ảnh:
vanren
sưu
tầm
“Đệ
nhất
thập
lục
huyền
cầm
Bảy
Bá
đã
khai
sáng
trường
phái
vọng
cổ
hài
qua
việc
phát
hiện
nghệ
sĩ
Văn
Hường”
-
một
nhật
báo
ở
Sài
Gòn
thời
đó
nhận
xét.
Năm
1959,
khi
đi
nghe
ca
tài
tử
ở
quán
Lệ
Liễu
tại
Giải
trí
trường
Thị
Nghè
-
Sài
Gòn,
tôi
phát
hiện
lối
ca
của
anh
kép
trẻ
Văn
Hường
(tên
thật
là
Nguyễn
Văn
Hường,
SN
1934,
quê
Thủ
Đức).
Tôi
xem
nơi
đây
là
nợ
duyên
từ
buổi
đầu
tri
ngộ
với
Văn
Hường.
Quán
Lệ
Liễu
hồi
đó
được
xem
là
điểm
hẹn,
nghệ
sĩ
(NS)
lưu
diễn
xa
về
Sài
Gòn
thường
ghé
đến
đây.
Từ
năm
1957,
Văn
Hường
đã
hát
tại
quán
này
cùng
với
các
NS:
Lệ
Liễu,
Thanh
Hoa,
Huệ
Nhi,
Bạch
Huệ…
và
hai
danh
cầm
Năm
Cơ,
Văn
Vỹ.
Trong
giới
tân
nhạc,
Tùng
Lâm,
Xuân
Phát,
Kim
Vui,
Phi
Thoàn,
Thanh
Hùng,
Tòng
Sơn…
cũng
thường
tới
lui
quán
Lệ
Liễu
ca
hát.
Cuộc
soán
ngôi
ngoạn
mục
Lúc
này,
dù
có
chất
giọng
mùi
nhưng
Văn
Hường
cố
bắt
chước
Hề
Minh
ca
bài
Chồng
già
vợ
trẻ
do
tôi
viết
vẫn
chưa
đạt
tới
mức
chấp
nhận.
Tuy
nhiên,
tôi
nhận
thấy
sự
tếu
táo
trong
cách
ca,
cộng
thêm
làn
hơi
lạ
của
anh.
Tôi
rỉ
tai
chủ
hãng
dĩa
Hồng
Hoa:
“Mời
NS
này
về
hãng
mình
đi,
tôi
sẽ
có
cách
làm
cho
anh
ấy
nổi
tiếng”.
Đám
cưới
NS
Văn
Hường
năm
1964
(người
áo
mang
kính
đen
là
nhạc
sĩ
Văn
Vĩ)
(ảnh
Huỳnh
Công
Minh)
Nhờ
theo
ban
nhạc
cổ
Năm
Cơ
-
Văn
Vỹ,
thường
nhận
đờn
hát
chầu,
đám
cưới,
đám
giỗ…
và
thường
trực
ở
quán
Lệ
Liễu
nên
Văn
Hường
có
được
cơ
duyên
rèn
nhịp,
giũa
hơi.
Tôi
đã
viết
bản
Đêm
tân
hôn
cho
Văn
Hường
và
dĩa
hát
này
thành
công
như
mong
muốn.
Tiếp
đó,
hãng
dĩa
ký
công
tra
(hợp
đồng),
Văn
Hường
soán
ngôi
Hề
Minh
một
cách
bất
ngờ
khi
tôi
tiếp
tục
bung
các
dĩa:
Pháp
sư
giải
nghệ,
Tôi
đi
làm
rể,
Ông
địa
núi
Tà
Lơn,
Ông
Trượng
và
Tiên
Bửu
(ca
với
Phượng
Liên),
Nồi
nào
úp
vung
nấy
(ca
với
cô
Ba
Thanh
Loan
và
Túy
Phượng)...
Xét
về
lối
ca,
Văn
Hường
mới
hơn,
kỹ
thuật
sắp
nhịp
hay,
độc
đáo
không
kém
gì
“đệ
nhất
danh
ca”
Út
Trà
Ôn
nhưng
biết
cách
biến
hóa.
