Cố soạn giả Ngọc Linh với một cấu trúc đẹp trong vở Muôn Dặm Vì Chồng
- Thứ tư - 29/01/2014 11:40
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Thời hoàng kim nhất của sân khấu cải lương là giai đoạn mười lăm năm sau 75 (1975 - 1990), sân khấu phía Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng rực rỡ với biết bao vở diễn đã làm nức lòng người. Thông qua hình ảnh các nhân vật mà biết bao nghệ sĩ tài danh đã thăng hoa từ dạo ấy, nhiều soạn giả và đạo diễn tuy đứng trong cánh gà sân khấu, nhưng tên tuổi vẫn sáng chói, bởi nhiều tác phẩm đến hôm nay vẫn còn dấu ấn trong lòng công chúng. Vở cải lương lịch sử “Muôn dặm vì chồng” của cố nhà văn - soạn giả Ngọc Linh đã góp phần không nhỏ dệt đẹp sắc màu trên sân khấu Văn Công TP một thời vang bóng.
Là
vở
cải
lương
đề
tài
lịch
sử,
thể
tài
bi
lạc
quan,
là
một
trong
bốn
vở
thành
công
của
ông
Ngọc
Linh
ở
đề
tài
này,
mà
ông
đã
viết
từ
năm
1980
–
1987.
Riêng
“Muôn
dặm
vì
chồng”
tác
giả
đã
nhấn
mạnh
ở
lớp
bà
Nguyễn
Thị
Tồn
vượt
suối
trèo
non
ngàn
dặm,
để
đến
kinh
kêu
oan
cho
chồng
là
Bùi
Hữu
Nghĩa
(quan
tri
phủ
Trà
Vang
-
tỉnh
Vĩnh
Long).
Lớp
diễn
Bà
Tồn
gặp
Quan
Bộ
lại
Thượng
Thư
có
thể
xem
là
lớp
hay
nhất
trong
vở,
được
công
chúng
nhớ
đến
nhiều
nhất,
cũng
là
lớp
đẩy
cao
trào
kịch
lên
đến
đỉnh
điểm
và
chuyên
chở
toàn
bộ
chủ
đề
tư
tưởng
của
vở
diễn.
Sự
thành
công
trước
tiên
là
tác
giả
đã
hoàn
chỉnh
các
yếu
tố
xây
dựng
kịch
bản,
với
cơ
bản
đó
vở
diễn
không
chỉ
kéo
dài
tuổi
thọ
một
thời
trên
sân
khấu
Văn
Công,
mà
còn
tiếp
tục
ghi
những
chiến
công
sau
này:
HCV
(đài
TH
TPHCM),
Liên
hoan
sân
khấu
truyền
hình
toàn
quốc
(1990),
huy
chương
bạc
(đài
TH
Đồng
Nai),
Liên
hoan
sân
khấu
truyền
hình
toàn
quốc
(1998)...Cái
hay
của
lớp
này,
ngoài
thủ
thuật
biên
kịch,
xây
dựng
tâm
trạng
nhân
vật
ở
hoàn
cảnh
bi
kịch
cao
trào,
tác
giả
còn
chọn
giai
điệu
âm
nhạc
cấu
trúc
rất
độc
đáo.
