Chuyện Cao Tiệm Ly tiễn Kinh Kha qua sông Dịch.
- Thứ năm - 30/07/2015 12:48
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Giọng ca vàng Hữu Phước
Đêm
nay
tôi
lại
nhớ
đến
Hữu
Phước,
nghệ
sĩ
Giọng
ca
vàng
mà
tôi
vô
cùng
quý
mến,
chúng
tôi
có
hàng
chục
năm
chung
sống
và
làm
việc
trong
đoàn
hát
cải
lương
Thanh
Minh
Thanh
Nga.
Nghệ
sĩ
Hữu
Phước
khởi
nghiệp
từ
năm
1955,
anh
phải
mất
6
năm
miệt
mài
tập
luyện
giọng
ca,
học
diễn
xuất
và
phải
diễn
qua
hàng
chục
vở
tuồng
cải
lương
mới
chiếm
được
vị
trí
danh
ca.
Ngoài
cái
tài
thiên
phú
và
sự
khổ
tâm
rèn
luyện
tay
nghề,
tôi
nghĩ
là
nguyên
nhân
đưa
đến
thành
tựu
vượt
bực
trong
nghề
hát
của
Hữu
Phước
là
nhờ
cái
tâm
«
tôn
sư
trọng
đạo
»
và
cái
tình
«
tha
thiết
đối
với
bạn
diễn
»,
những
tâm
tình
đó
tuy
vô
thanh
vô
ảnh
nhưng
đó
là
động
lực
giúp
cho
Hữu
Phước
vươn
cao
lên
vị
trí
hàng
đầu
của
nghệ
sĩ
danh
ca
trong
đầu
thập
niên
60.
Giọng ca vàng Hữu Phước và Sầu nữ Út Bạch Lan
Năm 1955, Hữu Phước, Y tá Be và tôi gia nhập gánh hát Kim Thoa của ông Bầu Ngô Thiên Khai, chồng của nữ nghệ sĩ Kim Thoa. Ông Nguyễn Huỳnh Phước, ( chồng của cô đào Ngọc Lợi ) là Giám đốc kỹ thuật sân khấu. Hữu Phước lúc đó còn trẻ, ca vọng cổ rất mùi nhưng chưa nổi danh và chưa biết hát nên anh chỉ được ông Nguyễn Huỳnh Phước cho ca vọng cổ ngoài màn trước khi đoàn hát chánh thức hát vào tuồng chánh. Hai nghệ sĩ lão thành Hai Tiền và Văn Lâu dạy cho Hữu Phước các động tác múa may theo vũ đạo tuồng Tàu, cách cầm quạt, cách dâng rượu, cách vuốt râu, đá giáp, các lối múa đao, múa kiếm. Vì làn hơi mỏng, giọng hát rất mùi nhưng âm lượng nhỏ nên Hữu Phước hát thành công các vai kép mùi, kép ca. Anh đóng vai kép võ không oai không vì sắc vóc nhỏ con.
Nghệ sĩ Văn Lang là kép chánh đoàn Việt Kịch Năm Châu, anh đóng vai Phạm Lải, hát cặp với nữ nghệ sĩ Kim Lan, vai Tây Thi tuồng Tây Thi Gái Nước Việt. Khi về đoàn Kim Thoa, kép chánh Văn Lang đóng tuồng cặp với ba cô đào chánh : Kim Thoa, Ngọc Lợi và Đoàn Thiên Kim.
Anh Văn Lang trắng trẻo, đẹp trai, cao ráo, giọng ca rất quyến rủ., nhất là khi anh hát các vai Lữ Bố, đôi mắt anh thật là sắc sảo, tình tứ. Trong giới nghệ sĩ cải lương, Văn Lang nổi tiếng là « kép đắt mèo nhứt», thường được nữ khán giả si mê, đeo đuổi, đãi tiệc, tặng quà, tặng tiền.
Đoàn Kim Thoa hát ở rạp Cầu Lầu - Vĩnh Long tuồng Phụng Nghi Đình, kép chánh Văn Lang vai Lữ Bố, cô Kim Thoa vai Điêu Thuyền, kép Văn Lâu vai Đổng Trác, Hữu Phước vai Lý Nhu, kép lão thành Hai Tiền vai Vương Tư Đồ. Đêm hát rất thành công, kép Văn Lang - Lữ Bố, mỗi lần vuốt lông trĩ, trụ bộ, hất mặt lên thì khán giả vổ tay ào ào. Đào Kim Thoa – Điêu Thuyền, yểu điệu, tình tứ ; Kép Văn Lâu - Đổng Trác dê Điêu Thuyền, khán giả cười vỡ rạp ! Kép Lý Nhu - Hữu Phước có giọng ca ru hồn, lôi cuốn khán giả một cách mãnh liệt.
Gần vãn hát, một cô gái đến cửa hậu trường xin vô gặp nghệ sĩ. Y tá Be gát cửa sau, không cho vô, nói nếu cô muốn nhắn gì với nghệ sĩ nào anh nhắn cho. Đó là lịnh của ông phó bầu Nguyễn Huỳnh Phước. Cô gái lấy sổ tay, xé một tờ, viết vội mấy hàng rồi chỉ tay vô phía nghệ sĩ đang ngồi gần bàn phấn. Y Tá Be nhìn theo ngón tay chỉ của cô gái, anh thấy Hữu Phước và Văn Lang , anh đinh ninh cô gái gởi thơ cho Hữu Phước nên nói : « Được rồi, tôi sẽ trao thơ cho anh ta! » Cô gái định nói gì thêm thì các anh dàn cảnh khiêng mấy tấm cảnh ra bên hông rạp để đưa cảnh khác vào thay, thành ra cô gái đành phải trở ra khán phòng để coi hát tiếp.
