Đang
truy
cập
:
472
•Máy chủ tìm kiếm : 9
•Khách viếng thăm : 463
Hôm
nay
:
72535
Tháng
hiện
tại
:
3354494
Tổng
lượt
truy
cập
:
121622526
Nghệ sĩ Minh Cảnh gây bất ngờ khi xuất hiện với vóc dáng phong độ ở tuổi U.90. Ông vẫn thỉnh thoảng đi hát, sống cuộc sống bình yên ở xứ cờ hoa.
đàn kìm
Chính sức mê hoặc kỳ lạ của đàn Kìm đã thu phục tình cảm của giáo sư Nguyễn Châu sâu nặng vô cùng. Ông là một trong những người sáng lập và là giám đốc nghệ thuật đoàn văn nghệ dân tộc Lạc Hồng từ năm 1989 đến nay. Dù có khả năng biểu diễn thuần thục nhiều loại nhạc cụ như đàn Cò, đàn Bầu, đàn Tranh, Sến, Guitar phím lõm, đàn Tỳ Bà, nhưng giáo sư Nguyễn Châu yêu nhất và gắn liền với cây đờn Kìm như máu thịt.

Nét độc đáo của đàn Kìm (đàn Nguyệt)
Nói
về
những
nét
độc
đáo
của
nhạc
cụ
này
trong
dàn
nhạc
dân
tộc
Việt
Nam,
đặc
biệt
là
trong
dàn
nhạc
đờn
ca
Tài
Tử
miền
Nam,
giáo
sư
Nguyễn
Châu
cho
biết
từ
xa
xưa,
dàn
nhạc
ngũ
âm
trong
cung
đình
theo
phong
cách
“tứ
tuyệt”
(kìm,
cò,
tranh,
độc)
hay
“ngũ
tuyệt”
(kìm,
cò,
tranh,
độc,
sáo)
thì
cây
đờn
Kìm
vẫn
đứng
ở
vị
trí
đầu
nhóm
đảm
nhiệm
vai
trò
lĩnh
xướng.
Còn
từ
khi
nhạc
tài
tử
miền
Nam
xuất
hiện
(vào
giữa
thế
kỷ
19)
và
sân
khấu
cải
lương
ra
đời
(đầu
thế
kỷ
20),
cây
đờn
Kìm
vẫn
giữ
được
vị
trí
“độc
tôn”
này.
Các
bài
bản
trong
âm
nhạc
tài
tử
cải
lương
cũng
đều
dựa
vào
chữ
nhạc
chính
từ
cung
bậc
của
đờn
Kìm.
Những
ai
học
ca,
hay
học
các
loại
nhạc
cụ
khác
cũng
dựa
vào
nền
tảng
âm
nhạc
của
đờn
Kìm.
Vì
vậy
cây
đờn
Kìm
được
tôn
vinh
là
“Quân
tử
cầm”
và
là…
“thầy”
của
các
loại
nhạc
cụ
khác
trong
dàn
nhạc
tài
tử
cải
lương,
và
là
“thầy”
của
người
hát
là
vì
vậy.
Giáo
sư
Nguyễn
Châu
nói
thêm,
“Tôi
thấy
từ
xưa
đến
giờ
những
bậc
nhạc
sư
trong
đờn
ca
tài
tử,
phải
biết
đàn
Kìm
là
chính,
còn
những
nhạc
cụ
khác
như
đàn
Tranh,
Bầu,
Cò…
biết
phụ
thêm.
Vì
khi
nắm
vững
cây
đàn
Kìm,
thì
khi
học
qua
những
cây
đàn
khác
rất
dễ.
Như
cá
nhân
tôi
khi
đã
học
vững
vàng
cách
chơi
đàn
kìm,
học
qua
đàn
Tỳ
Bà
rất
dễ,
khi
đàn
cũng
chạy
mấy
ngón
trên
dây
thôi,
học
qua
đàn
Sến
còn
dễ
hơn
nữa,
còn
khi
học
qua
đờn
Guitar
thì
chỉ
cần
học
chút
xíu
thôi.
Nhưng
nếu
ai
đó
học
trước
đàn
guitar
rồi
mới
chuyển
qua
học
đờn
Kìm
thì
rất
khó.”
Được
biết
ở
sân
khấu
cải
lương
thời
xưa,
những
ông
bà
bầu
gánh
hát
thường
phải
tìm
cho
bằng
được
người
đờn
Kìm
giỏi,
để
giữ
song
loan
(giữ
nhịp
chính
của
dàn
nhạc)
và
hướng
dẫn
bài
bản,
nhịp
nhàng
cho
nghệ
sĩ
mới
vào
gánh
hát
hoặc
bổ
túc
nghề
thêm
cho
những
nghệ
sĩ
chuyên
nghiệp.
Hầu
hết
các
nghệ
sĩ
cải
lương
tài
danh
ngày
xưa
đều
học
nghề
bằng
phương
pháp
này
(học
theo
kiểu
truyền
ngón).
Do
đó
các
nhạc
công
của
các
loại
nhạc
cụ
khác
trong
gánh
hát
cho
đến
các
nghệ
sĩ
đều
phải
“kính
nể”
nhạc
công
đờn
Kìm
trong
gánh
hát
của
mình.
Giáo
sư
Nguyễn
Châu
độc
tấu
đàn
Kìm.
(Băng
Huyền/
Viễn
Đông)
Dù
thời
gian
đầu
đàn
Kìm
là
cây
đàn
chính
trong
dàn
nhạc
đờn
ca
tài
tử
và
cải
lương,
nhưng
khoảng
từ
thập
niên
1940,
guitar
phím
lõm
đã
chiếm
lĩnh
vị
trí
“bá
chủ”
trong
dàn
nhạc
cải
lương
của
đờn
Kìm.
