Nếm lại cảm xúc về chùm tri âm da diết qua giọng ca Mỹ Châu
- Thứ ba - 23/07/2013 23:46
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
CLVNCOM - Đôi khi tôi tự hỏi bằng trực giác nào mà một người Mẹ góa có thể tin rằng đứa con gái gầy gò 11 tuổi của mình chỉ với chút năng khiếu hát ca sẽ có thể thành công trên sân khấu? Con đường mà NS Mỹ Châu đã đi qua để "trên sân khấu Cải Lương em là Nữ Chúa" có không ít chông gai, nhưng cuối cùng Chị đã đến đích. Trong khi đó, tôi tin rằng có không ít những Mỹ Châu khác đã rơi rụng trên đường vì vô số lý do như thiếu tài năng, cơ hội, may mắn và cả sự nhẫn nại. Trên con đường để đến đỉnh vinh quang, Chị đã có cơ duyên gặp được những tri âm để tiếng ca Chị bay bổng hơn, vai diễn của Chị sâu sắc hơn và tình yêu sân khấu trong Chị đậm đà hơn. Và có trớ trêu chăng khi mà tưởng chừng như Chị đã dừng lại, chỉ lai rai dựng lại những vở tuồng mình thích và khán giả mong đợi như là một kỷ niệm đẹp về "những ngày xưa thân ái', thì Chị lại bắt gặp một soạn giả tri âm, âm thầm nói lên tiếng lòng bằng những khúc ca riêng tặng Chị.
Nếu
như
ở
hai
khúc
Tri
Âm
đầu
tiên,
"Cảm
Khúc"
và
"Dạ
Khúc",
tác
giả
Diệp
Vàm
Cỏ
chỉ
thể
hiện
lòng
tiếc
nuối
về
một
giọng
hát
đã
xa,
đã
tự
nguyện
bước
lùi
để
lưu
giữ
mãi
những
hình
ảnh
đẹp
trong
lòng
khán
giả,
thỉ
ở
chùm
bốn
ca
khúc
Tri
Âm
mới
này
"Nguyện
Khúc,
Mộng
Khúc,
Niệm
Khúc
và
Đoạn
Khúc",
có
đủ
mọi
cung
bậc
cảm
xúc:
thương
nhớ,
tiếc
nuối,
giận
hờn,
trách
móc,
và
tận
cùng
là
đau
đớn
về
toàn
cảnh
một
nền
sân
khấu
cải
lương
từ
thời
hòang
kim
cho
đến
bây
giờ
đang
ngày
càng
sa
sút.
Mặc
dù
vậy,
tác
giả
đã
rất
chọn
lọc
những
ca
từ
rất
văn
học
và
cũng
rất
nghệ
sĩ:
không
cao
nhưng
mà
thâm.
Nhưng
quan
trọng
hơn,
dường
như
anh
đã
nói
hộ
tất
cả
nỗi
lòng
của
Chị.
Tri
âm
là
vậy,
tài
tình
là
vậy
khi
không
cần
nhiều
lời
dao
to
búa
lớn,
chỉ
là
sự
thấu
hiểu
tận
cùng
khi
tác
giả
đặt
mình
vào
hoàn
cảnh
của
người
nghệ
sĩ
xa
sân
khấu,
trải
nghiệm
cuộc
sống
ở
xứ
người
nhưng
vẫn
không
tách
rời
những
thông
tin
họat
động
của
sân
khấu
cải
lương,
trong
lẫn
ngoài
nước,
vốn
không
mấy
sáng
sủa
nếu
không
muốn
nói
là
quá
u
ám.
Và
trong
tình
cảnh
đó,
Chị
không
còn
sự
lựa
chọn
nào
khác
khi
rất
tỉnh
táo
nhận
ra
"một
thưở
vàng
son
trên
sân
khấu
đã
xa
rồi".
"Em
không
dám
nói
lời
từ
biệt
Nhưng
biết
phải
làm
sao
cho
trọn
kiếp
tằm"
Quả
thật,
cho
dù
có
đi
nơi
đâu,
sống
nơi
nào
thì
những
kỷ
niệm,
niềm
luyến
thương
về
sân
khấu,
tôi
tin,
sẽ
theo
Chị
ít
nhất
cho
đến
hết
kiếp
này
bởi:
"Em
đâu
phải
là
một
kẻ
vô
tâm
Quên
nguồn
cội
quên
dòng
sông
bến
nước
Sân
khấu
đã
nuôi
em
nghĩa
ân
oằn
sau
trước
Thì
còn
có
tri
âm
em
còn
nặng
kiếp
tằm"
Cũng
là
một
người
có
trải
nghiệm
vài
năm
đón
giao
thừa
nơi
đất
khách,
nhưng
tôi
bỗng
giật
mình
khi
tác
giả
nhắc
đến
những
điều
tưởng
chừng
rất
giản
đơn
nhưng
lại
là
những
cái
mà,
tôi
tin
không
chỉ
mình
tôi,
không
thể
có
đầy
đủ
được
khi
sống
đời
xa
xứ:
"Mấy
năm
rồi
người
nơi
đất
khách
Có
đón
giao
thừa
mừng
tuổi
gia
tiên
Đầu
Xuân
có
đi
hái
lộc,
Nhà
bên
có
sang
mời
mọc
Như
thân
tộc"
Mà
quả
thật
nếu
có
thiếu
thốn
chút
đỉnh
khi
đón
"xuân
dất
khách"
thì
chắc
bà
con
cũng
"thôi
đành
ru
lòng
mình
vậy"
chứ
biết
làm
sao
sánh
được
với
Tết
ở
quê
nhà.