Y tá Be vô chỗ nghệ sĩ ngồi, kép Văn Lang hỏi : « Hồi nãy cô gái đó nói nhắn gì với tôi hả ?» Y tá Be nhớ lại, lúc cô bé nhóng chân nhìn vô phòng, chỉ hướng về phía Văn Lang và Hữu Phước vì hai người ngồi kế bên nhau, lúc đó Hữu Phước khoát khoát tay chào, còn Văn Lang thì gật gật cái đầu. Y tá Be là bạn của Hữu Phước nên anh thiên về Hữu Phước, anh trả lời cho Văn Lang biết là không có ai nhắn gởi gì anh, nói xong, Y tá Be dúi bức thư vô tay Hữu Phước rồi trở ra gác cửa hậu trường.
Vãn hát, Hữu Phước rửa mặt, bôi son phấn xong, mặc thêm chiếc áo măng tô rồi đi đến bungalow của tỉnh ở gần bờ sông, nơi cô gái viết giấy hẹn khi nãy. Y tá Be rủ tôi đi theo sau xa xa để coi ai hò hẹn với Hữu Phước.
Hồi trước Bungalow Vĩnh Long là câu lạc bộ sĩ quan Pháp, sau đình chiến năm 1954, Bungalow đó trở thành khách sạn sang trọng, tầng trệt mở nhà hàng restaurent, bán hải sản và thức ăn đặc sản của địa phương.
Hữu Phước và một cô gái độ hơn ba mươi tuổi đang ngồi chờ bồi bàn dọn lẩu cá bông lau. Chúng tôi ngồi bàn phía cửa vô. Vài phút sau, anh Văn Lang đến ngay bàn có Hữu Phước và cô gái đang ngồi. Thì ra cô gái và Văn Lang quen biết nhau, đêm đó cô mời Văn Lang đi ăn khuya, không ngờ Y tá Be đưa thư mời cho Hữu Phước. Cô cũng thích giọng ca của Hữu Phước nên sẳn dịp này cô làm quen với Hữu Phước.
Đêm đó, về rạp hát, Hữu Phước kể cho chúng tôi nghe chuyện gặp gỡ vừa rồi. Cô gái tên Xuân, chủ của một tiệm bán vải trong phố. Cô đưa thơ là cháu của cô Xuân. Vì lúc đưa thơ, cô chưa kịp nói đưa cho ai thì các anh dàn cảnh khiêng cảnh tới, cô lại thấy anh Văn Lang gật gật đầu nên cô yên tâm ra xem hát tiếp, không ngờ người đưa thơ đưa lầm cho Hữu Phước.
Đêm đó Hữu Phước và cô Xuân vừa ăn lẫu vừa chuyện trò làm quen với nhau, còn anh Văn Lang bỏ ra về. Hữu Phước sau khi ăn cũng trở về rạp hát, anh hỏi tôi có ý kiến gì về chuyện này không ?
Tôi nói : « Tuy thơ gởi lầm địa chỉ nhưng cô Xuân quá điệu nghệ, cô vẫn đãi một tiệc thịnh soạn cho Hữu Phước. Bây giờ thì Hữu Phước nên rút lui, trả lại sân chơi cho anh Văn Lang, giữ tình nghĩa bạn đồng nghiệp với nhau.»
Hữu Phước nói : « Cô Xuân không phải là người tình của anh Văn Lang. Cô quen biết và ái mộ nhiều nghệ sĩ cải lương các đoàn hát. Những người có giọng ca hay, hát giỏi thường được cô Xuân mời đãi ăn, có khi tặng quà, tặng tiền. Cô thích giọng ca của tôi, tại sao biểu tôi rút lui là sao ?» Hữu Phước và Văn Lang bắt đầu có gay cấn.
Trong tuồng có màn đánh kiếm thì Văn Lang và Hữu Phước đánh với nhau toé lửa, tôi phải đi kiếm ông Nguyễn Huỳnh Phước về để ổng ngăn cản hai người. Khi hát thì Văn Lang hát lấn lướt những câu đối thoại của Hữu Phước. Khi Hữu Phước ca vọng cổ với nhân vật Văn Lang đóng thì đôi khi Văn Lang ngoảnh đi để cho Hữu Phước ca không có người giao lưu hoặc Văn Lang bước vô hậu trường, bỏ Hữu Phước đứng ca chơi vơi ngoài sân khấu. Cô Kim Thoa hoặc nghệ sĩ lão thành Hai Tiền phải bước ra sân khấu, hát cương để cho Hữu Phước ca được trọn vẹn mấy câu vọng cổ đó. Hữu Phước cũng tìm cách phá Văn Lang khi anh ca vọng cổ.
Ông Nguyễn Huỳnh Phước lấy tư cách là đàn anh của hai bạn đó để dàn xếp, Văn Lang và Hữu Phước không cãi lại nhưng cả hai vẫn giữ thái độ đối chọi nhau.
