Theo
Trần
Phước
Thuận,
Nhạc
Khị
là
người
đã
canh
tân,
hiệu
đính
và
hệ
thống
hóa
20
bản
Tổ
của
nền
cổ
nhạc
miền
Nam.
Mở
đầu
cho
bài
viết
thứ
nhất
có
tựa
đề
là “Nhạc
Khị”,
Trần
Phước
Thuận
viết: “Nhạc
Khị
–
người
khai
sinh
ra
trường
phái
cổ
nhạc
Bạc
Liêu,
đã
được
anh
em
nghệ
nhân,
nghệ
sĩ
ở
đây
tôn
xưng
là
Hậu
Tổ…” và
ông
đã
chú
thích
ý
nghĩa
của
chữ “nhạc” này
là: “Trong
những
thập
niên
trước,
người
Bạc
Liêu
ít
khi
gọi
những
thầy
đờn
cổ
nhạc
là
nhạc
sư
hay
nhạc
sĩ,
mà
chỉ
gọi
vắn
tắt
là “nhạc” cộng
thêm
cái
tên
của
người
đó.
Từ
“nhạc” vừa
để
chỉ
nghề
nghiệp
vừa
để
chỉ
tính
chất
chuyên
nghiệp,
lâu
dần
trở
thành
một
thành
tố
của
tên
người”.
Chỉ
riêng
với
lời
giải
thích
ngay
trong
dòng
đầu
tiên
của
cuốn
sách
cũng
đã
đủ
để
cho
độc
giả
đánh
giá
về
sự
chính
xác
của
tác
phẩm
này.
Trở
lại
đầu
thế
kỷ
20
ở
miền
Nam,
tên
của
người
ta
thường
được
ghép
với
nghề
nghiệp
hoặc
chức
vụ
của
họ,
thí
dụ
như
trong
nhạc
giới,
các
vị
sau
đây
thường
được
người
miền
Nam
nhắc
tới
như
Phó
Mười
Hai
(phó
tổng
Mười
Hai
–
Tống
Hữu
Định),
Ký
Quờn
(thầy
ký
Quờn
–
Trần
Quang
Quờn),
Đốc
phủ
Bảy
(Đốc
phủ
sứ
Lê
Quang
Liêm),
Sư
Nguyệt
Chiếu,
Bầu
Ninh
(ông
bầu
gánh
hát
bội
tên
Lương
Khắc
Ninh),
Giáo
Thinh
(thầy
giáo
tên
Thinh
–
Nguyễn
Văn
Thinh)….,
những
người
thuộc
giới
nhạc
lễ
thì
được
gọi
là
“nhạc” (
nhạc-sanh tức
là
người
đứng
đầu
ban
cổ
nhạc
[1])
ghép
với
tên
của
mình
như
Nhạc
Láo,
Nhạc
Thời
ở
vùng
Cần
Giuộc,
Cần
Đước.
Như
vậy,
khi
đề
cập
tới
tên
“Nhạc
Khị” thì
ta
biết
ngay
là
ông
Khị
chuyên
về
nhạc
lễ
chứ
không
phải
là
chỉ
dùng
để
gọi
một
ông
thầy
đờn
cổ
nhạc
đơn
thuần.
Riêng
các
vị
nhạc
sư,
nhạc
sĩ
thời
trước
được
dân
miền
Nam
gọi
là
“thầy” hoặc
“cậu” (chữ
“cậu” sau
này
vẫn
được
giới
cải
lương
dùng
để
gọi
các
ông
bầu
hoặc
các
nghệ
sĩ
đàn
anh
được
trọng
vọng
trong
nghề).
Ngoài
ra,
các
nhạc
sĩ,
ca
sĩ
thời
đó
được
gọi
với
cái
tên
rất
đặc
thù
của
người
miền
Nam
là
lấy
thứ
bậc
trong
gia
đình
ghép
với
cái
tên
của
mình
như
Ba
Đợi,
cô
Hai
Cúc,
Tư
Triều,
Sáu
Lầu…
Nếu
như
Trần
Phước
Thuận
chỉ
đề
cao
Nhạc
Khị
là
“Hậu
tổ
cổ
nhạc
Bạc
Liêu” thì
đó
là
chuyện
riêng
của
địa
phương
Bạc
Liêu,
không
có
gì
đáng
bàn,
nhưng
ông
lại
viết:
“Nhạc
Khị
là
người
Bạc
Liêu
đầu
tiên
có
công
trong
việc
canh
tân,
hiệu
đính
và
hệ
thống
hóa
hai
mươi
bản
Tổ
để
làm
cơ
sở
cho
đờn
ca
tài
tử
và
cải
lương
Nam
bộ”[2] và
để
chứng
minh
Nhạc
Khị
là
người
đã
hệ
thống
hóa
20
bản
Tổ,
Trần
Phước
Thuận
đem
Cao
Văn
Lầu
ra
làm
nhân
chứng:
“Tôi
(nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu)
được
thầy
(Nhạc
Khị)
dạy
đủ
20
bản
Tổ
và
bốn
bài
tứ
bửu
từ
năm
1906.
