Câu ca dao đúng phải là: “Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi Khó đi mượn chén ăn cơm Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi” nói lên bản tánh hiếu khách của người miền Nam. Một chi tiết nhỏ nhưng lý thú về diễn viên của tuồng Tuyệt Tình Ca: Phượng Liên là cô đào độc nhất thủ cả hai vai con và mẹ trong vở hát. Lê Thị Trường An trong DVD Tuyệt Tình Ca do Thúy Nga phát hành và bà Lê Thị Lan trong trích đoạn đã nói với Thành Được. Một điều thường thấy ở các vở hát và phim ảnh là sự lẫn lộn về thời gian tính. Tuyệt Tình Ca dù hoàn hảo về mặt tình tiết cũng không tránh khuyết điểm này. Điển hình là cuộc chia tay giữa ông Hương và bà Lan trên bến sông Mỹ Thuận. Chắc các bạn còn nhớ bà Lan tâm sự: “Đây, bộ bà ba lụa lèo mà chồng tôi bận hai mươi năm về trước Lượt sau cùng ảnh bận là buổi tối mà SÁNG ra ảnh ra bến Mỹ Thuận để về tỉnh Mỹ Tho” Và ông Hương đã nói: “Tôi đang đứng trước mặt mình đây. Tôi đứng đây mà tưởng như đang đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, khi mình quay xuồng tách bến để trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói HOÀNG HÔN, con nước lớn lục bình trôi rời rạt. CHIỀU đã xuống mặt trường giang bát ngát mà bóng người thương lẩn khuất giữa sông… đầy.” Bà nói ông đi buổi sáng, ông nói ông đi
Não nùng bản “Tuyệt Tình Ca”
- Thứ hai - 15/10/2012 10:19
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Sơ
lược
cốt
truyện:
Ông
giáo
Nguyễn
Văn
Hương
từ
Mỹ
Tho
được
đổi
về
dạy
học
tại
Vĩnh
Long.
Dù
đã
có
vợ
con
ở
tại
nguyên
quán,
ông
vẫn
dan
díu
với
một
bạn
đồng
nghiệp
là
cô
giáo
Lê
Thị
Lan
và
có
thêm
hai
mặt
con:
Lê
Thị
Trường
An
và
Lê
Long
Hồ.
Sau
đó
vì
việc
nhà
ông
phải
trở
lại
Mỹ
Tho
và
chiến
tranh
đã
làm
ông
mất
liên
lạc
với
gia
đình
người
vợ
thứ.
Hai
mươi
năm
sau,
ông
Hương
nay
là
cảnh
sát
trưởng
quận
9
tại
Sài
Gòn,
vẫn
thương
nhớ
người
vợ
lẽ
biệt
tăm,
sống
với
vợ
lớn
trong
một
gia
đình
không
được
êm
ấm.
Vợ
cờ
bạc
còn
con
trai
lớn,
Nhân,
chỉ
đua
đòi
ăn
chơi,
bỏ
bê
việc
học.
Nhân
không
bằng
lòng
với
cuộc
hôn
nhân
xếp
đặt
với
Kim
Hồng,
con
gái
ông
Sa,
người
bạn
thân
của
gia
đình.
Nhân
bắt
tình
với
Thoa,
trước
đây
là
thư
ký
riêng
của
ông
Sa.
Bà
Sa
biết
chồng
có
nhân
tình,
đến
đánh
ghen
bắt
được
quả
tang
ông
Sa
và
Thoa.
Ông
Hương
vì
nhiệm
vụ
phải
gác
tình
bạn,
thẩm
vấn
hai
bị
can.
Ông
khám
phá
ra
Thoa
chính
là
Lê
Thị
Trường
An,
con
gái
của
ông
nhưng
chưa
dám
nhận.
Hồ
đến
tìm
chị
tại
bót
cảnh
sát,
và
đã
tức
giận
bỏ
ra
về
sau
khi
biết
chị
là
một
cô
gái
giang
hồ.
Trường
An
đưa
ông
Hương
về
gặp
mẹ,
đang
bị
bệnh
nặng.
Vợ
chồng,
cha
con
trùng
phùng
trong
một
hoàn
cảnh
đầy
não
nùng,
đau
khổ.
Ông
Hương
nay
phải
đứng
trước
lương
tâm
chánh
trực
của
người
cầm
cân
nẩy
mực
và
hoàn
cảnh
xót
xa
của
một
người
cha.
Lúc
đầu
vở
tuồng
có
tên
là
Người
Đối
Diện
Lương
Tâm,
sau
đổi
là
Tuyệt
Tình
Ca
có
lẽ
vì
tên
nghe
ăn
khách
hơn.
Có
người
còn
gọi
là
Ông
Cò
Quận
9
nhưng
thật
ra
đó
chỉ
là
vai
diễn
của
nghệ
sĩ
Út
Trà
Ôn.
Ông
đã
quá
xuất
sắc
nên
khi
nhắc
đến
Tuyệt
Tình
Ca
là
người
ta
nhớ
ngay
đến
“Ông
Cò
Quận
9.”