Khi đoàn quảng cáo hát tuồng Tráng sĩ Kinh Kha, anh Văn Lang trước đây đóng vai chánh Kinh Kha, Hữu Phước vai Cao Tiệm Ly, nay Văn Lang không chịu hát, anh nói anh đau, xin cho đóng vai Cao Tiệm Ly, chỉ một màn tiễn Kinh Kha rồi nghỉ, để Hữu Phước đóng vai Kinh Kha.
Vai Cao Tiệm Ly tuy chỉ có một cảnh thổi sáo tiễn Kinh Kha qua sông Dịch, đến Tần Bang để hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng có hai câu vọng cổ hay, Văn Lang từng đóng cả hai vai Kinh Kha và Cao Tiệm Ly, anh thuộc tuồng nên khi đổi vai, đối với Văn Lang, không có gì khó khăn cả.
Anh Nguyễn Huỳnh Phước hỏi Hữu Phước :« Đây là vai của kép chánh, nếu cậu liệu hát nổi thì sau lần này cậu sẽ thành kép chánh. Đó là giống như cá chép vượt được vũ môn để trở thành rồng. Nếu cậu chưa tự tin thì chờ tuồng khác, tập kỹ rồi sẽ hát vai chánh…»
Hữu Phước : « Anh Hai yên chí, em sẽ làm được. Em nhờ anh Nguyễn Phương đứng bên cánh gà, nhắc em mấy câu vọng cổ trong tuồng. Em nhứt định không để cho khán giả chê cười em đâu ! »
Hữu Phước nhờ ông Hai Tiền làm cho anh bộ râu quai hàm để hóa trang một Kinh Kha bậm trợn, mắt sếch, râu quai hàm rậm ri. Ông Hai nhận lời vì ông là chuyên viên làm râu, tóc trong đoàn hát.
Hữu Phước bỏ đi biệt dạng tới gần chiều tối mới thấy anh trở về, tay ôm một bọc vải, vừa đi vừa ca mấy câu vọng cổ của vai Kinh Kha.
Hữu Phước cho tôi biết anh xin vé mời đến mời cô Xuân và cháu của cô xem hát, nhân dịp đó anh than thở Văn Lang chơi xấu. thấy anh nhỏ con ốm yếu, đẩy cho anh hát vai Kinh Kha để cho khán giả cười chơi. Cô Xuân và Thu Hà tình nguyện may gấp hai cái áo lót bông gòn, độn ngực, độn vai cho Hữu Phước, nhờ đó Hữu Phước khi mặc áo giáp của tráng sĩ Kinh Kha, anh cũng ra vẽ người có vai u thịt bắp, đường hoàng một tráng sĩ dọc ngang thời chiến quốc. Ông Hai Tiền hóa trang mặt cho Hữu Phước, ông gắn râu quai hàm, gắn Chân mày sếch và dậm mặt cho Hữu Phước thể hiện một trang tráng sĩ đầy khí phách. Giọng nói lối, giọng ca của Hữu Phước như ru hồn cả khán phòng. Tôi nghĩ lả không cần tốn công quá lắm trong việc hóa trang vai Kinh Kha, chỉ riêng tiếng ca ngâm của Hữu Phước cũng đủ kéo khán giả trở về cái thời Chiến quốc mấy ngàn năm trước để mà rơi lệ thương cảm cho một tráng sĩ qua sông Dịch đi hành thích Tần Thuỷ Hoàng, khi ra đi gõ kiếm ca rằng : « Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn » (Để cho qúi độc giả cùng hòa mình vào cái không khí của đêm hát Tráng Sĩ Kinh Kha, tôi xin ghi lại vài câu vọng cổ trong lớp hát kỳ thú đó ) :
Kinh Kha : Nghe tiếng trúc với cung sầu nức nở
Trời vào thu sương khói phủ lê thê
Những âm ba theo hơi gió vọng về
Có phải lời tống biệt của Cao Tiệm Ly hiền hữu ?
Cao Tiệm Ly : Kinh Kha bạn, quán lạnh từ đây vắng bạn rồi
Phương trời biền biệt nước mây trôi
Anh đi trả vẹn hờn sông núi
Dịch Tbủy trăng chìm, lệ đắng môi.
Kinh Kha : Tuốt lưỡi gươm thề rộn vó câu
Thờ ơ khanh tướng, thẹn công hầu
Hàm Dương khói nhuộm màu binh biến
Gờn gợn Tràng Giang sóng bạc đầu.
Kinh Kha : Cao Tiệm Ly bạn ơi, tiếng trúc đêm nay sao đượm buồn áo não, tiễn đưa nhau xin đừng để cho đôi mi nức nở lệ vương… sầu… Khói sóng ven sông còn quyện gió giang đầu… Kha đến đây tạ từ hiền hữu, để lên đường dong ruỗi dặm trời xa. Từ đây có nhớ đến Kha - một người bạn tâm đồng, thì hãy rót chén rượu hồng khi gió lạnh vào đông, dạo khúc nhạc lòng tiễn đưa hồn người chiến sĩ.
Chén rượu tiễn đưa xin đừng vương máu lệ, hãy cười lên đi cho ấm dạ anh hùng… Bạn với tôi bao thuở đặng chung cùng.. để người thổi trúc kẻ ngồi nhịp phách, thu hẹp đất trời trong chén rượu đầy vơi.+ Nhưng trời Yên Bang còn tràn ngập máu xương rơi, gươm tráng sĩ nguyện dời non lấp biển, Kha ra đi dù ngày về không hẹn, nhưng tiếc gì thân thế bạn lòng ơi…
Cao hiền hữu, bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Giục ẩm tì bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Cao Tiệm Ly : Đêm nay sương trắng rơi nhiều quá
Phong vũ tiêu tiêu Dịch Thủy hàn
Kinh Kha : Chén rượu tiễn đưa đừng nhỏ lệ
Hãy cười, hãy cười cho rợn đất Yên Bang
Hãy cười lên đi, cười lên đi Cao hiền hữu.