Bởi
guitar
phím
lõm
có
nhiều
tính
năng
và
phong
phú
âm
sắc,
âm
vực
rộng
hơn
và
thêm
vào
đó
được
khuyếch
đại
âm
thanh
qua
hệ
thống
ampli.
Còn
đờn
Kìm
là
nhạc
cụ
mộc,
âm
vực
hẹp
lại
khuyếch
đại
âm
thanh
bị
hạn
chế
và
âm
sắc
kém
trung
thực.
Chính
vì
vậy
mà
từ
thập
niên
70
đến
90
ở
sân
khấu
cải
lương
trong
nước
không
xuất
hiện
những
nghệ
sĩ
trẻ
đờn
Kìm
kế
thừa,
mà
chỉ
còn
lại
các
nghệ
nhân
“lão
làng”
và
rất
ít
người
học
đờn
Kìm.
Đại
đa
số
đều
học
Guitar
phím
lõm,
Sến,
Tranh...
Thế
nhưng
từ
ngày
phong
trào
đờn
ca
tài
tử
được
phát
triển
rộng
rãi
những
năm
gần
đây
trong
nước,
thì
cây
đờn
Kìm
được
chú
trọng
trở
lại,
các
nhóm
đờn
ca
tài
tử,
các
câu
lạc
bộ
đờn
ca
tài
tử
đều
khai
thác
những
ngón
đờn
kìm
“ẩn
dật”,
nhiều
người
trẻ,
trung
niên
rủ
nhau
học
đờn
Kìm.
Cây
đờn
Kìm
đã
khôi
phục
lại
vị
trí
trong
dàn
nhạc
tài
tử
và
giữ
“song
loan”
(giữ
nhịp).
Nguồn gốc xuất xứ của đàn Kìm
Đàn
Kìm
của
Việt
Nam
là
nhạc
khí
dây
gảy
loại
có
cần
đàn.
Trên
một
trang
mạng
phổ
biến
trên
internet
cho
rằng
“Đàn
Nguyệt
là
một
trong
những
cây
đàn
đặc
sắc
đã
gắn
bó
với
lịch
sử
dân
tộc
của
người
Việt
từ
khá
sớm.
Sách
của
Phạm
Đình
Hổ
ghi
rằng
đàn
Nguyệt
xuất
hiện
ở
Việt
Nam
vào
thế
kỷ
18.
Tại
bệ
đá
ở
chân
cột
chùa
Phật
Tích
(huyện
Tiên
Sơn,
tỉnh
Hà
Bắc)
được
xây
dựng
vào
đời
nhà
Lý
thế
kỷ
11,
còn
ghi
lại
hình
ảnh
hoà
tấu
ban
nhạc
trong
đó
có
đàn
Nguyệt
và
các
nhạc
cụ
khác
như
sáo
dọc,
sáo
ngang,
đàn
tranh,
đàn
tỳ
bà,
đàn
nhị,
trống
bản,
trống
cơm.
“Về
xuất
xứ,
cây
đàn
Nguyệt
của
người
Việt
có
nguồn
gốc
từ
cây
Nguyệt
cầm
(Yue
kin)
của
người
Trung
Hoa
do
Nguyễn
Hàn,
tự
là
Trọng
Dung
đời
nhà
Tấn
chế
tạo
ra.
Nguyệt
cầm
của
Trung
Quốc
có
mặt
đàn
hình
tròn
tựa
mặt
trăng,
được
làm
từ
gỗ
cây
ngô
đồng,
có
4
dây
chia
thành
2
cặp,
mỗi
cặp
có
2
sợi
cùng
âm,
gắn
phím
thấp
và
đánh
theo
thất
cung.
Số
lượng
phím
thì
bằng
với
phím
trên
Đàn
Nguyệt
của
Việt
Nam
nhưng
còn
cần
đàn
thì
lại
ngắn
hơn.
Phần
nhiều
các
điểm
này
Đàn
Nguyệt
của
Trung
Hoa
khá
giống
với
đàn
Đoản,
đàn
Tứ
của
Việt
Nam.
“Khi
du
nhập
vào
Việt
Nam,
đàn
Nguyệt
đã
được
biến
đổi
để
phù
hợp
với
thẩm
âm
của
người
Việt,
mặt
đàn
vẫn
hình
tròn,
một
số
đàn
vẫn
giữ
4
tai
nhưng
rút
xuống
còn
2
dây,
cần
đàn
dài
hơn,
phím
đàn
gắn
cao
hơn
để
có
thể
diễn
tả
những
kỹ
thuật
rung,
nhấn,
luyến
láy
và
đánh
theo
ngũ
cung
của
người
Việt.
Tương
tự
như
đàn
Nguyệt
Việt
Nam
ở
Campuchia
có
Ðàn
Chạpet,
nhưng
cách
đánh
không
có
nhấn
luyến.”
Cấu tạo của đàn Kìm
“Đờn
Kìm
còn
có
tên
gọi
đàn
Nguyệt
(theo
cách
gọi
của
người
miền
Bắc)
có
thể
do
có
mặt
đàn
hình
tròn
như
mặt
trăng.
“Đàn
Kìm
có
đáy
đàn
và
mặt
đàn
để
mộc,
được
làm
bằng
gỗ
nhẹ,
xốp,
có
đường
kính
khoảng
30
cm.
“Trên
mặt
đàn
có
gắn
ngựa
đàn
(hay
yếm
đàn)
để
mắc
dây.