Chính
thầy
là
người
có
công
trong
việc
canh
tân,
hiệu
đính,
đặt
tên
và
hệ
thống
20
bản
nhạc
có
giai
điệu
độc
lập
thành
20
bản
Tổ
(ba
nam,
sáu
bắc,
tứ
oán
và
bảy
bài
nhạc
lễ)”[3].
Lời
của
Cao
Văn
Lầu
có
đáng
tin
cậy
hay
không
thì
chúng
ta
hãy
tìm
đọc
bài
viết
của
nhà
báo
Thanh
Cao
đăng
trên
báo
Dân
Mới
ngày
20-12-1953
với
tựa
đề
“Một
cuộc
phỏng
vấn
bất
ngờ”,
lúc
đó
Cao
Văn
Lầu
còn
không
nhớ
rõ
năm
sáng
tác
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
và
năm
sanh
của
mình
[4] thì
làm
sao
mà
ta
có
thể
tin
được
sự
chính
xác
khi
ông
kể
về
ngày
tháng
của
những
việc
làm
của
thầy
ông!
Ngoài
ra,
từ
buổi
hội
thảo
đầu
tiên
về
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
vào
năm
1989
cho
tới
nay,
đã
có
nhiều
bài
viết
và
nhiều
cuộc
hội
thảo
của
các
nhà
nghiên
cứu
về
đề
tài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
nhưng
kết
quả
cũng
chỉ
là
những
sự
phỏng
đoán
về
năm
tháng
cùng
nguyên
nhân
ra
đời
của
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang,
trong
đó
có
cả
những
cuộc
phỏng
vấn
Cao
Văn
Lầu
khi
ông
còn
sanh
tiền,
vì
vậy,
lời
khẳng
định
của
Cao
Văn
Lầu
về
việc
ông
học
đủ
20
bài
Tổ
và
bộ
Tứ
Bửu
vào
năm
1906
cần
phải
kiểm
chứng
lại.
Về
tài
nghệ
của
Nhạc
Khị,
Vương
Hồng
Sển
kể
rằng
Nhạc
Khị
có
thể
một
mình
chơi
được
nhiều
loại
nhạc
khí
cùng
một
lúc:
“Ông
Hai
Khị
đau
cổ
xạ,
ngón
tay
co
rút
và
ngo
ngoe
rất
khó.
Thế
mà
ông
có
tài
riêng,
không
ai
bắt
chước
được.
Ai
muốn
thử
tài
cứ
đến
nhà,
ban
đầu
ông
dở
mùng
cho
xem,
chỉ
thấy
trống,
kèn,
chụp
chõa
trơ
trơ
ở
trong
ấy,
thế
rồi
khách
ra
ngồi
salon,
ông
Khị
chun
vô
mùng,
một“mình
ên” rồi
bỗng
nghe
trọn
bộ
cổ
nhạc
khua
động
có
tiết
tấu
nhịp
nhàng
y
như
có
cả
bốn
năm
người
hòa
tấu:
trống
xổ,
kèn
thổi,
đờn
kéo
ò
e,
chụp
chõa
lùng
tùng
xòa,
các
việc
đều
do
một
mình
ông
Nhạc
Khị
(Nhạc
sanh
Khị)
điều
khiển”
[5] và
theo
Huỳnh
Minh
trong
“Bạc
Liêu
Xưa
và
Nay” thì
“Nhạc
Khị
sử
dụng
bốn
món
nhạc
khí:
Đẩu,
bạt,
kèn,
phách
tấu
lên
cùng
một
lúc,
rất
mực
điêu
luyện,
ai
cũng
khen
phục”[6],
đó
là
những
nhạc
khí
dùng
cho
bộ
môn
nhạc
lễ
chứ
không
phải
là
của
nhạc
Tài
Tử.
Theo
Trần
Phước
Thuận,
“Năm
30
tuổi,
Nhạc
Khị
đã
thành
lập
ban
nhạc
cổ,
bề
ngoài
là
một
ban
nhạc
phục
vụ
các
buổi
ma
chay,
tiệc
tùng,
lễ
lạc...
để
kiếm
sống,
nhưng
thực
chất
đây
là
một “lò” đào
luyện
ca
nhạc
sĩ
Bạc
Liêu,
cũng
vừa
làm
phương
tiện
để
tuyên
truyền
những
bài
ca
yêu
nước”,
như
vậy
là
năm
1900
Nhạc
Khị
mới
thành
lập
ban
nhạc
lễ
và
đào
tạo
học
trò
nhưng
ông
Thuận
không
nói
rõ
là
tới
năm
nào
Nhạc
Khị
mới
chuyển
qua
nhạc
Tài
Tử
vì
hai
bộ
môn
này
khác
nhau,
dàn
nhạc
lễ
chủ
yếu
là
bộ
gõ
(trống,
đẩu,
thanh
la,
bạt,
bồng…)
cùng
với
bộ
hơi
(kèn)
và
trong
bộ
đờn
cây
thì
dùng
đờn
cò,
gáo
là
chánh,
trong
khi
nhạc
Tài
Tử
chỉ
có
bộ
đờn
cây
và
tiêu,
sáo
mà
thôi.