Hoa
Phượng
thường
hay
viết
chung
với
Hà
Triều,
và
cặp
Bá
Nha,
Tử
Kỳ
này
của
sân
khấu
cải
lương
đã
cho
ra
đời
nhiều
vở
tuồng
bất
hủ
như
Nửa
Đời
Hương
Phấn,
Tấm
Lòng
Của
Biển,
Con
Gái
Chị
Hằng,
v.v.
nhưng
sau
đó
cặp
soạn
giả
thiên
tài
Hà
Triều
và
Hoa
Phượng
đã
tách
ra.
Hà
Triều
ở
lại
đoàn
Thanh
Minh
Thanh
Nga
còn
Hoa
Phượng
về
với
đoàn
Dạ
Lý
Hương.
Và
tuồng
Tuyệt
Tình
Ca
được
hai
soạn
giả
Hoa
Phượng
và
Ngọc
Ðiệp
(không
phải
Ngọc
Diệp
như
trên
bìa
in
DVD
Tuyệt
Tình
Ca
do
Thúy
Nga
phát
hành
tại
hải
ngoại)
hợp
tác
soạn
ra.
Vào
thời
đó
thủ
đô
Sài
Gòn
chỉ
được
chia
ra
làm
tám
quận.
Nếu
đặt
ông
Hương
vào
làm
cảnh
sát
trưởng
của
một
trong
tám
quận
thì
đụng
chạm
quá.
Rủi
ông
cảnh
sát
trưởng
nào
có
tật
giật
mình
lại
càng
nguy
hơn
nửa.
Bởi
vậy
nên
tuồng
hát
mới
có
quận
9.
Ai
dè
về
sau
Sài
Gòn
lại
có
đến
quận
11
nhưng
chánh
quyền
miền
Nam
cũng
dễ
dãi
nên
cứ
giữ
luôn.
Khi
trình
diễn
trên
sân
khấu
Dạ
Lý
Hương,
Bạch
Tuyết
thủ
vai
Lê
Thị
Trường
An,
Hùng
Cường
vai
Nhân,
Thanh
Sang
vai
Lê
Long
Hồ,
Tư
Rọm
vai
ông
Sa,
Mai
Lan
vai
bà
vợ
lớn
của
ông
Hương,
Hồng
Nga
vai
bà
Lê
Thị
Lan,
và
vai
quan
trọng
nhất
là
ông
cò
Hương
do
Út
Trà
Ôn
thủ
diễn.
Về
sau
khi
thu
dĩa
(hay
thu
băng),
vai
ông
Sa
do
Văn
Chung
đóng
và
Út
Bạch
Lan
thế
vào
vai
bà
Lan.
Tất
cả
các
diễn
viên
đều
rất
xuất
sắc
cả
trên
sân
khấu
lẫn
trong
băng,
dĩa.
Mỗi
người
mỗi
vẻ,
người
nào
cũng
đóng
tròn
vẹn
nếu
không
nói
là
tuyệt
vời
vai
trò
của
mình.
Văn
Chung
trong
dĩa
(băng)
tuy
có
cái
chất
“dê
xồm”
của
một
ông
chủ
mất
nết,
lợi
dụng
hoàn
cảnh
túng
ngặt
mà
đưa
đẩy
cô
thư
ký
Trường
An
sâu
vào
đường
sa
ngã
nhưng
cái
mĩa
mai
không
bằng
Tư
Rọm
khi
gặp
người
bạn
thân
và
cũng
là
ông
sui
hụt
trong
phòng
thẩm
vấn.
Có
lẽ
vì
Văn
Chung
đã
chuyển
sang
vai
hài
nên
chất
hài
thấm
nhập
nhiều
hơn
chăng?
Tư
Rọm
chuyên
về
các
vai
độc,
lưu
manh
nên
đoạn
đối
thoại
với
ông
cò
Hương
hay
hơn
chăng?
Tuy
nhiên
cái
khiếm
khuyết
nhỏ
đó
không
tạo
ra
một
tì
vết
nào
trong
sự
diễn
xuất
của
hai
nghệ
sĩ
lớn
nầy.
Vai
Nhân
của
Hùng
Cường
chỉ
là
vai
phụ
nhưng
anh
cũng
đóng
rất
trọn.
Thú
vị
nhất
là
cuộc
đối
thoại
lúc
anh
gặp
ông
Sa,
ông
cha
vợ
hụt,
ở
phòng
riêng
của
Thoa.
Vừa
dí
dỏm,
vừa
ngang
tàng.
Soạn
giả
đã
không
đào
sâu
thêm
vào
vai
trò
của
Nhân
trong
vở
tuồng
có
lẽ
để
tránh
một
taboo
là
sự
loạn
luân,
dù
không
cố
ý,
giữa
hai
anh
em
cùng
cha
khác
mẹ.
Và
cũng
tránh
cho
ông
cò
Hương
thêm
sự
đau
khổ
trước
khi
tuồng
hát
bước
vào
“emotional
climax”
là
cuộc
tái
ngộ
đầy
nước
mắt
với
bà
Lan.