Thành
đàn
(hay
còn
gọi
là
hông
đàn)
làm
bằng
gỗ
cứng
thấp
khoảng
5
cm
–
6
cm,
có
thể
để
trơn
hay
khảm
trai.
Hộp
đàn
kín
hoàn
toàn,
không
có
lỗ
thoát
âm
như
đa
số
các
loại
đàn
dạng
gảy
khác.
“Cần
đàn
được
làm
bằng
gỗ
cứng
(có
thể
để
trơn
hay
khảm
trai),
dài
khoảng
1m
trên
có
gắn
các
phím
đàn
bằng
tre
với
khoảng
cách
không
đều
nhau
theo
thang
5
âm.
Nhờ
có
cần
tương
đối
dài
và
những
phím
cao,
người
đàn
có
thể
tạo
được
những
âm
nhấn
nhá
uyển
chuyển,
mềm
mại.
“Dây
đàn
được
làm
bằng
tơ
se
hay
dây
nilon.
Đàn
có
hai
dây,
dây
cao
(còn
gọi
là
dây
ngoài
hay
dây
tang)
nhỏ
hơn
dây
trầm
(còn
gọi
là
dây
trong
hay
dây
tồn),
thường
lên
dây
cách
nhau
một
quãng
năm
đúng
và
tùy
theo
giọng
từng
bài.
“Bộ
phận
lên
dây
có
4
trục
gỗ
xuyên
ngang
hai
bên
thành
đàn
của
đầu
đàn
để
lên
dây,
nhưng
chỉ
dùng
hai
trục
để
mắc
và
lên
dây
đàn.
Sự
hiện
diện
của
4
trục
chứng
tỏ
rằng
khởi
thủy
đàn
Nguyệt
là
có
hai
dây
kép
(Ðàn
Song
Vận),
về
sau
do
nhấn
không
thuận
tiện
nên
người
ta
bỏ
bớt
hai
dây
(kép)
chỉ
để
một
dây.
Bộ
phận
lên
dây
được
cải
tiến
để
dây
không
bị
chùng
xuống.
Trục
lên
dây
được
làm
bằng
gỗ
cứng
xuyên
qua
hai
lỗ
phía
đầu
cần
đàn.
“Ngày
xưa
nghệ
nhân
gảy
đàn
Kìm
thường
bằng
móng
tay
dài
của
mình,
ngày
nay
gãy
đàn
bằng
miếng
nhựa
với
những
ngón
gảy,
hất,
phi
và
đặc
biệt
là
ngón
vê…kể
cả
những
âm
ngắn
tạo
không
khí
rộn
ràng
sôi
nổi.
Các kiểu lên dây đàn chính của đàn Kìm
“Đàn
Kìm
có
nhiều
kiểu
lên
dây
khác
nhau,
tuỳ
theo
yêu
cầu
của
tính
chất
âm
nhạc
mà
quyết
định
kiểu
lên
dây
nào
thích
hợp.
“Lối
lên
dây
cổ
truyền
của
đàn
Nguyệt
vẫn
được
kế
thừa
tới
ngày
nay
với
4
kiểu
lên
dây
chính:
Dây
Bắc:
Dây
trầm
cách
dây
cao
một
quãng
5
đúng
(Fà-Đô),
thích
hợp
với
âm
nhạc
vui
tươi,
hùng
tráng.
Dây
Oán:
Dây
trầm
cách
dây
cao
một
quãng
6
đúng
(Mì-Đô).
Dây
Oán
thích
hợp
với
âm
nhạc
nghiêm
trang,
sâu
lắng.
Dây
Tố
Lan:
Dây
trầm
cách
dây
cao
một
quãng
7
thứ
(Rề-Đô).
Dây
Tố
Lan
thích
hợp
với
âm
nhạc
dịu
dàng,
mềm
mại.
Dây
song
thanh
(giây
quãng
8).
“Âm
thanh
Đàn
Nguyệt
tươi
sáng,
rộn
ràng
rất
thuận
lợi
để
diễn
tả
tình
cảm
sâu
lắng.
Ðàn
Nguyệt
có
tầm
âm
rộng
hơn
hai
quãng
8
từ:
Đô1
đến
Rê3
(C1
đến
D3)
nếu
dùng
ngón
nhấn
sẽ
có
thêm
hai
âm
nữa.
“Tầm
âm
có
thể
chia
ra
3
khoảng
âm
với
đặc
điểm
như
sau:
“Khoảng
âm
dưới:
tiếng
đàn
ấm
áp,
mềm
mại,
biểu
hiện
tình
cảm
trầm
lặng,
sâu
sắc.
“Khoảng
âm
giữa:
là
khoảng
âm
tốt
nhất
của
Đàn
Nguyệt,
tiếng
đàn
thanh
thót,
vang
đều,
diễn
tả
tình
cảm
vui
tươi,
linh
hoạt.
“Khoảng
âm
cao:
tiếng
đàn
trong
sáng
nhưng
ít
vang.”
Đàn
Kìm
là
nhạc
cụ
với
nhiều
ngón
kỹ
thuật
độc
đáo
như
nhấn,
luyến,
vê…
có
nhiều
khả
năng
độc
tấu
và
hòa
tấu.
Theo
giáo
sư
Nguyễn
Châu,
đàn
kìm
không
chỉ
giàu
có
về
kỹ
thuật,
bài
bản,
mà
còn
đa
dạng
về
kiểu
kết
hợp
với
các
nhạc
cụ
khác.