Khi
Nhạc
Khị
mới
thành
lập
ban
nhạc
lễ
thì
vào
năm
1900
đã
có
nhóm
nhạc
Tài
Tử
miền
Đông
của
Tư
Triều
ở
Mỹ
Tho
sang
Pháp
biểu
diễn
rồi,
tức
là
lúc
đó
phong
trào
nhạc
Tài
Tử
đã
phát
triển
rộng
rãi
ở
miền
Nam
và
đã
có
nhiều
người
đờn
ca
tài
giỏi
nên
mới
dám
“đem
chuông
đi
đánh
xứ
người” để
giới
thiệu
một
bộ
môn
nghệ
thuật
về
văn
hóa
như
vậy
và
Phụng
Hoàng
Sang
ở
Sàigòn
cũng
đã
cho
xuất
bản
một
cuốn
sách
về
bản
đờn
và
bài
ca
cho
nhạc
Tài
Tử
từ
năm
1903.
Thêm
một
điều
quan
trọng
nữa
mà
chúng
ta
cần
phải
nhấn
mạnh
là
vào
năm
1906
chưa
có
hệ
thống
20
bản
Tổ
như
Cao
Văn
Lầu
đã
nói
cho
Trần
Phước
Thuận
“nghe
được
trực
tiếp” để
viết
lại
sau
này.
Trở
lại
quá
trình
của
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
là
do
các
bộ
môn
ca
Huế,
nhạc
Lễ,
hát
Bội
và
Nhã
Nhạc
cung
đình
theo
bước
chân
khẩn
hoang
của
những
người
dân
miền
Trung
vào
Nam,
qua
mỗi
vùng
đất
nước,
thâu
nhận
thêm
những
bài
dân
ca,
câu
hò,
điệu
lý
của
từng
vùng
mà
tạo
thành
một
loại
ca
nhạc
“sa
lông”,
tức
là
loại
để
đờn
ca
giải
trí
vui
chơi
trong
lúc
nhàn
hạ
chứ
không
có
trình
diễn
trên
sân
khấu
gọi
là
nhạc
Tài
Tử.
Sau
cuộc
binh
biến
kinh
thành
Huế
vào
năm
1885,
một
số
nhạc
quan
và
nhạc
công
của
triều
đình
lánh
nạn
vào
miền
Nam
sinh
sống
đã
làm
cho
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
phong
phú
thêm
và
đến
cuối
thế
kỷ
19
thì
đã
có
nhiều
nhóm
sinh
hoạt
về
nhạc
Tài
Tử
ở
các
nơi
như
Sàigòn,
Long
An,
Mỹ
Tho,
Long
Xuyên,
Vĩnh
Long,
Cần
Thơ...
Ta
cũng
phải
nhắc
thêm
các
vị
khoa
bảng
của
miền
Nam
đã
từng
ra
Huế
học
nên
biết
về
ca
Huế
đã
có
công
đóng
góp
cho
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
như
Phan
Hiển
Đạo
(Vĩnh
Kim,
Mỹ
Tho),
Tôn
Thọ
Tường
(Sàigòn)…
Đến
đầu
thế
kỷ
20
thì
mỗi
miền,
mỗi
vùng
ở
Nam
bộ
đều
có
những
người
ca
hay
đờn
giỏi,
nhưng
tựu
trung
thì
ta
có
thể
chia
ra
làm
hai
nhóm
là
nhạc
Tài
Tử
miền
Đông
(gồm
các
tỉnh
Gia
Định,
Chợ
Lớn,
Tân
An
(bây
giờ
là
Long
An),
Tây
Ninh,
Gò
Công,
Biên
Hòa,
Bà
Rịa,
Thủ
Dầu
Một,
Mỹ
Tho)
và
miền
Tây
(gồm
các
tỉnh
Vĩnh
Long,
Bến
Tre,
Trà
Vinh,
Châu
Đốc,
Long
Xuyên,
Sa
Đéc,
Sóc
Trăng,
Cần
Thơ,
Hà
Tiên,
Rạch
Giá,
Bạc
Liêu).
Tuy
không
có
sự
bầu
bán
nhưng
nhạc
sư
Ba
Đợi
(Nguyễn
Quang
Đại)
ở
miền
Đông
và
Ký
Quờn
(Trần
Quang
Quờn)
ở
miền
Tây
được
coi
như
là
chủ
soái
của
hai
nhóm
này.
Về
nhạc
sĩ
của
mỗi
vùng
thì
Sàigòn
có
Nguyễn
Liên
Phong,
Nguyễn
Tùng
Bá,
Cao
Quỳnh
Diêu,
Cao
Quỳnh
Cư;
miền
Đông
(Long
An,
Sàigòn,
Chợ
Lớn,
Bình
Dương)
có
Nguyễn
Quang
Đại
(Ba
Đợi);
Mỹ
Tho
có
Tư
Triều
(Nguyễn
Tống
Triều),
Bảy
Triều,
Năm
Khương
(Vĩnh
Kim);
Vĩnh
Long
có
Phạm
Đăng
Đàn,
Kinh
Lịch
Quờn
(Trần
Quang
Quờn),
Tống
Hữu
Định
(Phó
Mười
Hai)....