Nhưng
rất
nhanh,
tác
giả
đã
đẩy
lên
một
cao
trào
khác
buồn
bã
hơn,
bi
đát
hơn
của
người
xa
xứ:
"Hay
đơn
độc
ngồi
nghe
tuyết
lạnh
rơi
ngoài
mái
hiên".
Trời
ơi!
nếu
mà
tôi
nghe
những
lời
lẽ
này
lần
đầu
tiên
vào
ngay
cái
thời
khắc
giao
thừa
thì
chắc
là
không
thể
nào
tránh
khỏi
cái
cảnh
"Bỗng
rưng
rưng
lệ,
lệ
buồn
triền
miên"
rồi.
Tác
giả
dường
như
quá
thông
cảm
với
tình
trạng
tiến
thoái
lưỡng
nan
của
"một
cánh
én
nhỏ
không
làm
nên
mùa
xuân"
và
"biết
phải
làm
sao
cho
trọn
kiếp
tằm"?
Thôi
thì
đành
lẳng
lặng
rút
lui
và
có
phần
an
phận.
"Con
đò
giờ
đã
sóng
lặng
gió
yên",
Chị
dứt
khoát
bỏ
lại
sau
lưng
những
hào
quang
rực
rỡ,
những
chuyện
vui
buồn
sau
bức
màn
nhung,
những
đố
kỵ
bon
chen
phía
sau
cánh
gà,
những
phút
chạnh
lòng
trong
hậu
trường
sân
khấu.
Để
giờ
đây,
"Tiếng
ca
buồn
mình
hát
tự
mình
nghe,
để
tự
vuốt
ve
ru
mình
vào
giấc
ngủ".
Nhưng
tôi
cũng
tin
rằng,
với
chùm
ca
khúc
tri
âm
này,
chị
sẽ
không
còn
"mình
hát
tự
mình
nghe"
mà
sẽ
có
nhiều
Tri
Âm
khác
sẽ
cùng
lắng
nghe
với
Chị
bởi
"đời
không
tri
kỷ
đời
hiu
hắt,
nhạc
chẳng
tri
âm
nhạc
não
nùng".
Không
cần
đến
nguyên
tuồng
cải
lương
dài
2
-
3
tiếng.
Cũng
không
cần
phải
gồng
mình
lên
để
"diễn
kịch
một
mình".
Chỉ
cần
4
khúc
tri
âm,
tác
giả
Diệp
Vàm
Cỏ
và
Nghệ
Sĩ
Mỹ
Châu
đã
vẽ
ra
toàn
cảnh
sân
khấu
Cải
Lương
từ
buổi
"hòang
kim"
cho
đến
thời
"phấn
thổ".
Nghệ
thuật
đích
thực
không
cần
phải
"dao
to,
búa
lớn",
cũng
không
cần
phải
"đánh
trống,
la
làng"
và
càng
không
được
phép
đánh
lừa
tình
yêu
khán
giả.
Lâu
lắm
rồi
mới
được
nghe
những
bài
bản
cải
lương
với
những
lời
lẽ
rất
đơn
sơ
mà
sâu
sắc,
nhẹ
nhàng
mà
thâm
thúy,
mộc
mạc
mà
đa
tầng
ý
nghĩa.
Một
cảm
xúc
rất
khó
tả
khi
lần
đầu
đón
nhận
chùm
ca
khúc
"Tri
Âm"
trong
một
buổi
chiều
mưa
tầm
tã
nơi
viễn
xứ,
đến
nỗi
ám
ảnh
cả
trong
giấc
ngủ
đêm
qua:
"Đêm
thao
thức
một
mình
tôi
tự
hỏi
Hết
kiếp
này,
kiếp
khác
có
còn
NHAU?"
Vì
lẽ
đó,
tôi
không
thể
chần
chừ
trong
việc
viết
lên
những
cảm
xúc
bởi
"Tri
Âm".
Một
cách
trực
diện
và
thẳng
thắn,
không
màu
mè
diêm
dúa,
không
vòng
vo
tam
quốc,
không
ngụy
biện
ngoa
ngôn,
tác
giả
Diệp
vàm
Cỏ,
thông
qua
người
kể
chuyện
mang
tên
Mỹ
Châu
đã
mang
khán
giả
trở
lại
buổi
sơ
khai
của
một
nền
sân
khấu.