“Là
loại
đàn
có
màu
âm
tơ,
với
kỹ
thuật
diễn
tấu
phong
phú,
đàn
Kìm
là
cây
đàn
gẩy
tiêu
biểu
của
người
Việt
tham
gia
hầu
hết
trong
các
hoà
tấu
dàn
nhạc
cổ
truyền
như:
dàn
nhạc
Hát
Văn,
phường
bát
âm
ngoài
miền
Bắc,
dàn
nhạc
thính
phòng
Huế,
dàn
nhạc
Tài
tử
Nam
bộ,
dàn
nhạc
Cải
lương.
Đàn
Kìm
còn
được
dùng
trong
dàn
Nhã
nhạc
của
âm
nhạc
cung
đình.
Đàn
Nguyệt
có
thể
là
nhạc
cụ
đi
giai
điệu
duy
nhất
kết
hợp
với
các
nhạc
cụ
gõ
khác
như
trống,
phách,
cảnh,
thanh
la
trong
dàn
nhạc
Hát
văn,
hoặc
là
một
trong
những
nhạc
cụ
dây
gẩy
bên
cạnh
đàn
Tranh,
đàn
Tam
thập
lục,
đàn
Tỳ
Bà
kết
hợp
với
các
nhạc
cụ
hơi,
nhạc
cụ
dây
kéo,
nhạc
cụ
gõ
trong
phường
bát
âm,
dàn
Nhã
nhạc
của
cung
đình
triều
Nguyễn.
“Dàn
nhạc
thính
phòng
Huế,
dàn
nhạc
Tài
tử
Nam
bộ
và
dàn
nhạc
Cải
lương
chủ
yếu
là
sự
kết
hợp
giữa
các
nhạc
cụ
dây
gẩy
và
nhạc
cụ
dây
kéo
như
trong
dàn
nhạc
thính
phòng
Huế
hoà
tấu
3
cây
đàn
Kìm,
đàn
Tranh,
đàn
Cò
được
gọi
là
Tam
thanh,
hoà
tấu
5
cây
đàn
Kìm,
đàn
Tranh,
đàn
Cò,
đàn
Tỳ
bà,
đàn
Tam
được
gọi
là
Ngũ
tuyệt
và
khi
dàn
Ngũ
tuyệt
có
thêm
cây
sáo
hoặc
đàn
Bầu
thì
được
gọi
là
Lục
tấu.
“Trong
dàn
nhạc
Tài
tử
Nam
bộ
sự
kết
hợp
giữa
các
nhạc
cụ
cũng
khá
đa
dạng:
có
thể
là
giữa
2
nhạc
cụ
cùng
họ
dây
chi
kéo
(Cò
dương
và
Cò
lòn),
giữa
2
nhạc
cụ
cùng
họ
dây
chi
gẩy
(đàn
Kìm
và
đàn
Tranh
hoặc
đàn
Kìm
và
đàn
Tỳ
bà),
giữa
2
nhạc
cụ
dây
kéo
và
dây
gẩy
(Cò
dương
và
đàn
Kìm)
hay
giữa
4
nhạc
cụ
cùng
họ
dây
chi
kéo
(Cò
líu,
Cò
dương,
Cò
lòn,
Cò
gáo),
4
nhạc
cụ
cùng
họ
dây
chi
gảy
(đàn
Kìm,
đàn
Tỳ
bà,
đàn
Tranh,
đàn
Tam),
4
nhạc
cụ
giữa
họ
dây
chi
kéo
và
chi
gảy
(Cò
dương,
Cò
lòn,
đàn
Kìm,
đàn
Tỳ
bà)...
Như
vậy,
đàn
Kìm
luôn
đại
diện
cho
các
nhạc
cụ
họ
dây
chi
gẩy
trong
sự
kết
hợp
với
các
nhạc
cụ
họ
dây
chi
kéo
nên
không
thể
phủ
nhận
vai
trò
của
đàn
Kìm
trong
hoà
tấu
dàn
nhạc.
“Đàn
Kìm
tham
gia
chủ
yếu
dựa
trên
sự
phát
triển
của
hai
yếu
tố
giai
điệu
và
tiết
tấu
theo
lôgích
chiều
ngang.
Lối
hoà
tấu
này
thực
chất
là
lối
trùng
tấu
những
nhạc
cụ
có
âm
sắc
khác
nhau.
Mỗi
bè
tiến
hành
giai
điệu
một
cách
hoàn
toàn
độc
lập,
mỗi
đàn
lại
có
màu
âm
riêng
nên
các
bè
không
bị
lẫn
lộn
làm
nhòe
sắc
thái
của
nhau.
Mỗi
bè
diễn
tấu
có
khả
năng
phát
huy
hết
sở
trường
của
mình
như
âm
nhấn,
láy,
rung…
trên
cơ
sở
một
khung
giai
điệu
nhất
định
mà
không
bị
bè
khác
ràng
buộc.
Bên
cạnh
đó,
chính
lối
phát
triển
giai
điệu
theo
chiều
ngang
lại
tạo
hiệu
quả
những
quãng
lạ,
độc
đáo
giữa
các
bè
đàn
trong
mối
quan
hệ
chiều
dọc.”
Đối
với
Đờn
Ca
Tài
Tử
hay
Cải
Lương,
nếu
người
ca
và
người
đờn
mà
không
rành
nhịp,
vững
nhịp
thì
không
thể
nào
“thành
nghề”
được.
Nhất
là
với
những
chơi
đờn
Kìm
(đàn
Nguyệt),
yêu
cầu
này
còn
đòi
hỏi
gắt
gao
hơn.