Cao Tiệm Ly : Vâng, đệ cười lên đây…ha…ha…ha…
Kinh Kha : Kìa, sao trong tiếng cười vang có trộn pha nhiều nức nở, cũng như trong chén men nồng
có pha lẫn lệ ly tan…
Cao Tiệm Ly : Kinh Kha bạn ơi, anh ra đi biền biệt mấy quan san, khi trời tổ quốc vẫn chưa tan màu
máu lửa
Kinh Kha : Cao hiền hữu, những chén ly bôi hãy cùng nhau chia sẻ nữa, bởi rồi đây gió mưa khuya sẽ
tuôn rơi tầm tã nẻo Yên Bang…
Cao Tiệm Ly : Hãy uống nữa đi anh để rồi sau khi anh sang tận bên kia bờ sông Dịch Thủy, Ly ở đây sẽ
vắng bóng người tri kỷ, đêm từng đêm rũ rượi tiếng tiêu… sầu… Mưa gió thê lương nhỏ lệ
xuống chân cầu, khóc người đi không bao giờ trở lại, để nơi này nhớ mãi hận ngàn thu. Biết
lấy gì để tiễn đưa nhau, thôi thì mượn tiếng trúc với bầu rượu nóng, tiếng tơ trúc nói lên
tình tri kỷ, rượu hoàng hoa sưởi ấm dạ anh hùng.
Kinh Kha : Đa tạ, xin cám ơn Cao Tiệm Ly hiền hữu. Vâng, Kha uống cạn chung nầy và xin vĩnh biệt.
Cao Tiệm Ly : Hiền hữu ơi, rồi đây mang lưỡi gươm thề vào tận đất Hàm Dương, bạn sẽ trả được thù
quân quốc. Hãy cho tôi lau dòng nước mắt, bởi cạn chung này mình sẽ chia tay. Lạnh lùng
trời lả tả tuyết sương bay, sầu tóc tang đất trời còn nhỏ lệ. Ly tiễn bạn bằng tiếng tiêu nức
nở và ngâm câu nhất khứ bất lai hoàn. Nhổ neo rồi, nhổ neo rồi thuyền đã ra khơi, mưa
hay lệ mịt mờ vương khói sóng. Kha ơi, Kha đã đi rồi, tận chốn phương trời tôi nhớ thương
anh.
Đêm nay hai anh hát lớp này hay quá ! Hữu Phước và Văn Lang đều tập trung hết khả năng, dùng giọng ca êm nhứt, mùi nhứt và gởi cả tấm lòng trong câu ca nên chẳng những khán giả xúc động trước tình bạn thắm thiết giữa Kinh Kha và Cao Tiệm Ly mà chính Hữu Phước và Văn Lang, khi hai anh ca các câu vọng cổ này, hai anh tự cảm thấy như đôi bạn tri kỷ đau lòng khi phải chia tay nhau. Hai anh bất giác ôm nhau, lặng đi trong một khoảnh khắc xúc động sâu xa để tự cảm thấy lòng mình thương bạn mình hơn bao giờ hết.
Có hai khán giả đặc biệt xúc động mạnh khi xem lớp hát này, đó là cô Xuân và Thu Hà. Hai cô biết hai người bạn diễn sắp chia tay nhau vì một cuộc tranh tình, giờ đây họ đã về bên nhau, tình bằng hữu, tình đồng nghiệp của họ không có gì chia cắt được.
Ông bầu Nguyễn Huỳnh thở phào nhẹ nhỏm, hai kép chánh đã vui vẻ với nhau, phải chăng có bàn tay an bày của Tổ nghiệp ? Ông bầu Nguyễn Huỳnh dẫn Hữu Phước và Văn Lang đi ăn khuya, Hữu Phước chân thành xin lỗi Văn Lang và nói : « Tại em tự ái vì tưởng anh muốn phá em. Cô Xuân là vợ hai của Thiếu Tá H. ở tỉnh Phú Bổn. Cô thích cải lương, giúp nghệ sĩ chớ không có lòng lang chạ. Em xem cô Xuân như người chị đở đầu. Cô Xuân bốn mươi tuồi rồi, tuổi lớn gấp đôi em, em còn lo cho sự nghiệp sân khấu của mình, đâu có dám nghĩ bậy…»
Văn Lang : « Thì tại tao, tao lớn đầu, đáng là anh là chú của mày mà tao tự ái dởm. Mày ca vọng cổ hay hơn tao, có tương lai hơn tao… Thôi, kỳ này mãn contrat, tao cũng biết vị trí của tao ở đâu rồi. Chỉ mong đàn em như mày ráng học hát, theo nghiệp Tổ đàng hoàng… Tao cũng tới lúc phải biết mình biết người, tao lui là phải…»
Nguyễn Huỳnh : « Hai em đều tốt, nhưng đừng rời gánh hát của anh. Anh sẽ viết một tuồng có hai vai thật hay để hai em diễn… Trong cùng một đoàn hát, thương yêu tương nhượng nhau là điều tốt. Thôi bỏ qua chuyện này đi,ba đứa mình cạn ly trăm phần trăm, không ai được xa rời gánh hát này hết, Vậy hén ! Vô…trăm phần trăm…
Chỉ một tháng sau, đoàn Kim Thoa rã gánh tại tỉnh Gò Công. Hữu Phước sau cái chuyện đụng độ với Văn Lang, anh để hết tâm trí để học ca, học diễn. Phải sáu năm sau, phải qua nhiều đoàn hát, đến khi gia nhập đoàn Thanh Minh Thanh Nga thì tài nghệ và danh tiếng của giọng ca vàng Hữu Phước mới có một vị trí ổn định.
