
trống
nhớ
chồng).
Nếu
vọng
cổ
là
bài
bản
“vua”
của
cả
hai
bên
tài
tử
và
cải
lương,
thì
Dạ
cổ
hoài
lang
là
bài
bản
tổ
của
bản
vọng
cổ.
Trong
bài
Dạ
cổ
hoài
lang
mang
tính
chân
phương,
nhưng
cũng
có
chút
hoa
lá
lãng
mạn.
Bởi
vậy
mà
ca
bài
này
chân
phương
quá
thì
“khô”
mà
hoa
lá
quá
thì
“ướt”.
Và
giọng
ca
Bạch
Huệ
hoàn
toàn
phù
hợp
với
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang.
Nghe
Bạch
Huệ
ca
Dạ
cổ
hoài
lang,
người
nghe
cảm
nhận
được
cái
không
khí
xa
xưa,
cái
u
buồn
man
mác
của
người
vợ
nhớ
chồng.
Nghe
Bạch
Huệ
ca
Dạ
cổ
hoài
lang,
người
nghe
cảm
nhận
được
một
sự
nhớ
thương
trĩu
nặng
tâm
hồn
của
người
vợ
quê
nhà
mong
chồng
ngoài
vạn
lý.
Tuy
nhiên,
giọng
ca
Bạch
Huệ
mang
đến
một
cảm
giác
không
quá
bi
lụy
mà
có
chút
gì
đó
lãng
mạn,
một
niềm
hy
vọng
sum
vầy.
Đúng
như
tâm
trạng
của
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu
khi
viết
bài
này
vì
khi
đó
ông
đang
trong
cảnh
xa
vợ
và
mong
chờ
đoàn
tụ.
Đến
hiện
tại,
chưa
thấy
có
người
nào
ca
Dạ
cổ
hoài
lang
đạt
đến
trình
độ
như
Bạch
Huệ.
Ngoài
việc
đóng
góp
bằng
giọng
ca,
Bạch
Huệ
mấy
chục
năm
qua
còn
được
biết
đến
là
người
góp
phần
đào
tạo
nhiều
nhân
tài
cho
Đờn
ca
tài
tử
và
cải
lương.
Bạch
Huệ
được
mời
dạy
ca
cho
các
lớp
đào
tạo
nghệ
sỹ
cải
lương
chuyên
nghiệp
ở
Trường
Sân
Khấu
Điện
Ảnh
TP.HCM.
Các
tỉnh
cũng
thi
nhau
mời
Bạch
Huệ
tham
gia
các
lớp
đào
tạo
ca
tài
tử.
Ngoài
ra,
Bạch
Huệ
cũng
là
một
“giám
khảo
thường
trực”
của
các
chương
trình
giao
lưu
Đờn
ca
tài
tử
ở
khắp
nơi
suốt
mấy
thập
niên
qua.
Trong
xã
hội
Việt
Nam
hiện
tại,
ít
người
trẻ
tuổi
yêu
thích
Đờn
ca
tài
tử,
mà
một
trong
những
nguyên
nhân
chính
đó
là
do
chưa
hiểu
được
tinh
hoa
của
bộ
môn
nghệ
thuật
này.
Và
như
Giáo
Sư
Trần
Văn
Khê
từng
nói
rằng
:
Hãy
tìm
hiểu
đi
rồi
sẽ
thấy
thích.
Bạch
Huệ
đóng
góp
bằng
cả
cuộc
đời
cho
nghệ
thuật
Đờn
ca
tài
tử.
Những
năm
tuổi
trên
70,
Bạch
Huệ
vẫn
rày
đây
mai
đó
ca
tài
tử.
Bạch
Huệ
đóng
góp
rất
lớn
cho
việc
quảng
bá
tinh
hoa
của
Đờn
ca
tài
tử.
Một
điểm
đáng
quý
nữa
đó
là,
các
nghệ
sĩ
cải
lương
khi
nổi
tiếng
thì
kiếm
được
rất
nhiều
tiền,
chứ
còn
bên
tài
tử
thì
ngược
lại.
Dù
là
không
kiếm
được
nhiều
tiền,
nhưng
Bạch
Huệ
vẫn
theo
đuổi
cái
nghiệp
Đờn
ca
tài
tử
suốt
70
năm
với
bao
nỗi
thăng
trầm,
để
khi
tuổi
vượt
hàng
“thất
thập
cổ
lai
hy”,
dù
đi
ca
suốt,
nhưng
vẫn
sống
trong
cảnh
khổ
nghèo.
Tấm
lòng
yêu
nghề
này
của
Bạch
Huệ
thật
đáng
trân
trọng.
Năm
2007,
Bạch
Huệ
được
nhà
nước
Việt
Nam
phong
tặng
danh
hiệu
“Nghệ
nhân
dân
gian”.
Ngày
12/10/2013,
Bạch
Huệ
đã
về
với
tổ
nghiệp.
Sự
ra
đi
của
cô
có
thể
được
xem
là
sự
ra
đi
của
“Cây
đại
thụ
cuối
cùng”
của
làng
Đờn
ca
tài
tử
Nam
Bộ.
Gần
3/4
thế
kỷ
góp
phần
bảo
tồn
và
phát
triển
Đờn
ca
tài
tử,
với
tài
năng
đó
và
với
đẳng
cấp
đó,
Bạch
Huệ
xứng
đáng
được
xem
là
“Đệ
nhất
nữ
danh
ca
tài
tử
Nam
Bộ”.
Lê
Phước
Ý kiến bạn đọc