Người
nào
đã
chơi
được
đờn
Kìm
là
phải
vững
nhịp.
Vì
từ
xa
xưa,
cây
đờn
Kìm
luôn
đứng
ở
vị
trí
đầu
nhóm
đảm
nhiệm
vai
trò
lĩnh
xướng.
Thiếu
cây
đàn
gì
thì
còn
cho
qua
nhưng
tuyệt
nhiên
không
thể
thiếu
đàn
Kìm
trong
dàn
nhạc
truyền
thống
Nam
Kỳ.
Đàn
Kìm
là
cây
đàn
được
người
xưa
ví
là
“quân
tử
cầm,”
đĩnh
đạc
mà
khoan
hòa,
gợi
nên
sự
rắn
rỏi,
mạnh
mẽ.
Sau
này,
guitar
phím
lõm
điện
tử
ra
đời
đã
chiếm
lĩnh
vị
trí
lĩnh
xướng
trong
dàn
nhạc
cải
lương
của
đờn
Kìm.
Còn
khi
xưa
(trước
thập
niên
1940)
và
những
năm
gần
đây
khi
phong
trào
Đờn
Ca
Tài
Tử
trong
nước
được
phát
triển
rộng
rãi
trở
lại,
cây
đàn
Kìm
đã
được
định
vị
trở
lại
vị
trí
đầu
nhóm
của
mình.
Giới
Đờn
Ca
Tài
Tử
thường
hay
hòa
đàn
theo
các
hình
thức
như
-Song
tấu:
gồm
đàn
Kìm
và
đàn
Tranh
hoặc
đàn
Kìm
–
đàn
Cò
hay
đàn
Kìm
–
đàn
Bầu
-Tam
tấu:
đàn
Kìm
–
đàn
Tranh
-
đàn
Cò,
hoặc
đàn
Kìm
–
đàn
Cò
–
đàn
Bầu
-Tứ
tấu:
đàn
Kìm
–
đàn
Tranh
–
đàn
Cò
–
đàn
Tam
hoặc
đàn
Kìm
–
đàn
Tranh
–
đàn
Cò
–
đàn
Tỳ
Bà.
-Ngũ
tuyệt:
đàn
Kìm
-
đàn
Cò
-
đàn
Tranh
-
đàn
Độc
Huyền
và
thêm
ống
tiêu
(loại
5
lỗ)
So
với
những
nhạc
cụ
dân
tộc
khác
trong
dàn
nhạc
tài
tử
cải
lương,
cây
đờn
Kìm
là
nhạc
cụ
rất
khó
đờn
cho
hay.
Theo
giáo
sư
Nguyễn
Châu
(giám
đốc
nghệ
thuật
đoàn
văn
nghệ
dân
tộc
Lạc
Hồng)
thì
đàn
Kìm
là
một
nhạc
cụ
dễ
học,
nhưng
rất
khó
đàn
hay.
Ông
cho
biết,
“Khi
tôi
vào
học
trường
Quốc
Gia
Âm
nhạc
(lúc
7-
8
tuổi),
thấy
đàn
cò,
đàn
bầu
học
khó
quá,
nên
khi
cầm
cây
đàn
Kìm
lên
đàn
hò
xự
hò
xang
xự
xang,
thấy
đàn
này
dễ
học,
nên
xin
học
đàn
Kìm.
Nhưng
khi
học
rồi
mới
thấy
rằng
học
đàn
Kìm
rất
khó
đàn
hay.
Đàn
Bầu
học
đánh
sao
cho
ra
nốt
thì
khó,
nhưng
khi
ra
được
rồi
thì
rất
dễ
đàn
hay.
Đàn
Cò
(đàn
Nhị)
kéo
sao
cho
thẩm
âm
ra,
cũng
rất
dễ
hay
vì
tay
kéo
rất
nhẹ
nhàng.
Còn
đàn
Kìm,
người
học
cần
phải
có
sức
khỏe,
lực
bấm
của
ngón
tay
phải
mạnh,
đồng
thời
hệ
thống
dây
của
nó
đổi
nhiều
lắm.
Đó
là
lý
do
vì
sao
mà
đến
giờ
tôi
vẫn
mê
cây
đàn
Kìm.”
Được
biết
nếu
những
người
nào
có
năng
khiếu
thì
học
Guitar
lõm,
đàn
Sến,
Tranh...
trong
vòng
6
tháng
là
có
thể
đờn
ca
được,
còn
khi
học
đờn
Kìm
thì
phải
mất
khoảng
12
tháng.
Đờn
Kìm
là
loại
nhạc
cụ
đòi
hỏi
người
đờn
phải
nhấn
nhá,
có
khi
chỉ
một
bậc
phải
ra
nhiều
âm
sắc
khác
nhau.
Nhất
là
dây
“Tố
Lan”
của
đờn
Kìm
hiếm
người
nào
có
thể
đờn
cho
hay,
vì
ngón
nhấn
phải
đạt
đến
điêu
luyện.
Giáo
sư
Nguyễn
Châu
vừa
đàn
minh
họa
vừa
giải
thích
để
hiểu
rõ
hơn
tại
sao
ông
lại
cho
rằng
muốn
chơi
đờn
Kìm
hay
sẽ
khó
vô
cùng.
Kỹ
thuật
trình
tấu
đàn
Kìm
Đàn
Kìm
có
tám
thế
bấm,
ngón
trỏ
là
ngón
số
1,
ngón
giữa
là
ngón
số
2,
ngón
áp
út
là
ngón
số
3,
và
ngón
út
là
ngón
số
4;
Ngoài
ra
trong
mỗi
thế
bấm
có
thể
dùng
3
ngón
tay
(1,
2,
3)
để
bấm
và
cả
ngón
số
4
nữa.