Hề
Minh
có
cái
hay
nhưng
lối
ca
đã
xưa,
hành
văn
sắp
nhịp
quá
hiền
và
cứng
nhắc.
Tuy
nhiên,
để
có
cuộc
soán
ngôi
thì
tự
thân
Văn
Hường
khó
mà
làm
được.
Khi
tôi
chọn
cách
viết
đúng
dấu,
đúng
chữ,
chọn
đề
tài
đúng
với
sự
quan
tâm
của
số
đông
quần
chúng,
Văn
Hường
đã
gặp
“thiên
thời,
địa
lợi,
nhân
hòa”.
Nghệ
sĩ
Văn
Hường
khi
trai
trẻ
và
lúc
về
già.
Ảnh
tư
liệu
của
NSND
Viễn
Châu
Từ
bản
Dạ
cổ
hoài
lang
của
nhạc
sĩ
Cao
Văn
Lầu
sáng
tác
năm
1919
đến
những
chặng
đường
thăng
trầm
của
sân
khấu
cải
lương,
bài
ca
vọng
cổ
đã
dung
nạp
đủ
tính
chất
hỉ,
nộ,
ái,
ố.
Tôi
tự
hỏi:
“Tại
sao
bài
ca
vọng
cổ
có
thể
làm
người
ta
khóc
mà
không
khiến
họ
cười?”.
NSND
soạn
giả
Viễn
Châu
và
NS
Văn
Hường
(ảnh
do
SG
Viễn
Châu
cung
cấp)
Quá
trình
nghiên
cứu
đã
giúp
tôi
định
vị
bài
vọng
cổ
hài
khi
thành
một
tác
phẩm
phải
trải
qua
ba
công
đoạn:
Sáng
tác
mang
yếu
tố
hài,
giọng
ca
thể
hiện
chất
hài
và
nhạc
cổ
đệm
phải
biết
nhấn
nhá
chữ
đờn
hài.
Ráp
3
công
đoạn
này
lại
sẽ
có
một
trường
phái.
Thời
đó,
nhật
báo
Tiếng
Dội
nhận
xét:
“Đệ
nhất
thập
lục
huyền
cầm
Bảy
Bá
đã
khai
sáng
trường
phái
vọng
cổ
hài
qua
việc
phát
hiện
NS
Văn
Hường”.
Quyền
biến
với
Tư
Ếch
Không
dừng
lại
ở
việc
khai
thác
Văn
Hường,
không
để
anh
chai
lì
trong
sáng
tạo,
tôi
đặt
ra
chủ
đề
Tư
Ếch
để
NS
này
quyền
biến
với
bài
vọng
cổ
hài
đang
trên
đà
thành
công.
Thế
là
các
dĩa:
Tư
Ếch
đi
Sài
Gòn,
Tư
Ếch
đại
chiến
Văn
Hường,
Tư
Ếch
đi
coi
cải
lương,
Tư
Ếch
đi
hội
chợ
(ca
với
NSND
Ba
Vân)…
ra
đời.
Tôi
dựa
theo
hơi
thở
cuộc
sống,
lấy
chuyện
lục
đục
trong
gia
đình
mà
viết
bài
vọng
cổ
hài.
Tôi
mượn
tính
châm
biếm
khơi
gợi
ý
nghĩa
giáo
dục.
Lời
ca
và
câu
chuyện
mang
tính
khuyên
nhủ
được
viết
theo
tiêu
chí:
Cười
nhưng
có
trách
nhiệm
chứ
không
phải
đả
phá,
châm
chọc,
phỉ
báng.
Có
lẽ
vì
thế
mà
trường
phái
của
tôi
được
số
đông
ủng
hộ.