Lớp này nằm ở cảnh 4 của vở, chỉ gói gọn trong 2 điệu: Ngựa ô Bắc, lớp Xế xảng và 2 câu vọng cổ (5 và 6). Điệu Ngựa ô Bắc là bản vắn nằm trong nhóm bài bản cải lương, nhưng mang âm điệu của hơi Bắc, có ba “mô” và nhiều nhịp ngoại. Có tính chất mạnh mẽ và gay gắt, thường dùng trong những tình huống tâm lý nhân vật bị ức chế hoặc lúc tự phụ kêu căng, nhưng lại tự sự để phân trần tâm sự. Lúc này Thạch Loan đè nén sự uất ức của mình bênh vực cho bà Tồn, kể lại cho quan Thượng thư nghe về việc Bá Hộ Vinh, cha con Bố Chánh Truyện đàn áp dân lành, đút lót cho Trương Văn Quyển và tổng đốc Vĩnh Long ..Xế Xảng và lớp ngắn (3 câu) trong bản Văn Thiên Tường, là bài bản nằm trong điệu thức oán nhưng là oán phụ, tính chất của nó bi, thường được sử dụng trong hoàn cảnh nhân vật có tâm trạng bức xúc bi thương, để than vãn và kể lể...lúc mà quan Thượng thư như không còn cách chi giúp bà Tồn , vì một chút lòng nhân an ủi bà, quan Thượng thư ban bố cho bà ít tiền để làm lộ phí trở về Nam. Bấy giờ bà Tồn (NS Mỹ Châu) nghẹn ngào, dồn nén đau thương tột cùng than thở trong tuyệt vòng , Mỹ Châu ém hơi nói đứt quãng “Đại nhân....trời ơi...ơi hỡi...phu quân ơi...”, tức là kéo nhỏ giọng ngân hơi rồi nhấn chữ “cống” của Xế xảng (ơi hỡi), nghe bi thương não ruột, khiến tâm trạng người kiến diện phải mền lòng...Tác giả kịch bản đã đưa Xế Xảng lúc này thật là tuyệt vời. Bà Tồn không nhận tiền ban bố của quan Thượng Thư, thái độ của bà đã làm cho quan sững sờ “ta thật lòng muốn giúp phu nhân mà. Phu nhân còn muốn gì nữa?”. Bà Tồn tiếp tục tự sự than vãn để minh oan bằng lời lẽ đầy thuyết phục qua 2 câu vọng cổ 5 và 6, vọng cổ là hơi Nam – oán nhưng lại rộng đường tự sự ở các tính cách : hỉ - nộ - ái - ố...nó hoàn cảnh vào tình cảnh kịch và ngôn ngữ của tác giả , điều đó đã được ông Ngọc Linh dồn tâm tình của mình vào nhân vật để nhấn ở lớp này, làm cho phẩm giá chịu thương chịu khó của người phụ nữ Nam Bộ qua hình ảnh nhân vật Nguyễn Thị Tồn trở nên tiêu biểu hơn.
Ông Ngọc Linh không phải là nhạc sĩ cải lương , cũng không xuất thân từ giới nhạc tài tử, ông là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết và ký giả kịch trường từ những năm của thập niên 50, sau đó viết kịch bản cho kịch nói, phim truyện và ông cũng tự học hỏi để viết cải lương...Ở loại hình nào ông cũng đã để lại khá nhiều tác phẩm giá trị, điều này NSND - đạo diễn Huỳnh Nga đã nói “ Tác phẩm của Ngọc Linh luôn mang tính hấp dẫn và tuổi thọ kéo dài, có khi trên mấy chục năm. Ngoài tính chân thật vốn có của tác phẩm, kỹ thuật viết tiểu thuyết và viết kịch bản sân khấu của anh đã đạt đến một trình độ khá cao”. Ở ông có thể thấy vốn sống phong phú từ cuộc sống từng trải với nghề với đời, sinh ra ở miền Tây (Cà Mau), học hành ở Vĩnh Long, làm nghề ở Sài Gòn , đặc biệt là tiếp cận với nhiều thế hệ nghệ sĩ tài danh ...tức là đã sống trong nghề. Chính lớp này như thế, từ điệu Ngựa Ô Bắc gây xung đột để phát triển đến cao trào ở lớp Xế Xảng đầy nổi bức xúc ngổn ngang của nhân vật, tạo tình huống cho NS Mỹ Châu vô hai câu vọng cổ ngọt ngào, vừa bộc lộ nổi niềm của bà Tồn, lại vừa thích hợp với giọng buồn buồn “Dây xề đậy” riêng biệt của NS Mỹ Châu, các yếu tố nghệ thuật được nhuận sắc đậm chất ca – kịch.