Mỗi
nốt
có
thể
bấm
bằng
một
ngón,
nhưng
khoảng
cách
giữa
mỗi
phím
đờn
Kìm
hơi
rộng
ở
đầu
đàn
nên
có
thể
sử
dụng
cả
hai
ngón
bấm
trên
một
phím
khi
thể
hiện
các
kỹ
thuật
nhấn,
nhấn
luyến.
Khi
bấm
đàn,
ngón
tay
trái
luôn
thẳng
góc
với
dây
đàn,
bấm
đầu
ngón
tay
và
không
gãy
ngón.
Cũng
theo
lời
của
giáo
sư
Nguyễn
Châu,
đối
với
các
âm
không
có
trong
hệ
thống
cung
phím
của
đờn
Kìm
thì
khi
đàn,
nếu
muốn
có
âm
đó,
người
nghệ
sĩ
phải
mượn
cung
phím
có
âm
thấp
hơn
âm
định
đánh,
nhấn
mạnh
ngón
tay
vào
cung
phím
đó
làm
dây
đàn
căng
lên
một
độ
nhất
định,
khi
tay
phải
gảy
âm
muốn
có
đó.
Cung
phím
này
được
gọi
là
cung
mượn.
“Còn
với
các
âm
có
sẵn
trong
hệ
thống
cung
phím:
để
phát
huy
hiệu
quả
diễn
tấu,
nghệ
sĩ
không
bấm
vào
cung
phím
chính
mà
bấm
vào
cung
phím
thấp
hơn,
nhấn
lên
rồi
mới
gảy.
Kỹ
thuật
bàn
tay
trái
Kỹ
thuật
bàn
tay
trái
của
đàn
Kìm
có
những
kỹ
thuật
trình
tấu
độc
đáo
để
tạo
nên
âm
sắc
đặc
biệt:
-Ngón
nhún:
đây
là
cách
nhấn
liên
tục
trên
một
cung
phím
nào
đó,
nhấn
nhiều
hay
ít,
nhanh
hoặc
chậm
tùy
theo
tính
chất
tình
cảm
của
đoạn
nhạc.
Nhấn
dài
hay
ngắn
tùy
theo
trường
độ
của
nốt
nhạc,
nốt
nhấn
láy
làm
cho
âm
thanh
cao
lên
không
quá
một
cung
liền
bậc
(điệu
thức
ngũ
cung)
rồi
trở
lại
độ
cao
cũ
nghe
như
làn
sóng.
Ngón
nhún
là
kỹ
thuật
thường
sử
dụng
ở
đàn
Kìm,
làm
cho
âm
thanh
mềm
hơn,
tình
cảm
hơn.
Ở
những
âm
cao
tiếng
đàn
Kìm
hơi
đanh,
khô
nên
cần
sử
dụng
kỹ
thuật
ngón
nhún
cho
những
nốt
có
trường
độ
vừa
phải,
không
ngân
dài,
chỉ
nên
từ
một
đến
hai
phách
với
tốc
độ
vừa
phải.
-Ngón
vỗ:
Thường
dùng
ngón
1
bấm
cung
phím,
tay
phải
gảy
đàn,
khi
âm
thanh
vừa
phát
lên
sử
dụng
ngón
2
hoặc
cả
hai
ngón
2
và
ngón
3
vỗ
vào
dây
trên
cùng
một
cung
phím
liền
bậc
ngay
ở
dưới
cần
đàn,
âm
mới
sẽ
cao
hơn
âm
chính
một
cung
liền
bậc
(điệu
thức
ngũ
cung).
Âm
thanh
ngón
láy
nghe
gần
như
tiếng
nấc,
diễn
tả
tình
cảm
xao
xuyến.
-Ngón
chụp:
Tay
trái
ngón
1
bấm
vào
một
cung
phím,
tay
phải
gảy
dây,
khi
âm
thanh
vừa
phát
ra,
ngón
2
hoặc
3
bấm
mạnh
vào
cung
phím
khác
(thường
là
liền
bậc
cao)
âm
thanh
từ
cung
phím
này
vang
lên
mà
không
phải
gảy
đàn.
Âm
luyến
nghe
được
do
một
phần
của
dây
đàn
còn
chấn
động,
một
phần
do
ngón
tay
mổ
vào
cung
phím
tạo
thêm
chấn
động.
Âm
luyến
nghe
yếu
nhưng
mềm
mại,
ở
những
thế
bấm
cao
âm
luyến
nghe
kém
vang
nên
ít
được
sử
dụng.
Ký
hiệu
ngón
chụp
dùng
dấu
luyến
giữa
các
nốt
nhạc.
-Ngón
láy
rền:
Là
tăng
cường
động
tác
của
ngón
láy
cho
nhanh
và
nhiều
hơn
với
sự
phối
hợp
vê
dây
của
tay
phải.
Ký
hiệu
ngón
láy
rền
sử
dụng
chữ
tắt
của
trille
và
hai
gạch
chéo
ở
trên
hoặc
ở
dưới
nốt
nhạc
(nếu
là
nốt
tròn)
hay
trên
đuôi
nốt
nhạc.
-Ngón
giật:
Ngón
giật
là
cách
nhấn
trên
dây
như
ngón
nhấn
luyến
nhưng
tính
chất
âm
thanh
khác:
âm
được
nhấn
tới
vừa
vang
lên
liền
bị
tắt
ngay
một
cách
đột
ngột,
âm
thanh
tiếng
giật
nghe
như
tiếng
nấc,
diễn
tả
tình
cảm
day
dứt,
thương
nhớ.