Về
soạn
giả
thì
có
các
ông
Trương
Duy
Toản
(Vĩnh
Long),
Nguyễn
Trọng
Quyền
(Long
Xuyên),
Phụng
Hoàng
Sang,
Nguyễn
Liên
Phong,
Nguyễn
Tùng
Bá
(Sàigòn),
Trần
Phong
Sắc
(Tân
An,
Long
An)...
Đó
là
tên
tuổi
các
vị
thầy
đờn,
soạn
giả
của
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
đã
được
nhạc
giới
biết
tiếng
trong
những
năm
1900-1920.
Khi
bộ
môn
Cải
Lương
thành
hình
và
được
phổ
biến
rộng
rãi
vào
đầu
thập
niên
1920
thì
nhạc
Tài
Tử
được
đưa
vào
trong
các
vở
tuồng
cải
lương,
nhưng
bài
bản
của
nhạc
Tài
Tử
ở
mỗi
vùng
lại
có
nhiều
dị
biệt
nên
qua
sự
trung
gian
hòa
giải
của
các
vị
thầy
đờn
Nguyễn
Liên
Phong,
Nguyễn
Tùng
Bá,
Phạm
Đăng
Đàng
và
dưới
sự
chủ
trì
của
Ba
Đợi,
hai
nhóm
nhạc
miền
Đông
và
miền
Tây
đã
họp
tại
Nhà
Dài
thuộc
xã
Tân
Lân,
Cần
Đước,
Long
An
để
thống
nhất
bài
bản
và
phong
cách
trình
tấu
Đờn
Ca
Tài
Tử
Nam
bộ
[7].
Một
điều
quan
trọng
mà
nhà
nghiên
cứu
Nhị
Tấn
đã
nhấn
mạnh
về
phong
cách
trình
tấu
của
Đờn
Ca
Tài
Tử
Nam
bộ
là:
“Từ
cuộc
họp
nầy,
20
bài
bản
Tổ
mới
ra
đời,
những
bài
bản
được
lựa
chọn,
tiêu
biểu
cho
4
điệu
nhạc
của
Đờn
ca
tài
tử
Nam
bộ,
có
cấu
trúc
âm
thanh
khác
nhau,
6
bản
điệu
Bắc,
7
bài
điệu
Hạ
(nhạc
lễ),
3
bản
điệu
Nam,
4
bản
điệu
Oán
và
4
hơi
Xuân,
Ai,
Đảo,
Ngự. Ngoài
các
cấu
trúc
âm
thanh
của
4
điệu
4
hơi
nầy
ra,
các
hơi
điệu
Quảng
Đông,
Triều
Châu,
Khờ
Me,
ký
âm
theo
Nhạc
Tây
phương,
không
đậm
đà
bản
sắc
văn
hóa
Việt
Nam,
giới
chơi
Đờn
ca
tài
tử
Nam
bộ
chính
thống,
không
chấp
nhận”[8].
Trong
khi
đó,
theo
sách
“Ca
nhạc
cổ
điển” của
Trịnh
Thiên
Tư
thì
ta
thấy
đa
số
bài
bản
do
các
nhạc
sĩ,
soạn
giả
ở
Bạc
Liêu
sáng
tác
mang
hơi
Tiều
được
dùng
nhiều
trong
bộ
môn
cải
lương.
Ngoài
ra,
chúng
ta
có
thể
kiểm
chứng
dễ
dàng
là
theo
dõi
diễn
tiến
tên
gọi
của
bài
Tứ
Đại
Oán,
một
bài
ca
rất
phổ
thông
vào
cuối
thế
kỷ
19,
đầu
thế
kỷ
20.
Trước
thập
niên
1920
khi
chưa
có
hệ
thống
20
bản
Tổ
thì
bài
này
được
báo
giới
cùng
nhạc
giới
thời
đó
gọi
là
“Tứ
Đại” mà
thôi,
sau
này
khi
bản
Tứ
Đại
được
đưa
vào
thể
điệu
Oán
của
hệ
thống
20
bản
Tổ
thì
từ
đó
cái
tên
“Tứ
Đại
Oán” mới
được
dùng
cho
tới
bây
giờ.
Tên
gọi
“Tứ
Đại
Oán” đầu
tiên
được
tìm
thấy
trong
những
vở
tuồng
cải
lương
“Bội
Phu
Quả
Báo” của
Nguyễn
Trọng
Quyền
in
vào
tháng
6
năm
1923,
sau
đó
là
các
vở
“Nguyệt
Hà
tầm
phu”,
“Sát
thê
cầu
tướng”,
“Nguyệt
Kiểu
xuất
gia”,
của
Trần
Phong
Sắc
in
năm
1925,
kế
tiếp
là
các
tuồng
cải
lương
“Kim
Vân
Kiều” của
Lê
Công
Kiền,
“Giọt
lệ
chung
tình”[9] của
Nguyễn
Tri
Khương
soạn
năm
1926…
Cũng
trong
năm
1926
Trần
Phong
Sắc
cho
xuất
bản
cuốn
“Cầm
Ca
Tân
Điệu”[10] có
in
đủ
20
bản
Tổ
gồm
4
thể
điệu
Bắc,
Hạ,
Nam,
Oán
như
hiện
nay
cùng
với
một
số
bài
bản
tài
tử
cả
vắn
lẫn
dài,
trong
đó
có
một
số
bài
Ngự
và
sau
hết
là
các
bài
lý
cùng
một
số
bài
thông
dụng
của
sân
khấu
cải
lương,
đây
là
cuốn
sách
đầu
tiên
ở
Việt
Nam
phổ
biến
đầy
đủ
20
bản
Tổ
của
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
Nam
bộ
gồm
có
cả
bản
đờn
và
bài
ca.