Nhớ những bạn vàng 60 năm trước.
Soạn giả Nguyễn Phương
Giọng ca vàng Hữu Phước và Sầu nữ Út Bạch Lan
Năm 1955, Hữu Phước, Y tá Be và tôi gia nhập gánh hát Kim Thoa của ông Bầu Ngô Thiên Khai, chồng của nữ nghệ sĩ Kim Thoa. Ông Nguyễn Huỳnh Phước, ( chồng của cô đào Ngọc Lợi ) là Giám đốc kỹ thuật sân khấu. Hữu Phước lúc đó còn trẻ, ca vọng cổ rất mùi nhưng chưa nổi danh và chưa biết hát nên anh chỉ được ông Nguyễn Huỳnh Phước cho ca vọng cổ ngoài màn trước khi đoàn hát chánh thức hát vào tuồng chánh. Hai nghệ sĩ lão thành Hai Tiền và Văn Lâu dạy cho Hữu Phước các động tác múa may theo vũ đạo tuồng Tàu, cách cầm quạt, cách dâng rượu, cách vuốt râu, đá giáp, các lối múa đao, múa kiếm. Vì làn hơi mỏng, giọng hát rất mùi nhưng âm lượng nhỏ nên Hữu Phước hát thành công các vai kép mùi, kép ca. Anh đóng vai kép võ không oai không vì sắc vóc nhỏ con.
Nghệ sĩ Văn Lang là kép chánh đoàn Việt Kịch Năm Châu, anh đóng vai Phạm Lải, hát cặp với nữ nghệ sĩ Kim Lan, vai Tây Thi tuồng Tây Thi Gái Nước Việt. Khi về đoàn Kim Thoa, kép chánh Văn Lang đóng tuồng cặp với ba cô đào chánh : Kim Thoa, Ngọc Lợi và Đoàn Thiên Kim.
Anh Văn Lang trắng trẻo, đẹp trai, cao ráo, giọng ca rất quyến rủ., nhất là khi anh hát các vai Lữ Bố, đôi mắt anh thật là sắc sảo, tình tứ. Trong giới nghệ sĩ cải lương, Văn Lang nổi tiếng là « kép đắt mèo nhứt», thường được nữ khán giả si mê, đeo đuổi, đãi tiệc, tặng quà, tặng tiền.
Đoàn Kim Thoa hát ở rạp Cầu Lầu - Vĩnh Long tuồng Phụng Nghi Đình, kép chánh Văn Lang vai Lữ Bố, cô Kim Thoa vai Điêu Thuyền, kép Văn Lâu vai Đổng Trác, Hữu Phước vai Lý Nhu, kép lão thành Hai Tiền vai Vương Tư Đồ. Đêm hát rất thành công, kép Văn Lang - Lữ Bố, mỗi lần vuốt lông trĩ, trụ bộ, hất mặt lên thì khán giả vổ tay ào ào. Đào Kim Thoa – Điêu Thuyền, yểu điệu, tình tứ ; Kép Văn Lâu - Đổng Trác dê Điêu Thuyền, khán giả cười vỡ rạp ! Kép Lý Nhu - Hữu Phước có giọng ca ru hồn, lôi cuốn khán giả một cách mãnh liệt.
Gần vãn hát, một cô gái đến cửa hậu trường xin vô gặp nghệ sĩ. Y tá Be gát cửa sau, không cho vô, nói nếu cô muốn nhắn gì với nghệ sĩ nào anh nhắn cho. Đó là lịnh của ông phó bầu Nguyễn Huỳnh Phước. Cô gái lấy sổ tay, xé một tờ, viết vội mấy hàng rồi chỉ tay vô phía nghệ sĩ đang ngồi gần bàn phấn. Y Tá Be nhìn theo ngón tay chỉ của cô gái, anh thấy Hữu Phước và Văn Lang , anh đinh ninh cô gái gởi thơ cho Hữu Phước nên nói : « Được rồi, tôi sẽ trao thơ cho anh ta! » Cô gái định nói gì thêm thì các anh dàn cảnh khiêng mấy tấm cảnh ra bên hông rạp để đưa cảnh khác vào thay, thành ra cô gái đành phải trở ra khán phòng để coi hát tiếp.
Y tá Be vô chỗ nghệ sĩ ngồi, kép Văn Lang hỏi : « Hồi nãy cô gái đó nói nhắn gì với tôi hả ?» Y tá Be nhớ lại, lúc cô bé nhóng chân nhìn vô phòng, chỉ hướng về phía Văn Lang và Hữu Phước vì hai người ngồi kế bên nhau, lúc đó Hữu Phước khoát khoát tay chào, còn Văn Lang thì gật gật cái đầu. Y tá Be là bạn của Hữu Phước nên anh thiên về Hữu Phước, anh trả lời cho Văn Lang biết là không có ai nhắn gởi gì anh, nói xong, Y tá Be dúi bức thư vô tay Hữu Phước rồi trở ra gác cửa hậu trường.