-Ngón
rung:
Đây
là
ngón
tạo
độ
ngân
dài
của
tiếng
đàn
và
làm
tiếng
đàn
mềm
đi
ở
những
âm
cao,
âm
thanh
đỡ
khô
khan,
tình
cảm
hơn.
Dây
buông
cũng
rung
được
bằng
cách
nhấn
nhẹ
ở
đoạn
dây
sát
dưới
trục
dây.
-Ngón
nhấn:
Ngón
nhấn
là
bấm
và
ấn
mạnh
trên
dây
đàn
làm
cho
tiếng
đàn
cao
lên,
có
nhiều
cách
thực
hiện
ngón
nhấn.
-Ngón
nhấn
luyến:
là
ngón
độc
đáo
của
đàn
Kìm
nên
được
sử
dụng
nhiều,
đàn
Kìm
với
phím
đàn
cao,
phím
này
cách
phím
kia
xa,
dây
đàn
bằng
dây
tơ
hoặc
ny
lông
mềm
mại
và
chùng
nên
dễ
dàng
sử
dụng
ngón
nhấn
luyến.
Ngón
nhấn
luyến
tạo
cho
hai
âm
nối
liền
nhau,
luyến
với
nhau
nghe
mềm
mại
như
tiếng
nói
với
nhiều
thanh
điệu,
tình
cảm.
Khi
đánh
ngón
nhấn
luyến
tay
phải
chỉ
gảy
một
lần,
ký
hiệu
ngón
nhấn
luyến
là
mũi
tên
đi
vòng
lên
hay
vòng
xuống
đặt
từ
nốt
nhấn
đến
nốt
được
nhấn
tới.
Có
hai
cách
nhấn
luyến
Nhấn
luyến
lên:
nghệ
sĩ
bấm
một
cung
phím
nào
đó,
tay
phải
gảy
dây,
tiếng
đàn
ngân
lên,
ngón
tay
trái
đang
bấm
cung
phím
đó
lại
nhấn
xuống
cho
dây
đàn
căng
lên
nhiều
hay
ít
tùy
theo
ý
muốn
của
nghệ
sĩ.
Ngón
nhấn
luyến
lên
có
thể
trong
vòng
từ
quãng
hai
đến
quãng
bốn.
Đối
với
những
âm
ở
dưới
cần
đàn
xa
đầu
đàn
quãng
âm
nhấn
luyến
càng
hẹp
hơn.
Nhấn
luyến
xuống:
nghệ
sĩ
bấm
và
nhấn
dây
ở
một
phím
nào
đó
rồi
mới
gảy,
vừa
gảy
ngón
tay
nới
dần
ra
nhưng
không
nhấc
khỏi
cung
phím
để
sau
khi
nghe
âm
thứ
nhất,
còn
nghe
được
âm
thanh
thứ
hai
thấp
hơn
âm
thứ
nhất.
Âm
thứ
hai
không
do
gảy
mà
do
bấm
nhấn
luyến
xuống,
đối
với
âm
luyến
lên
và
âm
luyến
xuống
không
nên
sử
dụng
liên
tục
với
nhau
vì
khó
đánh
chuẩn
xác.
-Ngón
vuốt:
Ngón
vuốt
là
dùng
ngón
tay
trái
vuốt
đi
lên
hay
đi
xuống
theo
chiều
dọc
của
dây
trong
khi
tay
phải
chỉ
gảy
một
lần
hay
kết
hợp
với
ngón
vê
hay
ngón
phi.
Ký
hiệu
của
ngón
vuốt
là
dấu
gạch
nối
giữa
các
nốt
nhạc.
Có
3
loại
vuốt:
Vuốt
lên:
vuốt
từ
âm
thấp
lên
âm
cao.
Vuốt
xuống:
vuốt
từ
âm
cao
xuống
một
âm
thấp.
Vuốt
tự
do:
có
2
cách.
Vuốt
từ
một
âm
chỉ
định
lên
bất
cứ
âm
nào
(thường
không
quá
quãng
5).
Vuốt
từ
một
âm
chỉ
định
xuống
bất
cứ
âm
nào
(thường
chỉ
nên
vuốt
xuống
quãng
4).
Thường
thì
vuốt
lên
âm
thanh
nghe
rõ
hơn
vuốt
xuống,
vuốt
nhanh
âm
thanh
nghe
rõ
hơn
vuốt
chậm
-Ngón
bật
dây:
Tay
trái,
ngón
trỏ
hay
ngón
giữa
bấm
vào
một
cung
phím
nào
đó,
kế
tiếp
dùng
tay
khác
gảy
vào
dây
ở
ngay
dưới
ngón
tay
đang
bấm
để
phát
ra
âm
thanh.
Bật
dây
buông:
sử
dụng
bất
cứ
ngón
tay
trái
nào
bật
một
trong
hai
dây
buông,
hay
cả
hai
dây
một
lúc,
ngón
bật
dây
chỉ
nên
viết
trong
trường
hợp
độc
tấu,
không
nên
đưa
vào
bài
nhạc
có
tốc
độ
nhanh
hoặc
nốt
nhạc
ở
phách
mạnh.
-Âm
bồi:
có
thể
đánh
trên
tất
cả
các
dây
nhưng
chỉ
nên
đánh
trong
khoảng
âm
giữa,
âm
dưới
và
nên
đánh
những
âm
bồi
quãng
tám.