Đây
là
một
điều
hay
vì
thêm
sự
dày
vò
cho
ông
Hương
lúc
nầy
sẽ
đưa
khán
giả
lên
đỉnh
cao
cảm
xúc
quá
sớm
và
hậu
quả
là
làm
giảm
bớt
cái
xúc
động
tràn
đầy
khi
cặp
vợ
chồng
cũ
gặp
lại
nhau
sau
hơn
hai
mươi
năm
cách
biệt.
Thanh
Sang
trong
vai
Lê
Long
Hồ
đã
rất
thành
công.
Đây
cũng
là
một
vai
đúng
ni
tấc
của
vở
tuồng.
Tôi
nhớ
lại
một
điều
thật
thú
vị
trong
lần
tuồng
Tuyệt
tình
ca
được
trực
tiếp
truyền
thanh
trên
đài
phát
thanh
Sài
Gòn.
Lúc
cậu
Hồ
gặp
chị
tại
bót
cảnh
sát,
cậu
đã
hỏi
một
cách
tự
nhiên:
“Tại
sao
chị
bị
bắt?
Chị
làm
tội
gì?
Có
làm
chánh
trị
không?”
Tới
đây
khán
giả
trong
radio
cười
rần
lên,
và
thính
giả
ở
ngoài
cũng
cười
vui
vẻ,
khoái
trá.
Thật
đáng
yêu
làm
sao
cái
tính
mộc
mạc,
hồn
nhiên
của
người
Sài
Gòn
thuở
đó.
Cậu
Hồ
thương
chị
lắm
nhưng
không
thể
chấp
nhận
việc
làm
tồi
bại
của
người
chị.
Tính
bộc
trực
đưa
đến
sự
bốc
đồng
không
suy
xét
khi
đòi
xé
bỏ
bằng
Tú
Tài
có
được
công
nuôi
dưỡng
và
đồng
tiền
của
chị.
Đứa
con
vô
cùng
hiếu
thảo
đã
suy
nghĩ
lại
sau
khi
nghe
lời
khuyên
của
mẹ.
Không
muốn
sự
giúp
đỡ
của
cha
để
tránh
thêm
bi
đát
cho
mẹ
mình
nhưng
không
nghĩ
rằng
điều
từ
chối
đó
có
thể
làm
mọi
người
càng
đau
khổ
thêm.
Cậu
Hồ
là
một
hình
ảnh
của
người
miền
Nam,
luôn
luôn
theo
trái
tim
trước
khi
dùng
đầu
óc.
Những
đoạn
rất
hay
là
khi
cậu
kể
lại
kỷ
niệm
ấu
thời
như
ngày
mẹ
dắt
con
đi
thi
và
nhất
là
“lúc
mới
hồi
cư,
người
ta
không
cho
má
đi
dạy
học,
nhà
mình
nghèo
má
phải
đi
bán
chuối
chưng.
Nhiều
bữa
trời
mưa
bán
ế,
thấy
tụi
con
ăn
chuối
thay
cơm,
má
cắn
môi
mặt
quay
vào
vách
cho
suối
lệ
tuôn
tràn.”
Đoạn
nầy
đã
làm
chảy
không
biết
bao
nhiêu
nước
mắt
của
những
người
dân
lam
lũ,
buôn
gánh
bán
bưng,
thấu
hiểu
vô
cùng
cảnh
tình
của
những
ngày
ế
ẩm.Giọng
ca
của
Thanh
Sang
không
có
được
cái
uyển
chuyển
như
Hữu
Phước,
Tấn
Tài
hay
cái
hùng
hồn,
bức
phá
của
Thành
Được,
Hùng
Cường
và
hình
như
lúc
nào
cũng
có
vẻ
buồn
rười
rượi.
Chính
vì
không
có
sự
cao
vút,
uyển
chuyển
đó
mà
ta
cảm
thông
hơn
với
cái
cơ
cực
và
nỗi
băn
khoăn
lo
lắng
của
cậu
Hồ
cho
người
mẹ
bất
hạnh.
Không
chát
chúa
khi
tức
giận
với
chị,
và
làm
mủi
lòng
người
nghe
khi
tâm
tình
với
mẹ.
Trong
làng
cải
lương
Việt
Nam
có
bao
nhiêu
giọng
ca
hay
hơn,
mùi
hơn
nhưng
có
lẽ
không
ai
diễn
tả
cậu
Lê
Long
Hồ
được
như
Thanh
Sang.