Như
vậy
ta
có
thể
phỏng
đoán
khá
chính
xác
là
hệ
thống
20
bản
Tổ
ra
đời
trong
cuộc
họp
thống
nhất
bài
bản
vào
năm
1922
hoặc
trễ
lắm
là
trước
tháng
6
năm
1923
tại
xã
Tân
Lân,
Cần
Đước,
Long
An
do
Ba
Đợi
chủ
tọa
với
sự
đóng
góp
của
hai
nhóm
nhạc
Tài
Tử
miền
Đông
và
miền
Tây,
có
thể
cũng
có
sự
tham
dự
của
các
soạn
giả
Nguyễn
Trọng
Quyền
và
Trần
Phong
Sắc
nên
các
ông
đã
là
những
người
tiên
phong
hưởng
ứng
và
phổ
biến
tên
của
20
bài
bản
Tổ
trong
các
vở
tuồng
cải
lương
cũng
như
đã
tập
hợp
các
bài
bản
của
bộ
môn
nhạc
tài
tử
và
cải
lương
để
in
thành
sách
theo
hệ
thống
mới
này.
Cũng
cần
nói
thêm
là
Trần
Phong
Sắc
(1873-1928)
cùng
với
Nguyễn
Trọng
Quyền
(1876-1953)
và
Trương
Duy
Toản
(1885-1957)
là
ba
vị
Thầy
tuồng
(vừa
là
soạn
giả
vừa
đạo
diễn)
nổi
tiếng
nhất
trong
ba
thập
niên
đầu
của
thế
kỷ
20.
Điều
này
cũng
chứng
minh
thêm
là
vào
năm
1906
chưa
có
hệ
thống
20
bản
Tổ
gồm
3
Nam,
6
Bắc,
4
Oán,
7
bài
Lễ
(7
bài
Cò
hoặc
7
bài
Bắc
Lễ)
theo
những
tên
bài
bản
đã
được
thống
nhất
mà
nhạc
giới
miền
Nam
đã
và
đang
dùng
hiện
nay
để
cho
Cao
Văn
Lầu
có
thể
học
đầy
đủ
20
bản
từ
Nhạc
Khị.
Việc
Cao
Văn
Lầu
học
đủ
20
bản
Tổ
và
bộ
Tứ
Bửu
từ
năm
1906
là
do
Trần
Phước
Thuận
thuật
lại
với
nhà
báo
Nguyễn
Thiện
được
đăng
trên
Phụ
Nữ
Online
ngày
28-4-2014
với
tựa
đề
“Trần
Phước
Thuận
-
từ
điển
sống
về
đờn
ca
tài
tử
Nam
bộ”,
nhưng
“từ
điển
sống” này
lại
quên
một
điều
là
ông
đã
từng
viết
về
bước
đầu
học
nhạc
của
Cao
Văn
Lầu
như
sau:
“Cao
Văn
Lầu
nhiều
lần
nghe
ông
tấu
đờn
đã
sinh
lòng
mến
thích,
nên
đã
xin
cha
cho
học
đờn.
Ông
Chín
Giỏi
cũng
là
một
người
biết
đờn,
mặc
dù
đờn
không
giỏi
lắm,
nhưng
lại
mang
nặng
nghiệp
cầm
ca,
nên
khi
nghe
con
xin
học
đờn
mà
vị
thầy
lại
là
một
người
có
tiếng
tăm
lừng
lẫy,
nên
ông
liền
đồng
ý.
Thế
là
vài
ngày
sau,
ông
Chín
Giỏi
dắt
con
đến
nhà
Nhạc
Khị
để
xin
thụ
nghiệp
(1908),
Nhạc
Khị
lúc
đó
cũng
vừa
thành
lập
ban
cổ
nhạc
được
vài
năm
rất
cần
những
tài
năng
trẻ
nên
vui
lòng
chấp
nhận”[11].
Năm
1908
mới
được
đi
học
nhạc
mà
năm
1906
đã
biết
đờn
đủ
20
bản
Tổ
và
bộ
Tứ
Bửu
thì
quả
thật
Cao
Văn
Lầu
là...
thiên
tài
có
một
không
hai
trên
đời,
đó
là
chưa
kể
tới
việc
những
người
muốn
học
đờn
đủ
20
bản
Tổ
phải
mất
một
thời
gian
dài.
Những
điều
bịa
đặt
thường
gặp
phải
trường
hợp
“tiền
hậu
bất
nhất” là
vậy!