Cách
đánh
là
sử
dụng
ngón
tay
trái
chặn
vào
đoạn
dây
thích
hợp
kể
từ
đầu
đàn
trong
khi
tay
phải
gảy
dây
đó.
Kỹ
thuật
của
bàn
tay
phải
Những
kỹ
thuật
kể
trên
là
kỹ
thuật
của
bàn
tay
trái
khi
trình
tấu
trên
đàn
Kìm,
còn
những
kỹ
thuật
của
bàn
tay
phải,
gồm
có
-Ngón
vê:
Ngón
cái
và
ngón
trỏ
tay
phải
cầm
móng
gảy,
các
ngón
khác
khum
tròn,
cổ
tay
kết
hợp
với
ngón
tay
điều
khiển
móng
gảy
đánh
xuống,
hất
lên
đều
đặn,
liên
tục
trên
dây
đàn.
-Ngón
gõ:
Sử
dụng
các
ngón
tay
phải
gõ
vào
mặt
đàn,
thường
được
sử
dụng
trong
lúc
tất
cả
các
nhạc
khí
đều
nghỉ
hoặc
báo
hiệu
cho
hát,
cho
hòa
tấu
hoặc
điểm
giữa
các
câu
nhạc
hay
đoạn
nhạc.
-Ngón
bịt:
Ngón
bịt
làm
cho
âm
thanh
vừa
vang
lên
liền
tắt
một
cách
đột
ngột
tạo
thay
sự
thay
đổi
màu
âm,
ngón
bịt
diễn
tả
sự
u
buồn,
nghẹn
ngào
hoặc
để
chấm
dứt
một
đoạn
nhạc.
Nếu
sử
dụng
liên
tiếp
ngón
bịt
lại
tạo
hiệu
quả
khác
:
biểu
lộ
sự
cứng
rắn,
dứt
khoát.
Có
hai
cách
thể
hiện
ngón
bịt:
Sử
dụng
bàn
tay
hoặc
ngón
tay
vừa
gảy
chặn
ngay
dây
đàn.
Và
sử
dụng
bàn
tay,
ở
ngang
thân
ngón
út
chặn
ngang
ngựa
đàn
tạo
ra
một
âm
tối,
đục
tương
tự
như
sử
dụng
hãm
tiếng.
Kết
luận
Nhạc
sĩ
Văn
Hoàng
(là
nhạc
sĩ
chuyên
đàn
Guitar
phím
lõm
và
đàn
Sến
trong
những
chương
trình
cải
lương,
đờn
ca
tài
tử
tại
quận
Cam)
cho
rằng
“Nếu
trong
dàn
nhạc
cải
lương,
nếu
thiếu
đàn
Kìm,
có
thể
thay
thế
bằng
đàn
Sến,
tuy
nhiên
đàn
Sến
chỉ
hay
ở
những
giai
điệu
trẻ
trung
thôi.
Còn
những
tình
huống
bi
cảm,
hoặc
những
điệu
Nam
oán
thì
sến
không
thể
đàn
hay
bằng
đàn
Kìm
được.”
Giáo
sư
Nguyễn
Châu
bày
tỏ,
“Vì
học
đờn
Kìm
khó
đờn
hay,
trong
nước
đã
ít
người
theo
học,
thì
nói
chi
tại
hải
ngoại
này,
người
theo
học
đờn
Kìm
càng
hiếm
hoi
hơn.
Những
bạn
trẻ
theo
học
các
nhạc
cụ
dân
tộc
tại
đoàn
Văn
Nghệ
dân
tộc
Lạc
Hồng
thường
thì
học
guitar
phím
lõm,
Tranh,
Bầu
hay
đờn
Cò
vẫn
nhiều
hơn
là
số
em
theo
học
đàn
Kìm.
Dù
ít
ỏi,
nhưng
chúng
tôi
luôn
chú
ý
hướng
dẫn
lớp
trẻ
học
hỏi
nhạc
cụ
này,
vì
chỉ
có
các
em
mới
có
đủ
thời
gian
và
sức
lực
để
góp
phần
gìn
giữ,
bảo
tồn
nền
nghệ
thuật
cổ
truyền
tại
hải
ngoại
này
sau
khi
lớp
tụi
tui
qua
đời
thì
vẫn
còn
có
người
kế
thừa
chúng
tôi.”
BĂNG
HUYỀN
Nguồn:
http://www.viendongdaily.com/net-doc-dao-cua-dan-kim-trong-don-ca-tai-tu-ky-cuoi-kuJG7Jzb.html
dịu dàng, mềm mại, rắn rỏi, rộn ràng, khoan thai, nỉ non, diễn đạt, sắc thái, tình cảm, gọi là, nhạc cụ, quen thuộc, dân tộc
Mã
an
toàn:
Nghệ
sĩ
Minh
Cảnh
lần
đầu
làm
live
show
ở
Việt
Nam
Hãy
để
cố
NSƯT
Vũ
Linh
được
yên
nghỉ
Trường
ĐH
Sân
khấu
-
Điện
ảnh
TP
HCM
tuyển
sinh
diễn
viên
cải
lương
Nam
nghệ
sĩ
Thanh
Điền
đã
trở
thành
youtuber
chuyên
nghiệp?
'Thần
đồng
cải
lương'
Linh
Tý:
Tôi
chưa
làm
điều
gì
khiến
ba
Linh
Tâm
mất
mặt
Nghệ sĩ Minh Cảnh gây bất ngờ khi xuất hiện với vóc dáng phong độ ở tuổi U.90. Ông vẫn thỉnh thoảng đi hát, sống cuộc sống bình yên ở xứ cờ hoa.
Ý kiến bạn đọc