Vãn hát, Hữu Phước rửa mặt, bôi son phấn xong, mặc thêm chiếc áo măng tô rồi đi đến bungalow của tỉnh ở gần bờ sông, nơi cô gái viết giấy hẹn khi nãy. Y tá Be rủ tôi đi theo sau xa xa để coi ai hò hẹn với Hữu Phước.
Hồi trước Bungalow Vĩnh Long là câu lạc bộ sĩ quan Pháp, sau đình chiến năm 1954, Bungalow đó trở thành khách sạn sang trọng, tầng trệt mở nhà hàng restaurent, bán hải sản và thức ăn đặc sản của địa phương.
Hữu Phước và một cô gái độ hơn ba mươi tuổi đang ngồi chờ bồi bàn dọn lẩu cá bông lau. Chúng tôi ngồi bàn phía cửa vô. Vài phút sau, anh Văn Lang đến ngay bàn có Hữu Phước và cô gái đang ngồi. Thì ra cô gái và Văn Lang quen biết nhau, đêm đó cô mời Văn Lang đi ăn khuya, không ngờ Y tá Be đưa thư mời cho Hữu Phước. Cô cũng thích giọng ca của Hữu Phước nên sẳn dịp này cô làm quen với Hữu Phước.
Đêm đó, về rạp hát, Hữu Phước kể cho chúng tôi nghe chuyện gặp gỡ vừa rồi. Cô gái tên Xuân, chủ của một tiệm bán vải trong phố. Cô đưa thơ là cháu của cô Xuân. Vì lúc đưa thơ, cô chưa kịp nói đưa cho ai thì các anh dàn cảnh khiêng cảnh tới, cô lại thấy anh Văn Lang gật gật đầu nên cô yên tâm ra xem hát tiếp, không ngờ người đưa thơ đưa lầm cho Hữu Phước.
Đêm đó Hữu Phước và cô Xuân vừa ăn lẫu vừa chuyện trò làm quen với nhau, còn anh Văn Lang bỏ ra về. Hữu Phước sau khi ăn cũng trở về rạp hát, anh hỏi tôi có ý kiến gì về chuyện này không ?
Tôi nói : « Tuy thơ gởi lầm địa chỉ nhưng cô Xuân quá điệu nghệ, cô vẫn đãi một tiệc thịnh soạn cho Hữu Phước. Bây giờ thì Hữu Phước nên rút lui, trả lại sân chơi cho anh Văn Lang, giữ tình nghĩa bạn đồng nghiệp với nhau.»
Hữu Phước nói : « Cô Xuân không phải là người tình của anh Văn Lang. Cô quen biết và ái mộ nhiều nghệ sĩ cải lương các đoàn hát. Những người có giọng ca hay, hát giỏi thường được cô Xuân mời đãi ăn, có khi tặng quà, tặng tiền. Cô thích giọng ca của tôi, tại sao biểu tôi rút lui là sao ?» Hữu Phước và Văn Lang bắt đầu có gay cấn.
Trong tuồng có màn đánh kiếm thì Văn Lang và Hữu Phước đánh với nhau toé lửa, tôi phải đi kiếm ông Nguyễn Huỳnh Phước về để ổng ngăn cản hai người. Khi hát thì Văn Lang hát lấn lướt những câu đối thoại của Hữu Phước. Khi Hữu Phước ca vọng cổ với nhân vật Văn Lang đóng thì đôi khi Văn Lang ngoảnh đi để cho Hữu Phước ca không có người giao lưu hoặc Văn Lang bước vô hậu trường, bỏ Hữu Phước đứng ca chơi vơi ngoài sân khấu. Cô Kim Thoa hoặc nghệ sĩ lão thành Hai Tiền phải bước ra sân khấu, hát cương để cho Hữu Phước ca được trọn vẹn mấy câu vọng cổ đó. Hữu Phước cũng tìm cách phá Văn Lang khi anh ca vọng cổ.
Ông Nguyễn Huỳnh Phước lấy tư cách là đàn anh của hai bạn đó để dàn xếp, Văn Lang và Hữu Phước không cãi lại nhưng cả hai vẫn giữ thái độ đối chọi nhau.
Khi đoàn quảng cáo hát tuồng Tráng sĩ Kinh Kha, anh Văn Lang trước đây đóng vai chánh Kinh Kha, Hữu Phước vai Cao Tiệm Ly, nay Văn Lang không chịu hát, anh nói anh đau, xin cho đóng vai Cao Tiệm Ly, chỉ một màn tiễn Kinh Kha rồi nghỉ, để Hữu Phước đóng vai Kinh Kha.
Vai Cao Tiệm Ly tuy chỉ có một cảnh thổi sáo tiễn Kinh Kha qua sông Dịch, đến Tần Bang để hành thích Tần Thủy Hoàng nhưng có hai câu vọng cổ hay, Văn Lang từng đóng cả hai vai Kinh Kha và Cao Tiệm Ly, anh thuộc tuồng nên khi đổi vai, đối với Văn Lang, không có gì khó khăn cả.