Sau
này
NS
Hoài
Linh
đã
thọ
giáo
soạn
giả
NSND
Viễn
Châu
để
học
ca
vọng
cổ
hài
và
ông
đã
từng
sáng
tác
bài
ca
cổ
4
câu
"Hoài
Linh
du
xuân
ba
miền"
để
tặng
Hoài
Linh
(ảnh
Thanh
Hiệp)
Trong
bài
vọng
cổ
hài
đầu
tiên
Đêm
tân
hôn,
câu
chuyện
viết
về
một
đôi
vợ
chồng
mới
cưới,
sự
hoan
hỉ
đó
được
tôi
tải
bằng
ca
từ
trữ
tình,
vui
nhộn
để
miêu
tả
tâm
trạng
tràn
ngập
hạnh
phúc
của
chú
rể,
mà
NS
Văn
Hường
lại
có
tài
thể
hiện
ca
từ
theo
trí
tưởng
tượng.
Tôi
bảo
nhỏ
Văn
Hường
“diễn
trong
ca”,
chỉ
vậy
thôi
mà
anh
đã
làm
đúng
ý.
Vì
thế,
Đêm
tân
hôn
là
phát
pháo
đầu
tiên
của
trường
phái
này.
Từ
vọng
cổ
hài
đến
kịch
bản
hài,
có
nhiều
tác
phẩm
tạo
dấu
ấn
đậm
nét
trong
lòng
khán
giả,
điển
hình
là
tác
phẩm
Ngao
sò
ốc
hến
của
soạn
giả
NSND
Nguyễn
Thành
Châu.
Trong
ảnh
là các
NSƯT: Nam
Hùng,
Thanh Điền, Thanh
Kim
Huệ, Giang
Châu
(ảnh
Thanh
Hiệp)
Tôi
viết
thêm
nhiều
bản,
tính
sơ
Văn
Hường
đã
ca
hơn
200
bài
vọng
cổ
hài:
Tôi
không
sợ
vợ,
Vợ
tôi
nói
tiếng
Tây,
Năm
con
vợ,
Vợ
tôi
mê
tân
nhạc,
Vợ
tui
tui
sợ,
Vợ
tui
đẹp
ác…
Tuy
nhiên,
không
lý
chỉ
lên
án
các
bà?
Gặp
tôi
vào
mỗi
sáng
đi
uống
cà
phê
hoặc
hớt
tóc,
trong
khi
nhiều
ông
cảm
ơn
thì
các
bà
lại
mắng
vốn:
“Không
lẽ
chỉ
có
phụ
nữ
là
nhiều
khuyết
điểm
sao?”.
Vậy
là
tôi
liền
xuống
bút
viết:
Tôi
mê
tài
xỉu,
Tôi
mê
số
đuôi,
Lá
sớ
táo
quân,
Ánh
sáng
đô
thành,
Tai
nạn
Honda…
Vọng
cổ
hài
phát
triển
đã
có
nhiều
nghệ
sĩ
học
theo
lối
ca
của
NS
Văn
Hường,
nổi
tiếng
sau
này
có
NS
Hề
Sa
(ảnh
Thanh
Hiệp)
Tôi
nhớ
4
câu
thơ
trong
bài
Vợ
tui
tui
sợ:
Lỗ
đầu
ngẫm
chẳng
có
sao/
Băng
keo
dán
lại
lấy
dầu
xức
dzô/
Máu
ra
một
lát
nó
khô/
Nhược
bằng
cãi
lại
ô
hô
sập
nhà
với
lối
ca
ngâm
rất
duyên
của
Văn
Hường
khiến
khán
giả
thích
thú.
NS
hài
Bảo
Chung
và
Kiều
Mai
Lý
trong
vở
Tình
mẫu
tử
của
soạn
giả
Viễn
Châu
(ảnh
Thanh
Hiệp)
Mỗi
khi
hàng
xóm
có
chuyện
hay
vợ
chồng
gây
gổ
thì
nhiều
người
lại
đem
4
câu
thơ
này
ra
để
khuyên
nhủ
hãy
nhường
nhịn.
Âu
cũng
là
niềm
hạnh
phúc
cho
người
viết
vọng
cổ
hài.