Trên sân khấu Dạ Lý Hương, Bạch Tuyết là đào chánh thường hay đóng cặp với Hùng Cường. Dù có nhiều vai nổi bật khác nhưng khi nhắc đến Lê Thị Trường An là khán giả cải lương đều liên tưởng ngay đến Bạch Tuyết. Lê Thị Trường An do Bạch Tuyết diễn vẫn chưa tìm được người thay thế hay hơn. Từ sự bướng bỉnh trong lần gặp gỡ ông cò Hương lần đầu tiên cho đến lúc diễn tả nỗi xấu hổ không dám khai tên cha mẹ ở lúc thẩm cung. “Ông mà nói nữa là tôi cắn lưỡi tự tử cho ông coi.” Đau đớn cho người con gái hiếu thảo vì cảnh đời nghiệt ngã mà phải lỡ bước sa chân, như một nàng Kiều tân thời. Xưa bán mình chuộc cha, nay bán thân lo cho mẹ bệnh và nuôi em ăn học. Nhưng khi ông cò thẩm vấn thản thốt nói đúng tên cha và mẹ, cô Lê Thị Trường An-Bạch Tuyết đã quỵ xuống: “Hồi sáng nầy... bác nói... bác có quen với người ở Vĩnh Long mà!” Giọng diễn tả đầy nước mắt của nỗi mừng nhận được người quen, nỗi lo sợ và xấu hổ đã làm lấm lem danh dự cha mẹ. Bao nhiêu cái cứng rắn, ngang bướng của một người phải tự chống chỏi với cuộc đời đen bạc nay đã hoàn toàn sụp đổ qua câu nói ấy. Và không phải chỉ ở Trường An mà ông cò Hương cũng bị cuốn theo trong nổi đau đớn. Người cha trước nỗi bất hạnh của “đứa con gái mà ngày xưa ảnh cưng như ngọc như vàng mà ngày nay đã quen cùng sương gió” cũng chỉ biết cắn răng đau khổ. Ai nở lòng trách móc! Ai nở tâm làm tình làm tội! Từ phút nầy về sau, tâm hồn của ông Hương được phơi bày rõ ràng hơn, những dằn vật của lương tâm hiện ra, không cần dấu diếm ở “đêm đêm nằm trằn trọc một mình đối diện với lương tâm.” Cho đến nay chưa ai có thể diễn tả xuất sắc hơn Bạch Tuyết. Từ Phượng Liên khi còn trong nước cho đến Kim Tuyến sau nầy ở hải ngoại. Vai bà Lê Thị Lan, người vợ thứ, chỉ xuất hiện ngắn ngủi ở màn cuối nhưng có thể nói là một vai thật nổi bật, gần như ngang hàng với vai Lê Thị Trường An. Nổi bật vì đó là nguyên nhân mấu chốt của những ray rức mà ông cò Hương phải chịu đựng bao nhiêu năm qua. Cuộc chia tay tại bến sông Mỹ Thuận vẫn không làm phai nhạt được tình yêu thắm thiết trong lòng hai người. Soạn giả đã dựng vai bà Lan rất hay với sự thể hiện tánh ý thông thường của người phụ nữ. Bà cũng ghen dù chỉ với lời trách móc, hờn lẩy ông chồng: “Nhưng chồng của tôi lại quá đỗi bạc tình Về với vợ lớn rồi, không trở lại thăm mẹ con tôi .... Từ Mỹ Tho xuống Vĩnh Long chỉ có một đoạn đường Tôi chờ đợi mỏi mòn, anh Hương vẫn không thèm xuống Bỏ tôi lạc lỏng, giữa chợ đời với lũ con thơ Sống vất vưởng bơ vơ, với cái nghèo bữa đói bữa no.” hay khi “kể lể” cho chồng nghe nỗi khổ cực đơn độc nuôi con “Ba con An còn nhớ hôn, ngày xưa thấy tôi cực khổ mình thường ví tôi với loài chim dương nga.” Mình thấy không, lúc có mình tôi còn khổ như vậy thì lúc mình ra đi bỏ mẹ con tôi, tôi còn cực nhọc dường nào. Nhưng mình ơi, trách thì trách vậy nhưng lòng tôi vẫn một mực với mình.Tôi vẫn thương, tôi vẫn yêu mình trong suốt mấy chục năm dài. Bao nhiêu nước mắt khán giả đã đổ ra khi nghe cảnh tình vô cùng cảm động của một người vợ quá thương yêu người chồng xa cách đến độ gìn giữ, tâng tiu từng kỷ niệm, kỷ vật của chồng:
“Đây, bộ bà ba lụa lèo mà chồng tôi bận hai mươi năm về trước Lượt sau cùng ảnh bận là buổi tối mà sáng ra ảnh ra bến Mỹ Thuận để về tỉnh Mỹ Tho Hơi hám của chồng tôi, tôi còn giữ tới bây giờ Hễ cứ mỗi lần trở xuân Gợi niềm luyến nhớ bâng khuâng Hồi xưa ảnh ra đi tôi xếp lại y trang Để khi buồn ôm ấp làm vui Tôi luống những ngậm ngùi Nhớ thương chồng tôi vần chừa nguyên vẹn Bộ bà ba kỷ niệm, tấm mồ hôi của ảnh tới bây giờ” Bởi vậy đừng hỏi tại sao mà ông Hương không thương, không nhớ? Đừng hỏi tại sao mà “Mỗi khi nhắc đến người Vĩnh Long để thương để nhớ Ảnh ngọt ngào dùng ba cái tiếng “má con An”” Ba tiếng “má con An” đã nói lên tấm lòng trìu mến của người chồng dành cho người vợ thủy chung. Người miền Nam nhà quê hay gọi vợ hay chồng bằng “má thằng Tèo, ba con Tý” hay khi trọng tuổi hơn một chút “má bầy trẻ, ba xấp nhỏ.” Thật tuyệt vời khi tiếng gọi đằm thắm và chân thật đó được soạn giả đặt vào miệng của ông Hương. Soạn giả đã thiên vị thì ta chớ thắc mắc khi ông Hương gọi người vợ lớn, má cậu Nhân, bằng “bà” nhưng lại ngọt lịm ”má con An” với người vợ thứ. Hỏi làm sao mà bà vợ lớn lại phải trách: “Trồng trầu thì phải khai mương Làm trai hai vợ mà ông thương không đồng Chim quyên ăn trái nhản lồng Lia thia quen chậu mà vợ chồng sao ông lại quên hơi” Một điều rất đặc biệt là Út Bạch Lan chỉ thủ vai bà Lan thu thanh trong dĩa (hay băng), Hồng Nga thủ vai bà Lan trên sân khấu và trên đài truyền hình nhưng nếu nhắm mắt lại để thưởng thức thanh âm của bà Lan-Hồng Nga và bà Lan-Út Bạch Lan ta mới thấy tại sao có sự thay đổi khi tuồng hát được thu thanh lại. Sự chuyển đổi tuy có hơi bất công với Hồng Nga nhưng rất đúng, rất thích hợp. Một sự lựa chọn hoàn hảo, làm tăng thêm giá trị của một vai tuồng vốn dĩ đã xuất sắc. Qua sự diễn tả quá tài tình của Út Bạch Lan, ngày nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng đó là vai ruột của cô trên sân khấu. Sau nầy cô có đóng vai bà Lan trên sân khấu, được trung tâm Thúy Nga phát hành trên DVD tại hải ngoại. Tôi chưa được xem nên không có ý kiến tại đây nhưng đó là một vấn đề khác mà tôi có thể nói đến trong một lần sau. Hồng Nga diễn vai bà Lan rất hay nhưng giọng ca của cô hơi khàn, không có được cái êm dịu, ngọt ngào, mùi mẩn của Út Bạch Lan. Chất giọng của Hồng Nga thích hợp hơn với các vai bị đè ép, uất hận, đau khổ kêu gào đòi hỏi (công lý) hơn là một đào thương. Bà Lan trước kia là một cô giáo nên người nghe thường theo cliché cho là bà phải có một giọng êm đềm, dịu dàng hơn dù rằng không có bằng chứng nào cho thấy rằng các cô giáo đều phải có giọng êm đềm, dịu dàng cả. Giọng cô Út Bạch Lan đã vô cùng khích khao vào cliché đó. Ngoài ra vào thời điểm đó, nhân vật Lê Thị Lan chỉ vào khoảng trung tuần 40, và ông Hương chừng 50 tuổi nhưng giọng của Hồng Nga lại già trước tuổi, hơi khó thuyết phục người nghe. Trong khi đó giọng Út Bạch Lan tuy đằm thắm, nhẹ nhàng hơn nhưng không kém phần cay đắng, diễn tả hoàn toàn nổi lòng đau khổ của một người đàn bà quá thương chồng, phải chịu đựng trong kiếp “làm thân vợ bé, chồng đã bỏ về với vợ lớn phải vất vả nuôi con mà bia đời còn nguyền rủa.” Mối quan hệ tuy bất chánh nhưng không ai đành lòng trách cứ mà cứ “xót thương cho một kiếp hồng nhan khổ lụy vì tình.” Thính giả tuy không nhìn thấy nhưng cũng nín thở, hồi hộp chờ đợi như cùng bà Lan nhìn vào người đàn ông đối diện:
"Chiếc
cà
rá
ấy...
bàn
tay...
và
mùi
thơm
da
thịt
của
chồng
tôi
Đây
là
ánh
mắt...”
Và
nước
mắt
của
nhiều
người
đã
tuôn
rơi
khi
bà
Lan-Út
Bạch
Lan
kêu
lên
tiếng “Mmmmình!” trong
nghẹn
ngào
nức
nở.
Đây
là
một
trong
những
đoạn
bất
hủ
của
cải
lương
Việt
Nam.
Có
lẽ
vì
Út
Bạch
Lan
là
cô
đào
thương
thượng
hạng
nên
tiếng
khóc
của
cô
nghe
quá
tự
nhiên
và
sao
mủi
lòng
quá.
Có
thể
nói
rằng
từ
trước
đến
nay
trên
sân
khấu
cải
lương
Việt
Nam
chưa
có
cô
đào
thương
nào
khóc
mùi
mẫn,
khóc
não
nuột,
khóc
bi
thiết
như
Út
Bạch
Lan.
Danh
hiệu
“sầu
nữ”
mà
báo
chí
và
khán
giả
cải
lương
tặng
cho
cô
thật
là
đúng,
thật
là
hay.