Anh Nguyễn Huỳnh Phước hỏi Hữu Phước :« Đây là vai của kép chánh, nếu cậu liệu hát nổi thì sau lần này cậu sẽ thành kép chánh. Đó là giống như cá chép vượt được vũ môn để trở thành rồng. Nếu cậu chưa tự tin thì chờ tuồng khác, tập kỹ rồi sẽ hát vai chánh…»
Hữu Phước : « Anh Hai yên chí, em sẽ làm được. Em nhờ anh Nguyễn Phương đứng bên cánh gà, nhắc em mấy câu vọng cổ trong tuồng. Em nhứt định không để cho khán giả chê cười em đâu ! »
Hữu Phước nhờ ông Hai Tiền làm cho anh bộ râu quai hàm để hóa trang một Kinh Kha bậm trợn, mắt sếch, râu quai hàm rậm ri. Ông Hai nhận lời vì ông là chuyên viên làm râu, tóc trong đoàn hát.
Hữu Phước bỏ đi biệt dạng tới gần chiều tối mới thấy anh trở về, tay ôm một bọc vải, vừa đi vừa ca mấy câu vọng cổ của vai Kinh Kha.
Hữu Phước cho tôi biết anh xin vé mời đến mời cô Xuân và cháu của cô xem hát, nhân dịp đó anh than thở Văn Lang chơi xấu. thấy anh nhỏ con ốm yếu, đẩy cho anh hát vai Kinh Kha để cho khán giả cười chơi. Cô Xuân và Thu Hà tình nguyện may gấp hai cái áo lót bông gòn, độn ngực, độn vai cho Hữu Phước, nhờ đó Hữu Phước khi mặc áo giáp của tráng sĩ Kinh Kha, anh cũng ra vẽ người có vai u thịt bắp, đường hoàng một tráng sĩ dọc ngang thời chiến quốc. Ông Hai Tiền hóa trang mặt cho Hữu Phước, ông gắn râu quai hàm, gắn Chân mày sếch và dậm mặt cho Hữu Phước thể hiện một trang tráng sĩ đầy khí phách. Giọng nói lối, giọng ca của Hữu Phước như ru hồn cả khán phòng. Tôi nghĩ lả không cần tốn công quá lắm trong việc hóa trang vai Kinh Kha, chỉ riêng tiếng ca ngâm của Hữu Phước cũng đủ kéo khán giả trở về cái thời Chiến quốc mấy ngàn năm trước để mà rơi lệ thương cảm cho một tráng sĩ qua sông Dịch đi hành thích Tần Thuỷ Hoàng, khi ra đi gõ kiếm ca rằng : « Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn » (Để cho qúi độc giả cùng hòa mình vào cái không khí của đêm hát Tráng Sĩ Kinh Kha, tôi xin ghi lại vài câu vọng cổ trong lớp hát kỳ thú đó ) :
Kinh Kha : Nghe tiếng trúc với cung sầu nức nở
Trời vào thu sương khói phủ lê thê
Những âm ba theo hơi gió vọng về
Có phải lời tống biệt của Cao Tiệm Ly hiền hữu ?
Cao Tiệm Ly : Kinh Kha bạn, quán lạnh từ đây vắng bạn rồi
Phương trời biền biệt nước mây trôi
Anh đi trả vẹn hờn sông núi
Dịch Tbủy trăng chìm, lệ đắng môi.
Kinh Kha : Tuốt lưỡi gươm thề rộn vó câu
Thờ ơ khanh tướng, thẹn công hầu
Hàm Dương khói nhuộm màu binh biến
Gờn gợn Tràng Giang sóng bạc đầu.
Kinh Kha : Cao Tiệm Ly bạn ơi, tiếng trúc đêm nay sao đượm buồn áo não, tiễn đưa nhau xin đừng để cho đôi mi nức nở lệ vương… sầu… Khói sóng ven sông còn quyện gió giang đầu… Kha đến đây tạ từ hiền hữu, để lên đường dong ruỗi dặm trời xa. Từ đây có nhớ đến Kha - một người bạn tâm đồng, thì hãy rót chén rượu hồng khi gió lạnh vào đông, dạo khúc nhạc lòng tiễn đưa hồn người chiến sĩ.
Chén rượu tiễn đưa xin đừng vương máu lệ, hãy cười lên đi cho ấm dạ anh hùng… Bạn với tôi bao thuở đặng chung cùng.. để người thổi trúc kẻ ngồi nhịp phách, thu hẹp đất trời trong chén rượu đầy vơi.+ Nhưng trời Yên Bang còn tràn ngập máu xương rơi, gươm tráng sĩ nguyện dời non lấp biển, Kha ra đi dù ngày về không hẹn, nhưng tiếc gì thân thế bạn lòng ơi…
Cao hiền hữu, bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Giục ẩm tì bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Cao Tiệm Ly : Đêm nay sương trắng rơi nhiều quá
Phong vũ tiêu tiêu Dịch Thủy hàn
Kinh Kha : Chén rượu tiễn đưa đừng nhỏ lệ
Hãy cười, hãy cười cho rợn đất Yên Bang
Hãy cười lên đi, cười lên đi Cao hiền hữu.