Khi
viết
cuốn
“Bản
Đờn
Tranh
và
Bài
Ca” vào
năm
1903,
trong
phần
Tiểu
tự,
Phụng
Hoàng
Sang
có
nhắc
tới
tên
của
các
nhân
vật
thuộc
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
đương
thời
như
sau:
“Còn
những
người
nào
muốn
rõ
biết
cách
thức
cao
xa
nữa
thì
xin
nhờ
mấy
người
danh
sư,
như
là:
Cậu
Ba
Đại,
thầy
Phạm
Đăng
Đàn,
cậu
Tám
Cang,
thầy
Giáo
Nghĩa,
cậu
Tư
Chấn,
cùng
là
thầy
Liên
Phong,
mấy
thầy
ấy
rõ
biết
cách
thức
nhiều,
và
cũng
vui
lòng
mà
chỉ
thêm
cho
những
người
mộ
điệu
tài
tử”[12].
Đến
năm
1918
thì
báo
giới
có
nhắc
tới
ban
nhạc
của
Ký
Quờn
khi
nhóm
này
tham
gia
chung
với
Hội
Nhựt
Báo
Nam
Kỳ
đi
Lục
Tỉnh
diễn
tuồng
“Pháp
Việt
Nhứt
Gia”.
Đó
là
những
tên
tuổi
của
các
vị
đã
có
tiếng
tăm
trong
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
hồi
đầu
thế
kỷ
20,
trong
đó
ta
phải
kể
thêm
Nguyễn
Tùng
Bá
là
người
đã
hợp
tác
với
Phụng
Hoàng
Sang
viết
cuốn
“Bản
Đờn
Tranh
và
Bài
Ca”.
Nguyễn
Tùng
Bá
còn
viết
thêm
cuốn
“Bản
đờn
kiềm
(kìm)” vào
năm
1913
gồm
những
bản
đờn
của
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử
và
cũng
có
xuống
miền
Lục
Tỉnh
dạy
nhạc
Tài
Tử
một
thời
gian.
Rất
có
thể
là
trong
dịp
này
Nhạc
Khị,
một
người
chuyên
về
nhạc
Lễ
gặp
Nguyễn
Tùng
Bá
nên
mới
có
cơ
hội
tiếp
xúc
với
nhạc
Tài
Tử
để
sau
này
khi
Bảy
Kiên
qua
học
Đờn
Ca
Tài
Tử
với
Nhạc
Khị
đã
chép
được
bản
“Bát
Man
Tấn
Cống” mà
Trần
Phước
Thuận
cho
là
Bảy
Kiên
sáng
tác,
nhưng
ông
Thuận
cũng
đặt
nghi
vấn
là
miền
Đông
cũng
có
một
bản
nên
không
rõ
là
bản
nào
có
trước!
Thật
ra
thì
bản
“Bát
Man
Tấn
Cống” trong
bộ
Bát
Ngự
do
Ba
Đợi
sáng
tác
vào
năm
1898-1899
và
đã
được
Phụng
Hoàng
Sang
in
trong
cuốn
“Bản
Đờn
Tranh
và
Bài
Ca” từ
năm
1903,
Nguyễn
Tùng
Bá
cũng
cho
in
lại
vào
năm
1913
trong
cuốn
“Bản
đờn
kiềm
(kìm)” nên
ta
có
thể
đoán
Nguyễn
Tùng
Bá
chính
là
người
đã
phổ
biến
bản
này
cho
nhóm
cổ
nhạc
tại
Bạc
Liêu.
Tóm
lại,
trước
khi
bài
Dạ
Cổ
Hoài
Lang
ra
đời,
ta
chưa
thấy
báo
giới
hoặc
nhạc
giới
đề
cập
tới
tên
của
Nhạc
Khị
hoặc
về
địa
phương
Bạc
Liêu
trong
những
đề
tài
về
ca
nhạc.
Theo
Huỳnh
Minh
trong
“Bạc
Liêu
Xưa
và
Nay” thì
“Nhưng
tiếc
cho
tài
hoa
bạc
mạng,
vì
vướng
bịnh
cùi
mà
Nhạc
Khị
phải
lui
dần
vào
bóng
tối” và
“Nếu
Nhạc
Khị
đã
vì
bịnh
phong
đơn
mà
phải
sớm
lui,
để
ngậm
ngùi
cho
khách
mộ
điệu
không
ít,
thì
Bảy
Kiên
cũng
khiến
giới
cầm
ca
cảm
mộ
vô
cùng
vì
đoạn
đời
khá
ly
kỳ
của
ông”[13],
nhưng
tác
giả
Huỳnh
Minh
không
cho
biết
là
Nhạc
Khị
“lui
dần
vào
bóng
tối” vào
năm
nào.
Học
giả
Vương
Hồng
Sển
cho
ta
biết
rõ
thêm
một
chi
tiết
nữa
về
nghề
riêng
của
Nhạc
Khị:
“Ở
Bạc
Liêu,
có
ông
nhạc
sanh
Hai
Khị,
thiện
nghệ
nhiều
cây
đờn
và
ông
là
người
Minh
Hương,
từng
thọ
giáo
đờn
Tiều
(Triều
Châu)
tươi
mướt
đẹp
như
cô
gái “đầu
gà
đít
vịt”.
