VẪN CÒN HẰN SÂU TRONG KÝ ỨC!
- Chủ nhật - 10/04/2016 02:56
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Hai Chiều Ly Biệt
Khi
ấy
tôi
còn
là
một
cậu
bé
8,
9
tuổi.
Trong
hai
năm,
mà
theo
trí
nhớ
non
nớt
của
tôi
lúc
bấy
giờ,
khi
ấy
làng
quê
tôi
sống
trong
không
khí
thanh
bình.
Mỗi
năm,
vào
rằm
tháng
Giêng
các
gánh
hát
(bây
giờ
gọi
là
đoàn
hát)
ở
phương
xa
thường
về
hát
sân
đình
hoặc
ở
nhà
lồng
chợ.
Thường
thì
những
gánh
hát
này
đều
có
máy
đèn
riêng
(bây
giờ
gọi
là
máy
phát
điện).
Làng
quê
tôi
hồi
ấy
chưa
có
điện,
vì
vậy
mỗi
khi
gánh
hánh
về
được
nhìn
qua
những
hàng
dây
điện
chớp,
tắt
làm
cho
trí
óc
non
nớt
của
tôi
và
các
bạn
đồng
trang
lứa
không
khỏi
tò
mò!
Sự vượt bậc của các gánh hát cải lương từ xa về có máy đèn, hoàn toàn khác hẳn với các gánh hát bội của mấy ông Bầu Quế, bầu Trình chỉ sử dụng ánh sáng bằng chiếc đèn “măng – xông” (Manchon) đơn điệu.
Thời đó, có hai gánh hát về làng đã gieo vào tuổi thơ tôi một nỗi nhớ không phai – Đó là gánh hát Kiếp Bướm và gánh hát Điều Viên. Gánh hát Kiếp Bướm hát tuồng “Cánh buồm đen”, còn gánh Điều Viên với vở “Khói lửa biên thùy” – một vở tuồng bắn súng. Tôi chỉ nhớ tên của vở tuồng thôi, còn nội dung cốt truyện ra sao tôi hoàn toàn không biết, và tôi cũng không sao nhớ nổi đến tên của kép chánh, đào chánh là ai?
Năm 60 Đồng Khởi, làng quê tôi cũng không sao tránh khỏi cái hệ lụy của chiến tranh. Cứ mỗi lần lính trên quận đi ruồng (bây giờ gọi là đi càn) thì cảnh bắt bớ, chết chóc xảy ra như là… cơm bữa! Để tránh cảnh bom đạn, cha má tôi thu dọn gia đình về thị xã Mỹ Tho, Tỉnh Định Tường (nay là Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang). Lúc này, tôi vào học lớp đệ thất của một trường cộng lập. Tôi có người anh làm công tác cách mạng nội thành, với chức danh là Ủy viên cảnh sát xã Điều Hòa, thị xã Mỹ Tho. Vì vậy, các đoàn cải lương khi về hát tại Mỹ Tho, anh tôi đều có vé mời. Nhưng anh ít khi nào đi xem, và tôi được hưởng phần vì tôi là con út trong gia đình.
Vào những năm đầu của thập niên 60, có thể nói đây là những năm thịnh hành của sân khấu cải lương. Các đoàn cải lương với tầm cỡ đại ban về hát ở rạp Vĩnh Lợi (nay là nhà hát Tiền Giang) mà tôi đã từng xem qua như: Thanh Minh (sau này là Thanh Minh – Thanh Nga), đoàn Thủ Đô của ông bầu ba Bản, đoàn Kim Chưởng của bà bầu Kim Chưởng, và các đoàn hát của công ty Kim Chung – Tiếng chuông vàng Thủ Đô của ông bầu Long.
Thành tâm mà nói, các vở tuồng cải lương hồi bấy giờ mỗi vở đều hay một vẻ. Mỗi đoàn hát đều có soạn giả thường trực và tạo cho đoàn mình một hướng đi riêng. Thành ra vì vậy mà không có sự trùng lắp, nhàm chán!
Có một vở tuồng gây ấn tượng nhất, theo tôi -Đó là vở cải lương “Hai Chiều Ly Biệt” của cố soạn giả Thu An.
Và tôi nghĩ, cái ấn tượng này không chỉ mỗi riêng tôi, mà là của tất cả khán giả hồi bấy giờ - Đó là lúc “vua” kép độc Trường Xuân với cái đầu trọc lóc xuất hiện trong vai Đại Hãn Mông Kha. Cũng từ vai diễn này, mà ông được báo chí kịch trường thời bấy giờ đặt cho ông bằng cái “hỗn danh” là – kép đầu trọc Trường Xuân!
Cái ấn tượng sâu xa của tuồng cải lương “Hai chiều ly biệt” là khi Mông Kha Đại Hãn lấy gươm đâm vào bức địa đồ thì thấy máu chảy ra. Mông Kha hoảng hốt nói: “Máu, máu của ai?”, thì hầu như khán giả ở rạp Vĩnh Lợi đều đứng bật dậy cả lên. Và khi anh kép thủ vai Hoàng Tử Yên Lâm (do lâu quá tôi không nhớ tên anh, thành thật xin lỗi) xé bức địa đồ bước ra, gọi hai tiếng: “Phụ Vương!”, làm cho khán giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cả rạp hát đều lặng trang, không một tiếng động để theo dõi lớp diễn gay cấn này!
Lại còn một điều gây ra… ấn tượng không kém. Với vở tuồng gây tiếng vang và “ăn khách” như vậy. Nhưng không hiểu sao, đoàn Kim Chưởng khai trương vở “Hai Chiều Ly Biệt” tại rạp Vĩnh Lợi duy nhất chỉ mỗi một đêm, khuya lại đoàn dọn đi nơi khác.
Sáng ra, không ít khán giả đến rạp Vĩnh Lợi mua vé để được xem “Hai Chiều Ly Biệt”, thì mới hay đoàn Kim Chưởng đã dọn đi rồi. Có một khán giả buộc miệng nói: “Như vậy là… MỘT CHIỀU LY BIỆT, chớ hai cái nổi gì?” Kể ra, vị khán giả này… thi vị hóa vấn đề một cách khá lý thú!
Khi nhớ đến vở cải lương “Hai Chiều Ly Biệt” của cố soạn giả Thu An, lòng không khỏi ngậm ngùi, tiếc thương cho những nghệ sĩ tài năng đã ra đi về cõi vĩnh hằng. Bởi sanh, lão, bệnh, tử đó là qui luật của kiếp nhân sinh!
HOA THIÊN LÝ
Sự vượt bậc của các gánh hát cải lương từ xa về có máy đèn, hoàn toàn khác hẳn với các gánh hát bội của mấy ông Bầu Quế, bầu Trình chỉ sử dụng ánh sáng bằng chiếc đèn “măng – xông” (Manchon) đơn điệu.
Thời đó, có hai gánh hát về làng đã gieo vào tuổi thơ tôi một nỗi nhớ không phai – Đó là gánh hát Kiếp Bướm và gánh hát Điều Viên. Gánh hát Kiếp Bướm hát tuồng “Cánh buồm đen”, còn gánh Điều Viên với vở “Khói lửa biên thùy” – một vở tuồng bắn súng. Tôi chỉ nhớ tên của vở tuồng thôi, còn nội dung cốt truyện ra sao tôi hoàn toàn không biết, và tôi cũng không sao nhớ nổi đến tên của kép chánh, đào chánh là ai?
Năm 60 Đồng Khởi, làng quê tôi cũng không sao tránh khỏi cái hệ lụy của chiến tranh. Cứ mỗi lần lính trên quận đi ruồng (bây giờ gọi là đi càn) thì cảnh bắt bớ, chết chóc xảy ra như là… cơm bữa! Để tránh cảnh bom đạn, cha má tôi thu dọn gia đình về thị xã Mỹ Tho, Tỉnh Định Tường (nay là Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang). Lúc này, tôi vào học lớp đệ thất của một trường cộng lập. Tôi có người anh làm công tác cách mạng nội thành, với chức danh là Ủy viên cảnh sát xã Điều Hòa, thị xã Mỹ Tho. Vì vậy, các đoàn cải lương khi về hát tại Mỹ Tho, anh tôi đều có vé mời. Nhưng anh ít khi nào đi xem, và tôi được hưởng phần vì tôi là con út trong gia đình.