Cao Tiệm Ly : Vâng, đệ cười lên đây…ha…ha…ha…
Kinh Kha : Kìa, sao trong tiếng cười vang có trộn pha nhiều nức nở, cũng như trong chén men nồng
có pha lẫn lệ ly tan…
Cao Tiệm Ly : Kinh Kha bạn ơi, anh ra đi biền biệt mấy quan san, khi trời tổ quốc vẫn chưa tan màu
máu lửa
Kinh Kha : Cao hiền hữu, những chén ly bôi hãy cùng nhau chia sẻ nữa, bởi rồi đây gió mưa khuya sẽ
tuôn rơi tầm tã nẻo Yên Bang…
Cao Tiệm Ly : Hãy uống nữa đi anh để rồi sau khi anh sang tận bên kia bờ sông Dịch Thủy, Ly ở đây sẽ
vắng bóng người tri kỷ, đêm từng đêm rũ rượi tiếng tiêu… sầu… Mưa gió thê lương nhỏ lệ
xuống chân cầu, khóc người đi không bao giờ trở lại, để nơi này nhớ mãi hận ngàn thu. Biết
lấy gì để tiễn đưa nhau, thôi thì mượn tiếng trúc với bầu rượu nóng, tiếng tơ trúc nói lên
tình tri kỷ, rượu hoàng hoa sưởi ấm dạ anh hùng.
Kinh Kha : Đa tạ, xin cám ơn Cao Tiệm Ly hiền hữu. Vâng, Kha uống cạn chung nầy và xin vĩnh biệt.
Cao Tiệm Ly : Hiền hữu ơi, rồi đây mang lưỡi gươm thề vào tận đất Hàm Dương, bạn sẽ trả được thù
quân quốc. Hãy cho tôi lau dòng nước mắt, bởi cạn chung này mình sẽ chia tay. Lạnh lùng
trời lả tả tuyết sương bay, sầu tóc tang đất trời còn nhỏ lệ. Ly tiễn bạn bằng tiếng tiêu nức
nở và ngâm câu nhất khứ bất lai hoàn. Nhổ neo rồi, nhổ neo rồi thuyền đã ra khơi, mưa
hay lệ mịt mờ vương khói sóng. Kha ơi, Kha đã đi rồi, tận chốn phương trời tôi nhớ thương
anh.
Đêm nay hai anh hát lớp này hay quá ! Hữu Phước và Văn Lang đều tập trung hết khả năng, dùng giọng ca êm nhứt, mùi nhứt và gởi cả tấm lòng trong câu ca nên chẳng những khán giả xúc động trước tình bạn thắm thiết giữa Kinh Kha và Cao Tiệm Ly mà chính Hữu Phước và Văn Lang, khi hai anh ca các câu vọng cổ này, hai anh tự cảm thấy như đôi bạn tri kỷ đau lòng khi phải chia tay nhau. Hai anh bất giác ôm nhau, lặng đi trong một khoảnh khắc xúc động sâu xa để tự cảm thấy lòng mình thương bạn mình hơn bao giờ hết.
Có hai khán giả đặc biệt xúc động mạnh khi xem lớp hát này, đó là cô Xuân và Thu Hà. Hai cô biết hai người bạn diễn sắp chia tay nhau vì một cuộc tranh tình, giờ đây họ đã về bên nhau, tình bằng hữu, tình đồng nghiệp của họ không có gì chia cắt được.
Ông bầu Nguyễn Huỳnh thở phào nhẹ nhỏm, hai kép chánh đã vui vẻ với nhau, phải chăng có bàn tay an bày của Tổ nghiệp ? Ông bầu Nguyễn Huỳnh dẫn Hữu Phước và Văn Lang đi ăn khuya, Hữu Phước chân thành xin lỗi Văn Lang và nói : « Tại em tự ái vì tưởng anh muốn phá em. Cô Xuân là vợ hai của Thiếu Tá H. ở tỉnh Phú Bổn. Cô thích cải lương, giúp nghệ sĩ chớ không có lòng lang chạ. Em xem cô Xuân như người chị đở đầu. Cô Xuân bốn mươi tuồi rồi, tuổi lớn gấp đôi em, em còn lo cho sự nghiệp sân khấu của mình, đâu có dám nghĩ bậy…»
Văn Lang : « Thì tại tao, tao lớn đầu, đáng là anh là chú của mày mà tao tự ái dởm. Mày ca vọng cổ hay hơn tao, có tương lai hơn tao… Thôi, kỳ này mãn contrat, tao cũng biết vị trí của tao ở đâu rồi. Chỉ mong đàn em như mày ráng học hát, theo nghiệp Tổ đàng hoàng… Tao cũng tới lúc phải biết mình biết người, tao lui là phải…»
Nguyễn Huỳnh : « Hai em đều tốt, nhưng đừng rời gánh hát của anh. Anh sẽ viết một tuồng có hai vai thật hay để hai em diễn… Trong cùng một đoàn hát, thương yêu tương nhượng nhau là điều tốt. Thôi bỏ qua chuyện này đi,ba đứa mình cạn ly trăm phần trăm, không ai được xa rời gánh hát này hết, Vậy hén ! Vô…trăm phần trăm…
Chỉ một tháng sau, đoàn Kim Thoa rã gánh tại tỉnh Gò Công. Hữu Phước sau cái chuyện đụng độ với Văn Lang, anh để hết tâm trí để học ca, học diễn. Phải sáu năm sau, phải qua nhiều đoàn hát, đến khi gia nhập đoàn Thanh Minh Thanh Nga thì tài nghệ và danh tiếng của giọng ca vàng Hữu Phước mới có một vị trí ổn định.
Nhớ những bạn vàng 60 năm trước.
Soạn giả Nguyễn Phương
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền