ảnh
NS
Xuân
Lan
Cải
lương
Nam
Bộ
là
một
trong
những
nghệ
thuật
độc
đáo,
đặc
sắc
của
dân
tộc.
Theo
Ths.
Nguyễn
Thúy
Vy,
thuộc
BM
Văn
hóa
học,
Trường
Đại
học
Khoa
học
Xã
Hội
và
Nhân
văn,
thì
“tiền
thân
của
Cải
lương
-
một
loại
hình
nghệ
thuật
đặc
sắc
của
Việt
Nam
nói
chung
và
của
Nam
bộ
nói
riêng
là
Tuồng
và
sau
này
là
Hát
bội”.
Đó
là
sự
hòa
quyện
khéo
léo
của
nghệ
thuật
Cải
lương
Nam
Bộ.
Tiền
thân
của
Cải
lương
-
một
loại
hình
nghệ
thuật
đặc
sắc
của
Việt
Nam
nói
chung
và
của
Nam
bộ
nói
riêng
là
Tuồng
và
sau
này
là
Hát
bội.
Nếu
như
Chèo
-
một
loại
hình
nghệ
thuật
chỉ
phổ
biến
ở
miền
Bắc
thì
Tuồng
đã
đi
từ
miền
Bắc
đến
miền
Trung
và
nở
rộ
ở
mảnh
đất
Nam
bộ
này.

Tiền
thân
của
Cải
lương
là
Tuồng
và
sau
này
là
Hát
bội.
Hát
bội:
bội
có
nghĩa
là
nhiều,
hát
bội
là
hát
có
nhiều
vai
tuồng,
có
nhiều
người
hiệp
nhau
lại.
Hát
bội
dùng
tuồng
tích
thời
xưa
hoặc
vay
mượn
sự
việc
có
thật
rồi
thêu
dệt
thành
tuồng
mới
để
diễn.
Tương
truyền
Hát
bội
có
nguồn
gốc
từ
thời
Lý,
rất
phổ
biến
trong
cung
đình
và
ngoài
dân
gian.
Đến
thời
Trần,
Hát
bội
bị
hạn
chế
ở
cung
đình,
chỉ
còn
phổ
biến
trong
dân
gian
và
đến
thời
Lê
thì
bị
cấm
hẳn.
Năm
1437
vua
Lê
Thái
Tông
đuổi
Hát
bội
ra
khỏi
cung
đình
vì
cho
rằng
Hát
bội
có
hại
đến
việc
giáo
hóa,
bôi
nhọ
vua
quan.
Mặc
dù
vậy,
Hát
bội
vẫn
không
chết
đi
mà
ngược
lại
càng
phát
triển
mạnh
trong
dân
gian.Giữa
thế
kỷ
XV,
Hát
bội
đi
vào
Đàng
Trong
để
tìm
đất
sống.
Đào
Duy
Từ,
con
một
nhà
hát
xướng
đã
đầu
quân
cho
Chúa
Nguyễn
và
được
phong
chức
quan
lớn.
Đối
với
Đàng
Trong,
nhà
Nguyễn
chủ
trương
dùng
hát
bội
để
phục
vụ
cho
đường
lối
giáo
hóa,
lấy
cương
thường
Nho
giáo
làm
tư
tưởng
cốt
yếu,
xem
hát
bội
là
công
cụ
truyền
bá
cho
tư
tưởng
trung
quân,
chính
vì
vậy
mà
có
khâu
lễ
bái
trước
khi
hát
cho
Vua
xem.
Khi
Lê
Văn
Duyệt
làm
Tổng
trấn
Gia
Định,
vốn
là
một
người
mê
Hát
bội
nên
ông
đã
tạo
mọi
điều
kiện
thuận
lợi
cho
Hát
bội
phát
triển
vì
vậy
mà
hát
bội
dưới
thời
ông
phát
triển
rất
mạnh.
Có
thể
nói,
Hát
bội
là
loại
hình
nghệ
thuật
xưa
nhất
tại
Nam
bộ.