Trong
lãnh
vực
phim
ảnh
thế
giới,
có
những
vai
“để
đời”
đã
tạo
cho
người
được
may
mắn
thủ
diễn
một
vinh
dự
bất
tử
trong
lòng
khán
giả
mộ
điệu.
Không
ai
có
thể
quên
được
Vivien
Leigh
trong
vai
Scarlet
O’Hara
của
Gone
With
the
Wind,
Audrey
Hepburn
với
vai
công
chúa
Ann
trong
Roman
Holiday
và
nhất
là
Marlon
Brando
xuất
thần
trong
vai
Vito
Corleone
của
The
Godfather.
Sân
khấu
cải
lương
Việt
Nam
cũng
có
những
trường
hợp
tương
tự:
Út
Bạch
Lan
vai
Hương
trong
Nửa
đời
hương
phấn,
Hữu
Phước
vai
cậu
Tư
Kiên
trong
Con
gái
chị
Hằng,
Thành
Được
vai
tướng
cướp
Thi
Đằng
trong
Tiếng
hạc
trong
trăng,
Việt
Hùng
vai
Thân
trong
Đoạn
tuyệt,
v.v.
Tuy
nhiên,
nổi
bật
nhất
vẫn
là
Út
Trà
Ôn
trong
vai
ông
giáo/ông
cò
Nguyễn
Văn
Hương
trong
vở
tuồng
Tuyệt
tình
ca.
Ông
diễn
hay
và
nhập
vai
đến
độ
sau
này
mọi
người
đều
gọi
ông
là
ông
cò
quận
9.
Nhắc
đến
Út
Trà
Ôn
là
phải
nhắc
đến
ông
cò
quận
9
và
ngược
lại.
Sau
này
tại
hải
ngoại,
vì
nhu
cầu,
vai
này
đã
được
Việt
Hùng
thủ
diễn
trong
một
băng
video
vào
thập
niên
80,
và
Thành
Được
trong
một
trích
đoạn
trên
băng
nhạc
Thúy
Nga
nhưng
cả
hai
nghệ
sĩ
lớn
này
vẫn
không
thể
thay
được
một
Út
Trà
Ôn
hoàn
hảo.
Cứ
thử
xem
hay
nghe
cảnh
mùi
mẫn
và
bi
ai
nhất
của
tuồng
hát
là
lúc
ông
Hương
gặp
lại
bà
Lan
là
ta
đủ
thấy
sự
xuất
sắc
của
Út
Trà
Ôn
và
tất
cả
những
lời
khen
tặng
dành
cho
ông
không
phải
là
quá
đáng.
Việt
Hùng
có
tuổi
tác
hợp
với
vai
nhưng
ông
chưa
bao
giờ
là
một
kép
ca
mùi
nhất
là
không
thể
bằng
Út
Trà
Ôn,
người
được
mệnh
danh
là
Vua
Vọng
Cổ.
Khi
đóng
trích
đoạn
đã
nói
trên
với
Phượng
Liên,
Thành
Được
đã
qua
thời
vàng
son,
không
còn
chất
giọng
để
gánh
vác
được
những
xúc
động
của
vai
trò
trong
lúc
đó.
Một
phần
vì
khi
trình
diển
trích
đoạn
mà
thường
là
các
đoạn
chánh
của
vở
tuồng,
diễn
viên
bị
đưa
vào
ngay
trên
đỉnh
cao
cảm
xúc
của
nhân
vật
mà
không
có
thời
giờ
nhập
vai
như
lúc
trình
diễn
nguyên
tuồng
hát.
Khuyết
điểm
này
thường
thấy
nhất
là
ở
các
vai
mà
diễn
viên
chưa
từng
diễn
qua
lần
nào.
Út
Trà
Ôn
được
may
mắn
là
vai
ông
cò
quận
9
đến
đúng
vào
lúc
tuổi
đời
tương
xứng
với
vai
trò,
giọng
ca
vẫn
còn
đang
độ
ở
hàng
đầu
của
sâu
khấu
cải
lương
miền
Nam.
Út
Trà
Ôn
không
phải
là
kép
đẹp
như
Hùng
Cường,
Thành
Được,
Dũng
Thanh
Lâm
nhưng
ông
có
vóc
dáng
khá
oai
vệ
của
một
ông
Cảnh
sát
trưởng
nhưng
không
đến
độ
quá
“ngầu”
hay
“lạnh
như
tiền”
nên
người
xem
cảm
thông
ngay
được
với
những
nỗi
khổ
nội
tâm
của
ông
trong
suốt
vở
tuồng.
Đúng
là
chỉ
có
Út
Trà
Ôn
mới
diễn
được
một
cách
hoàn
toàn
ông
cò
quận
9.
Không
phải
các
nghệ
sĩ
khác
không
thể
diễn
được
nhưng
chắc
chắn
không
ai
bằng
được
Út
Trà
Ôn.
Thử
tưởng
tượng
Hùng
Cường
(lúc
đó
cũng
là
kép
chánh
của
đoàn
Dạ
Lý
Hương)
hay
Hữu
Phước
trong
bộ
áo
ông
cò
thì
ta
sẽ
thấy
sự
hợp
lý
trong
việc
chọn
Út
Trà
Ôn
vào
vai
ấy.