Vào những năm đầu của thập niên 60, có thể nói đây là những năm thịnh hành của sân khấu cải lương. Các đoàn cải lương với tầm cỡ đại ban về hát ở rạp Vĩnh Lợi (nay là nhà hát Tiền Giang) mà tôi đã từng xem qua như: Thanh Minh (sau này là Thanh Minh – Thanh Nga), đoàn Thủ Đô của ông bầu ba Bản, đoàn Kim Chưởng của bà bầu Kim Chưởng, và các đoàn hát của công ty Kim Chung – Tiếng chuông vàng Thủ Đô của ông bầu Long.
Thành tâm mà nói, các vở tuồng cải lương hồi bấy giờ mỗi vở đều hay một vẻ. Mỗi đoàn hát đều có soạn giả thường trực và tạo cho đoàn mình một hướng đi riêng. Thành ra vì vậy mà không có sự trùng lắp, nhàm chán!
Có một vở tuồng gây ấn tượng nhất, theo tôi -Đó là vở cải lương “Hai Chiều Ly Biệt” của cố soạn giả Thu An.
Và tôi nghĩ, cái ấn tượng này không chỉ mỗi riêng tôi, mà là của tất cả khán giả hồi bấy giờ - Đó là lúc “vua” kép độc Trường Xuân với cái đầu trọc lóc xuất hiện trong vai Đại Hãn Mông Kha. Cũng từ vai diễn này, mà ông được báo chí kịch trường thời bấy giờ đặt cho ông bằng cái “hỗn danh” là – kép đầu trọc Trường Xuân!
Cái ấn tượng sâu xa của tuồng cải lương “Hai chiều ly biệt” là khi Mông Kha Đại Hãn lấy gươm đâm vào bức địa đồ thì thấy máu chảy ra. Mông Kha hoảng hốt nói: “Máu, máu của ai?”, thì hầu như khán giả ở rạp Vĩnh Lợi đều đứng bật dậy cả lên. Và khi anh kép thủ vai Hoàng Tử Yên Lâm (do lâu quá tôi không nhớ tên anh, thành thật xin lỗi) xé bức địa đồ bước ra, gọi hai tiếng: “Phụ Vương!”, làm cho khán giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cả rạp hát đều lặng trang, không một tiếng động để theo dõi lớp diễn gay cấn này!
Lại còn một điều gây ra… ấn tượng không kém. Với vở tuồng gây tiếng vang và “ăn khách” như vậy. Nhưng không hiểu sao, đoàn Kim Chưởng khai trương vở “Hai Chiều Ly Biệt” tại rạp Vĩnh Lợi duy nhất chỉ mỗi một đêm, khuya lại đoàn dọn đi nơi khác.
Sáng ra, không ít khán giả đến rạp Vĩnh Lợi mua vé để được xem “Hai Chiều Ly Biệt”, thì mới hay đoàn Kim Chưởng đã dọn đi rồi. Có một khán giả buộc miệng nói: “Như vậy là… MỘT CHIỀU LY BIỆT, chớ hai cái nổi gì?” Kể ra, vị khán giả này… thi vị hóa vấn đề một cách khá lý thú!
Khi nhớ đến vở cải lương “Hai Chiều Ly Biệt” của cố soạn giả Thu An, lòng không khỏi ngậm ngùi, tiếc thương cho những nghệ sĩ tài năng đã ra đi về cõi vĩnh hằng. Bởi sanh, lão, bệnh, tử đó là qui luật của kiếp nhân sinh!
HOA THIÊN LÝ
Chú
ý:
Việc
đăng
lại
bài
viết
trên
ở
website
hoặc
các
phương
tiện
truyền
thông
khác
mà
không
ghi
rõ
nguồn
http://www.cailuongvietnam.com
là
vi
phạm
bản
quyền