Lớp này nằm ở cảnh 4 của vở, chỉ gói gọn trong 2 điệu: Ngựa ô Bắc, lớp Xế xảng và 2 câu vọng cổ (5 và 6). Điệu Ngựa ô Bắc là bản vắn nằm trong nhóm bài bản cải lương, nhưng mang âm điệu của hơi Bắc, có ba “mô” và nhiều nhịp ngoại. Có tính chất mạnh mẽ và gay gắt, thường dùng trong những tình huống tâm lý nhân vật bị ức chế hoặc lúc tự phụ kêu căng, nhưng lại tự sự để phân trần tâm sự. Lúc này Thạch Loan đè nén sự uất ức của mình bênh vực cho bà Tồn, kể lại cho quan Thượng thư nghe về việc Bá Hộ Vinh, cha con Bố Chánh Truyện đàn áp dân lành, đút lót cho Trương Văn Quyển và tổng đốc Vĩnh Long ..Xế Xảng và lớp ngắn (3 câu) trong bản Văn Thiên Tường, là bài bản nằm trong điệu thức oán nhưng là oán phụ, tính chất của nó bi, thường được sử dụng trong hoàn cảnh nhân vật có tâm trạng bức xúc bi thương, để than vãn và kể lể...lúc mà quan Thượng thư như không còn cách chi giúp bà Tồn , vì một chút lòng nhân an ủi bà, quan Thượng thư ban bố cho bà ít tiền để làm lộ phí trở về Nam. Bấy giờ bà Tồn (NS Mỹ Châu) nghẹn ngào, dồn nén đau thương tột cùng than thở trong tuyệt vòng , Mỹ Châu ém hơi nói đứt quãng “Đại nhân....trời ơi...ơi hỡi...phu quân ơi...”, tức là kéo nhỏ giọng ngân hơi rồi nhấn chữ “cống” của Xế xảng (ơi hỡi), nghe bi thương não ruột, khiến tâm trạng người kiến diện phải mền lòng...Tác giả kịch bản đã đưa Xế Xảng lúc này thật là tuyệt vời. Bà Tồn không nhận tiền ban bố của quan Thượng Thư, thái độ của bà đã làm cho quan sững sờ “ta thật lòng muốn giúp phu nhân mà. Phu nhân còn muốn gì nữa?”. Bà Tồn tiếp tục tự sự than vãn để minh oan bằng lời lẽ đầy thuyết phục qua 2 câu vọng cổ 5 và 6, vọng cổ là hơi Nam – oán nhưng lại rộng đường tự sự ở các tính cách : hỉ - nộ - ái - ố...nó hoàn cảnh vào tình cảnh kịch và ngôn ngữ của tác giả , điều đó đã được ông Ngọc Linh dồn tâm tình của mình vào nhân vật để nhấn ở lớp này, làm cho phẩm giá chịu thương chịu khó của người phụ nữ Nam Bộ qua hình ảnh nhân vật Nguyễn Thị Tồn trở nên tiêu biểu hơn.
Ông Ngọc Linh không phải là nhạc sĩ cải lương , cũng không xuất thân từ giới nhạc tài tử, ông là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết và ký giả kịch trường từ những năm của thập niên 50, sau đó viết kịch bản cho kịch nói, phim truyện và ông cũng tự học hỏi để viết cải lương...Ở loại hình nào ông cũng đã để lại khá nhiều tác phẩm giá trị, điều này NSND - đạo diễn Huỳnh Nga đã nói “ Tác phẩm của Ngọc Linh luôn mang tính hấp dẫn và tuổi thọ kéo dài, có khi trên mấy chục năm. Ngoài tính chân thật vốn có của tác phẩm, kỹ thuật viết tiểu thuyết và viết kịch bản sân khấu của anh đã đạt đến một trình độ khá cao”. Ở ông có thể thấy vốn sống phong phú từ cuộc sống từng trải với nghề với đời, sinh ra ở miền Tây (Cà Mau), học hành ở Vĩnh Long, làm nghề ở Sài Gòn , đặc biệt là tiếp cận với nhiều thế hệ nghệ sĩ tài danh ...tức là đã sống trong nghề. Chính lớp này như thế, từ điệu Ngựa Ô Bắc gây xung đột để phát triển đến cao trào ở lớp Xế Xảng đầy nổi bức xúc ngổn ngang của nhân vật, tạo tình huống cho NS Mỹ Châu vô hai câu vọng cổ ngọt ngào, vừa bộc lộ nổi niềm của bà Tồn, lại vừa thích hợp với giọng buồn buồn “Dây xề đậy” riêng biệt của NS Mỹ Châu, các yếu tố nghệ thuật được nhuận sắc đậm chất ca – kịch.
ĐỖ DŨNG