Như
đã
nói
trên,
vở
tuồng
trước
được
đặt
tên
là
Người
Đối
Diện
Lương
Tâm.
Tên
Tuyệt
Tình
Ca
có
mùi
mẫn
và
đầy
chất
cải
lương
hơn
thật
nhưng
theo
tôi,
“Người
Đối
Diện
Lương
Tâm”
diễn
tả
đúng
đắn
hơn
cốt
truyện
và
tâm
lý
nhân
vật.
Phân
tích
kỷ,
ta
thấy
rằng
vai
ông
giáo
và
sau
này
là
ông
cò
Nguyễn
Văn
Hương
là
vai
chánh
độc
nhất
của
vở
tuồng.
Các
vai
khác
như
Nhân,
Lê
Thị
Trường
An,
Lê
Long
Hồ
hay
bà
Lê
Thị
Lan
tuy
đôi
lúc
có
bật
sáng
trong
các
màn
diễn
hoặc
có
những
thời
khắc
đáng
kể
trên
sân
khấu
nhưng
vẫn
là
các
vai
“vệ
tinh”
(satellite)
xoay
quanh
ông
Hương.
Ông Hương là chủ chốt, là xương sống của vở tuồng. Không có ông, không vai tuồng nào có thể đứng đơn độc được. Nói theo giọng kiếm hiệp thì nhân vật ông Hương đều có ân oán giang hồ với tất cả mọi người và bởi vì vậy mà ông là người cô đơn, đau khổ nhất của vở tuồng. Với vợ lớn, ông là một người chồng thiếu sót. Với các con giòng lớn như Nhân, ông thiếu bổn phận đến độ “thằng Hiếu” phải chết trong lúc ông đang ấm êm bên cạnh bà thứ và Nhân thì bê tha, lêu lỏng. “Tao làm cò, má mày chứa cờ bạc còn mấy muốn làm du đảng phải không?” Với ông Sa, ông bị bứt rứt giữa tình cảnh bè bạn chí thân, bổn phận của người thi hành pháp luật và oái oăm nhất là giữa vai trò người cha với người bạn thân nhưng nay là kẻ dụ dỗ đứa con gái của mình. Với bà Sa, ông bị phân chia giữa bè bạn ân nhân và lương tâm phận sự. Với Lê Long Hồ, ngoài những ray rứt của người cha đã ra đi khi con trai còn nhỏ phải để cho bà vợ lo lắng trong hoàn cảnh thiếu hụt trăm bề, ông còn phải đối phó với tính cương trực của cậu con nay mong ông hảy để yên, đừng gặp lại mẹ cậu, người vợ thứ. Với Lê Thị Trường An, ngoài những khiếm khuyết trách nhiệm của một người cha mà ông đã phải lãnh lấy hậu quả khi đứa con gái sa chân vào đường tội lỗi, ông còn phải đối diện với lương tâm của một người cha và lương tâm của một ông Cò. Chẳng trách chi mà ông Hương cứ “đêm đêm nằm trằn trọc một mình đối diện với lương tâm.” Cuối cùng dù xót xa nhưng trách nhiệm với công chúng, pháp luật vẫn nặng hơn trách nhiệm và tình thương của một người cha. Với bà Lan, người vợ thứ, hình ảnh đã theo đuổi ông trong bao nhiêu năm xa cách, tình yêu của ông không mờ nhạt, vẫn như ngày còn sống chung: “Nỗi nhớ thương dằng dặc suốt hai mươi năm dài, Ra bờ sông đứng lặng mỗi ngày” Và sự hối hận dày vò của ông đã thể hiện ngay từ màn đầu của tuồng hát khi ông phân vân với người vợ lớn “Mỗi lần thấy bông ô môi điểm hồng trong gió chướng, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rả đón xuân sang. Mỗi lần có dịp về Vĩnh Long, đi ngang Tân Ngãi thấy nhà chợ Trường An là mỗi lần tôi nhớ đến mùa xuân của đầu năm binh lửa. Nhớ đến dáng người vợ trẻ đã chèo xuồng qua sông Mỹ Thuận để đưa tôi rời tỉnh Long... Hồ” ... “ Phải đâu khi thuyền vừa tách bến sông là tôi đã chấm dứt tình thâm phụ tử.” ... “Chỉ tội nghiệp cho hai đứa kia Không biết nó sống chết ra sao Sống có được ấm no Chết có được yên mồ mã Trong khi ba của nó lên xe xuống ngựa Một cũng ông Cò, hai cũng ông Cò Ôi, ông Cò cũng là người cầm cân nẩy mực nhưng đối với các con tôi lại có sự bất công Quận này tôi có trách nhiệm vụ giữ trật tự an ninh mà trong lòng tôi lại không có an ninh trật tự.” Tâm lý nhân vật được phơi bày rõ ràng ra cho khán giả xem ngay từ lúc ấy. Tất cả các diễn biến về sau đều xoay quanh những cấu xé nội tâm đó. Soạn giả đã đưa người thưởng thức vào cảm xúc của vỡ tuồng qua nội tâm của ông Hương từ cuộc ghen tương của bà vợ lớn, đến lần đầu gặp cô Thoa, sang cuộc thẩm cung Lê Thị Trường An, và đến đỉnh cao nhất là cuộc tái ngộ đầy nước mắt giữa ông và bà Lan.Và ông lại phải thêm một lần đối diện đau xót với lương tâm.