Ca
nhạc
tài
tử
nảy
sinh
từ
tầng
lớp
phong
lưu.
Khi
người
ta
cảm
thấy
loại
hình
Hát
bội
gò
bó,
nặng
nề,
tuồng
tích
nặng
về
tuồng
xưa
dễ
gây
nhàm
chán
cần
có
sự
cách
tân.
Những
điệu
tài
tử
được
đặt
ra
dựa
trên
nhã
nhạc
của
vùng
Phú
Xuân
(Huế).
Phong
trào
hát
ca
tài
tử
dần
dần
phát
triển,
người
ta
bổ
sung
thêm
nhạc
cụ,
đặt
thêm
tuồng
tích
mới
cho
phù
hợp
với
yêu
cầu,
thị
hiếu
của
người
Nam
bộ.Nói
thơ,
nói
truyện,
đờn
ca
tài
tử
phát
triển
dẫn
đến
sự
ra
đời
của
Ca
ra
bộ.
Ca
ra
bộ
là
vừa
ca
vừa
làm
những
điệu
bộ
phù
hợp
với
lời
ca.
Lối
diễn
tấu
sinh
động
của
Ca
ra
bộ
được
nhiều
người
yêu
thích
và
dần
dần
những
đoàn
Ca
ra
bộ
được
thành
lập,
được
nhiều
nơi
mời
diễn
nhất
là
ở
những
nhà
hàng
sang
trọng.
Có
thể
nói,
Ca
ra
bộ
là
khúc
dạo
đầu
của
sân
khấu
cải
lương,
gánh
Ca
ra
bộ
đầu
tiên
mang
tên
Tân
Thịnh
được
thành
lập
năm
1920,
đặc
biệt
nó
dùng
chữ
cải
lương
và
có
câu:
"Cải
cách
hát
ca
theo
tiến
bộ
Lương
truyền
tuồng
tích
sánh
văn
minh"
Lúc
đó
người
Pháp
có
hãng
dĩa
Pathé
chuyên
thâu
Ca
ra
bộ.
Tuồng
Tàu
và
xã
hội
là
hai
dòng
chính
của
Cải
lương
Nam
bộ
thời
đó.Bài
Vọng
cổ
được
yêu
thích
nhất
của
Cải
lương
thời
đó
là
Dạ
cổ
hoài
lang,
được
Cao
Văn
Lầu
biên
soạn
năm
1919
gồm
có
20
câu
hát
với
nhịp
2.
Sau
đó
người
ta
đặt
thêm
một
bài
ca
tiếp
theo:
Vọng
cổ
hoài
lang
(trông
tình
xưa
nhớ
chồng).Vọng
cổ
từ
nhịp
2
mở
rộng
ra
4,
8,
16,
32,
64
nhịp
và
được
diễn
xuất
trên
sân
khấu
cải
lương
ngày
càng
nhiều
hơn.
Người
nghệ
sĩ
Nam
bộ
đã
sáng
tạo
ra
cây
ghita
phím
lõm
để
phù
hợp
với
điệu
nhấn
nhà
của
cải
lương.
Như
vậy,
từ
khi
ra
đời
đến
nay
đã
hơn
80
năm,
so
với
Chèo,
Tuồng,
Hát
bội
thì
Cải
lương
còn
rất
non
trẻ
thế
nhưng
sân
khấu
Cải
lương
đã
có
chỗ
đứng
vững
chắc
trong
làng
nghệ
thuật
dân
tộc.
Nếu
như
Hát
bội
nhấn
mạnh
vào
đạo
lý
thì
Cải
lương
nghiêng
về
phía
trữ
tình.
Chính
vì
vậy
mà
cải
lương
đã
thu
phục
được
tình
cảm
của
công
chúng
và
dần
dần
loại
hình
nghệ
thuật
này
đã
mở
rộng
ra
trên
khắp
cả
nước.
Nguyễn
Thúy
Vy/vanhoahoc
Ý kiến bạn đọc