Nhờ
pha
điệu
Tiều
nên
chế
ra
điệu
Vọng
Cổ
Bạc
Liêu
sau
nầy”
[14] và
ông
Sển
cho
Nhạc
Khị
là
“đáng
làm
hậu
tổ
Cải
Lương” cũng
như
ông
đã
nhấn
mạnh
ghi
công
hai
nhân
vật
khác
đáng
làm
hậu
tổ
Cải
Lương
nữa
là
André
Lê
Văn
Thận
và
Trương
Duy
Toản
[15] chứ
không
phải
chỉ
riêng
Nhạc
Khị
và
ông
cũng
không
đề
cập
tới
việc
Nhạc
Khị
là
hậu
tổ
của
Đờn
Ca
Tài
Tử
vì
nhạc
Tài
Tử
không
có
hơi
điệu
Tiều
trong
câu
ca
tiếng
đờn.
Soạn
giả
Nguyễn
Phương
cũng
nhắc
lại
lời
cô
Phùng
Há
thường
nói
là:
“Nếu
nói
đến
hậu
tổ
Cải
Lương
thì
bên
nhạc
đúng
là
ông
Nhạc
Khị,
bên
cải
lương
là
ông
Mộc
Quán
Nguyễn
Trọng
Quyền”[16].
Ngoài
ra,
Vương
Hồng
Sển
cũng
giải
thích
thêm
về
sinh
hoạt
của
các
nhóm
nhạc
lễ
thời
đó:
“Trước
đó
nữa,
tại
các
tỉnh
Nam
kỳ
không
có
giàn
đờn
cổ
nhạc
Việt,
chỉ
có
giàn
nhạc
lễ
(tỷ
dụ
ở
Bạc
Liêu
có
Nhạc
Khị),
thường
dùng
vào
các
cuộc
đám
ma
nhà
héo.
Mỗi
khi
có
đám
tang,
vào
lúc
canh
khuya,
sau
buổi
tế
buổi
tụng
kinh,
thường
các
thầy
nhạc
và
thầy
chùa
bày
ra
đòi
chủ
nhà
nấu
cháo
trắng
để
thức
sáng
đêm,
và
nhơn
dịp
ấy,
họ
cũng
hòa
đờn,
tập
dượt
ca
cho
đúng
nhịp,
để
đánh
con
buồn
ngủ.
Sau
thành
thói
tục,
mỗi
dịp
quan-hôn-tang-tế,
thậm
chí
lễ
mừng
tân
quan,
tân
gia,
khai
bằng,
khánh
hạ,
đám
giỗ,
đám
cưới
đều
có
mời
họ
luôn
cho
rôm
đám”[17].
Do
đó,
ta
có
thể
khẳng
định
Nhạc
Khị
là
người
giỏi
về
nhạc
Lễ,
biết
đờn
nhiều
nhạc
khí,
có
học
nhạc
Tiều,
nhạc
Tài
Tử
và
sáng
tác
một
số
bài
bản
được
dùng
trong
bộ
môn
nhạc
Tài
Tử,
đã
có
công
gầy
dựng
phong
trào
đờn
ca
tài
tử
ở
Bạc
Liêu
mà
sau
này
các
truyền
nhân
của
ông
đã
đóng
góp
nhiều
cho
sự
lớn
mạnh
của
bộ
môn
Cải
Lương.
Riêng
về
việc
Nhạc
Khị
có
thể
sử
dụng
được
bốn,
năm
món
nhạc
khí
cùng
một
lúc
mà
Trần
Phước
Thuận
cho
là
“nhân
vật
huyền
thoại”(trong
sách
in
năm
2007
ông
viết
là
“nhân
vật
thần
thoại”)
thì
Vương
Hồng
Sển
hoài
nghi
về
tài
nghệ
đó:
“Không
ai
biết
ông
làm
cách
nào
mà
được
như
vậy,
có
người
làm
tàng
nói
rằng
ông
Khị
đánh
trống
bằng
ngón
chơn
kẹp
lại,
nhưng
còn
tay
nào
đờn,
miệng
nào
thổi
kèn,
rồi
phèng
là,
chụp
chõa
không
phải
tự
nhiên
nó
khua
một
lượt
được?
Quả
là
diệu
thuật,
và
dốt
biết
ngồi
nghe
lại
ít
ai
cười
hơn”[18].
Quả
đúng
là
huyền
thoại
vì
nếu
thực
sự
mà
Nhạc
Khị
có
tài
riêng
như
vậy
thì
tại
sao
lại
phải
chun
vô
trong
mùng
để
biểu
diễn?
Vả
lại,
cầm
kỳ
thi
họa
là
bốn
thú
vui
tao
nhã
của
tao
nhân
mặc
khách
thời
xưa
mà
cầm
(đờn)
lại
đứng
đầu,
không
lẽ
phong
cách
Đờn
Ca
Tài
Tử
của
“Hậu
tổ
của
Đờn
Ca
Tài
Tử
Bạc
Liêu” là
biểu
diễn
nhạc
trong
mùng
như
vậy
hay
sao?