Tuyệt Tình Ca là một tuồng cải lương với một đoạn kết không“có hậu” (happy ending) nhưng cũng không đến độ bi thảm. Một kết cục lơ lửng, cho khán giả cái cảm tưởng như mới chỉ xem được phân nửa tuồng hát nhưng vẫn không khiến người xem tức anh ách mà chửi soạn giả là “thứ đồ chết gian, vô duyên, lảng nhách.” Cái tài tình của soạn giả là ở đó. Cái hay là tất cả mọi người đều thỏa mãn nhưng vẫn còn phải tự hỏi: “Rồi sao nữa?” Chồng vợ cha con đã gặp lại nhau sau bao nhiêu năm ly biệt nhưng rồi sao nữa? Ông Hương sẽ giải quyết ra sao về tình trạng song hôn của ông? Ông sẽ ăn nói ra sao với người vợ lớn? Chuyện tình của ông và bà Lan vẫn không được giải quyết dứt khoát. Chỉ biết là ông sẽ còn gặp gỡ bà Lan nữa để “thủng thỉnh rồi tôi sẽ nói cho mình nghe” chuyện của cô An. Cô An có bị vào tù không? Bên nguyên đơn (vợ ông Sa) có chịu bãi nại không? Với địa vị và lương tâm của một người giữ trật tự an ninh thì ông Hương sẽ xử sao để tránh việc “trong lòng lại không có an ninh trật tự”? Và cuộc đời cô An sẽ ra sao? Còn rất nhiều câu hỏi cần phải trả lời nhưng soạn giả cứ lờ đi và để khán giả ra về với bao nỗi thắc mắc trong lòng. Thật ra thì làm sao có một kết cuộc thỏa đáng cho tất cả mọi người, nhất là về mặt tình cảm giữa ông Hương và bà Lan. Không lẽ cho hai người tái hợp? Không được, vì vừa không hợp tình với bà lớn lại chẳng hợp lý với pháp luật khi chính ông là một người cảnh sát trưởng. Buộc họ phải xa nhau lần nữa ư? Nhẫn tâm quá. Hai người, nhất là bà Lan, chưa đủ khổ hay sao? Nếu soạn giả dám cho kết cục “thất nhân tâm” kiểu nầy thì thế nào có ngày hai ông cũng bị mấy bà già trầu xán guốc lên đầu. Các ông soạn giả hiểu tâm lý quý bà quá nên ngừng ở đây là phải. Ai muốn vở tuồng kết thúc ra sao thì tự mình thêm vào cái kết cục riêng như mình mong muốn. Hai đứa tôi (soạn giả) đã hoàn thành nhiệm vụ lấy hết nước mắt của các bà, nay xin phép rút lui. Bà nào có chồng theo vợ bé muốn trả thù thì cứ cho bà Lan lui đi, hay để cậu Hồ ngăn cha đến gặp hoặc nặng hơn nữa là cho bà Lan chết vì căn bệnh trầm kha hết thuốc chữa, bình oxygen hết khí không kịp mua. Còn bà nào “cảm thương một kiếp hồng nhan khổ lụy vì tình” thì cứ để ông Hương tiếp tục đến gặp bà Lan dài dài, hay nếu độ lượng hơn thì cho bà vợ lớn đón bà thứ về ở chung luôn như trong tuồng Lấy chồng xứ lạ. Một kiểng hai quê như truyện Tàu. Nhất gia đoàn tụ. Một vài điều thú vị trong vở hát: Các bạn hãy nghe trong màn đầu khi bà Sa đến nhờ ông cò Hương can thiệp: Ông Hương: “Quận nầy mới thành lập, tôi phải trừ đi cho tuyệt, cái nạn cờ bạc mải dâm” Bà Sa: “Chú mà trừ được, thì tôi xin bái phục” Lời tiên tri cho đến nay vẫn còn hiệu lực! Có lần tôi đọc được trên một bài báo tại hải ngoại, tác giả dẩn chứng một câu ca dao: “Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi Khó đi mẹ dắt con đi Con thi trường học, mẹ thi trường đời” Tôi thích thú vì chắc có lẽ tác giả đã bị lậm nặng tuồng Tuyệt Tình Ca nên đã trích dẫn một câu hò trong tuồng hát nhưng lầm tưởng là câu ca dao. Đó là lúc cậu Hồ nói chuyện với mẹ nhắc lại thời niên thiếu, người mẹ dẫn đứa con trai nhỏ đi thi trong buổi sớm tinh sương trên con đường lộ đất, xa xa có tiếng người hát ru con bằng câu ca ấy.