Khi
hai
nhà
báo
Quốc
Thắng
và
Trọng
Duy
phỏng
vấn
ông
Võ
Văn
Dũng,
Ủy
viên
T.Ư
Đảng,
Bí
thư
Tỉnh
ủy,
Chủ
tịch
HĐND
tỉnh,
đồng
Trưởng
ban
chỉ
đạo
Festival
Đờn
ca
tài
tử
quốc
gia
lần
thứ
nhất
năm
2014
tại
Bạc
Liêu
vào
lúc
tỉnh
đang
chuẩn
bị
tổ
chức
buổi
lễ
hội
này,
ông
chủ
tịch
tỉnh
cho
biết
“Nhạc
Khị
là
người
Bạc
Liêu
đầu
tiên
có
công
trong
việc
canh
tân,
hiệu
đính
và
hệ
thống
20
bản
Tổ”[19]với
những
luận
điệu
và
chi
tiết
giống
như
trong
bài
viết
của
Trần
Phước
Thuận.
Cũng
trong
dịp
này,
Viện
Âm
Nhạc
Việt
Nam
cho
thực
hiện
dự
án
đầu
tiên
trong
“Chương
trình
hành
động
quốc
gia
bảo
vệ
nghệ
thuật
Đờn
Ca
Tài
Tử” là
“Dự
án
thống
nhất
20
bản
Tổ”,
viện
cho
thu
âm
20
bài
bản
Tổ
do
các
danh
cầm,
danh
ca
được
chọn
từ
21
tỉnh
thành
của
miền
Nam,
hai
miền
Đông,
Tây
mỗi
miền
đảm
nhận
10
bài
để
thu
âm.
Việc
thu
âm
được
thực
hiện
ở
2
địa
điểm
là
Bạc
Liêu
và
TP.
Hồ
Chí
Minh,
điểm
ở
Bạc
Liêu
do
nghệ
sĩ
ưu
tú
Thiện
Vũ
(tỉnh
An
Giang)
phụ
trách
thực
hiện
[20].
“Trăm
nghe
không
bằng
mắt
thấy”,
sau
hơn
1
năm
rưỡi
thực
hiện,
bộ
CD
20
bản
Tổ
hoàn
tất
vào
khoảng
tháng
11
năm
2015,
10
bài
bản
của
miền
Tây
do
Thiện
Vũ
phụ
trách
tại
địa
điểm
Bạc
Liêu
với
sự
trợ
giúp
của
thạc
sĩ
Huỳnh
Khải
(Long
An)
và
một
số
ca,
nhạc
sĩ
miền
Đông
vẫn
chưa
đạt
tiêu
chuẩn
để
nhà
nghiên
cứu
Nhị
Tấn,
một
thành
viên
trong
Hội
Đồng
Nghệ
Thuật
của
dự
án
này
phải
bức
xúc
lên
tiếng
phê
bình
trong
bài
“Nhận
xét
về
bộ
CD “20
bài
bản
Tổ
Đờn
Ca
Tài
Tử
Nam
bộ
Việt
Nam” của
Viện
Âm
Nhạc
Việt
Nam
–
2014”
[21].
Nếu
quả
thật
Nhạc
Khị
là
người
đã
hiệu
đính
và
thống
nhất
20
bài
bản
Tổ
như
người
lãnh
đạo
của
tỉnh
Bạc
Liêu
và
Trần
Phước
Thuận
đã
khẳng
định
thì
điều
tối
thiểu
là
truyền
nhân
của
Nhạc
Khị
tại
Bạc
Liêu
cũng
phải
biết
đờn,
ca
ít
nhất
là
10
bài
bản
Tổ
nhưng
điều
này
cũng
chưa
thực
hiện
được.
Hai
mươi
bản
Tổ
là
kết
tinh
của
nhiều
bài
bản
do
tiền
nhân
đã
sáng
tác
từ
trước
để
tạo
nên
một
bộ
môn
nghệ
thuật
âm
nhạc
đặc
thù
của
miền
Nam
và
sự
hệ
thống
hóa
cùng
thống
nhất
20
bài
bản
Tổ
không
thể
do
một
cá
nhân
làm
được
mà
đây
là
sự
kết
hợp
của
nhạc
giới
cả
hai
miền
Đông,
Tây
Nam
bộ
để
lưu
lại
cho
hậu
thế
bộ
môn
nghệ
thuật
độc
đáo
này
và
đó
là
sự
đóng
góp
của
tập
thể,
một
truyền
thống
tốt
đẹp
của
người
miền
Nam.
Trên
phương
diện
khảo
cứu,
những
sự
tìm
tòi
và
phát
hiện
mới
đều
làm
giàu
cho
nền
văn
hóa
nước
nhà.
Chi
tiết
về
Nhạc
Khị
là
người
đầu
tiên
canh
tân,
hiệu
đính
và
hệ
thống
hóa
20
bản
Tổ
của
nhạc
Tài
Tử
do
Trần
Phước
Thuận
đưa
ra
cần
phải
chứng
minh
một
cách
khoa
học
và
cụ
thể
hơn,
nhất
là
bài
viết
của
một
ông
Tổng
thư
ký
của
Hội
Khoa
Học
Lịch
Sử
của
một
tỉnh
được
gọi
là
“cái
nôi
của
Nhạc
Tài
Tử
Nam
Bộ”[22] khi
viết
về
đề
tài
lịch
sử
này.
Nguyễn
Tuấn
Khanh
San
Jose,
ngày
15
tháng
5
năm
2016
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền
Ý kiến bạn đọc