"Từ
buổi
khai
sinh
trên
đất
lành
Nam
Bộ,
sân
khấu
cải
lương
như
hoa
đời
đua
nở
để
đến
buổi
hòang
kim
thì
rực
rỡ
muôn...màu".
Tưởng
chừng
như
không
thể
có
câu
mở
đầu
nào
có
thể
đơn
giản
hơn
thế.
Và
từ
đấy,
chị
bắt
đầu
câu
chuyện
về
bộ
môn
nghệ
thuật
mang
tên
Cải
Lương
mà
đối
với
nó
chị
vừa
là
một
người
trong
cuộc,
vừa
là
người
quan
sát:
truyền
thống
mà
hiện
đại,
mộc
mạc
mà
lung
linh,
đơn
sơ
mà
quyến
rũ.
Cải
lương
quyến
rũ
bởi
từng
lời,
từng
chữ
được
viết
ra
từ
tim
óc
của
những
bậc
soạn
giả
uyên
thâm.
"Em
bọc
tên
anh
bằng
linh
hồn
trắng
hơn
giấy
quyến,
gối
đầu
cầu
nguyện
chiêm
bao
đẩy
đưa
sáng
bến
Tao
...
Phùng.
Ai
đưa
anh
về
đây
hội
ngộ
bằng
đường
sơn
khê
hay
mưa
gió
lạnh
lùng"
(Kiếm
Sĩ
Dơi)
Hay
một
hình
ảnh
khác
"rùng
rợn"
hơn
khi
diễn
tả
sức
mạnh
của
tình
yêu:
"Xuống
vực
sâu
ta
sẽ
dựng
lên
căn
lều
nhỏ
bằng
tóc
xanh
lợp
mái,
bằng
thịt
xương
làm
cột
làm
kèo.
Cư
ngụ
ở
bên
trong
là
hai
trái
tim
nghèo.
Lấy
rong
rêu
làm
chăn
làm
chiếu,
lấy
sỏi
đá
làm
giường
cho
buổi
tân
hôn..."
(Kiếm
Sĩ
Dơi)
Cải
Lương
quyến
rũ
bởi
ở
đó
những
lời
tâm
huyết
của
soạn
giả
được
truyền
tải
bởi
những
tài
nhân
mà
mỗi
người
một
vẻ:
"Lừng
lẫy
tuổi
tên
những
anh
kép,
cô
đào
Mỗi
gương
mặt,
mỗi
làn
hơi,
cách
diễn
Là
của
riêng
mình
không
hòa
lẫn
vào
ai".
Cải
lương
quyến
rũ
bởi
ở
đó
có
những
nhân
vật
đã
đi
vào
lòng
khán
giả
mà
không
cần
là
những
vai
"kinh
điển".
Những
nhân
vật
sống
mãi
trong
lòng
khán
giả
chỉ
bởi
đơn
giản
đó
là
những
vai
HAY
và
người
nghệ
sĩ
đã
"sống
hết
lòng
khi
đời
đã
phân
vai".
"Tôi
nhớ
Cát
Mộng
Thùy
Dương,
nhớ
Băng
Tuyền
Nữ
Chúa
Nhớ
Lý
Thiên
Kim,
nhớ
A
Khắc
Thiên
Kiều"
Và
khi
các
nghệ
sĩ
làm
việc
một
cách
chuyên
nghiệp,
hết
mình
vì
nghệ
thuật,
họ
sẽ
nhận
được
sự
đền
bù
xứng
đáng
cả
vật
chất
lẫn
tinh
thần.
Cũng
chỉ
ở
đó,
cái
thời
sân
khấu
hòang
kim,
nơi
mà:
"Những
hí
trường
đầy
khách
tri
âm
Những
tràng
pháo
tay
liên
hồi
tán
thưởng"
"Đời
đã
phân
vai"
làm
nghệ
sĩ,
nhưng
khi
nhận
ra
cái
môi
trường
sấn
khấu
chỉ
còn
chữ
NGHỆ
mà
mất
đi
chữ
SĨ,
Chị
tự
biết
rằng
cái
thánh
đường
nghệ
thuật
của
ngày
xưa
giờ
đã
không
còn
nữa.
Xin
trân
trọng
nghiêng
mình
trước
một
bước
lùi
dũng
cảm
và
hiếm
hoi.
Mặc
dù
vậy
Chị
dường
như
chưa
bao
giờ
XA
khán
giả.
"Quý
hồ
TINH
bất
quý
hồ
ĐA",
Chị
vẫn
cho
ra
đời
những
tác
phẩm
có
giá
trị
mà
không
cần
hô
hào
là
đang
làm
bảo
tồn,
bảo
tàng
cho
sân
khấu
Cải
Lương.
"Rồi
sẽ
đi
vào
cõi
nhớ
Âu
cũng
là
duyên
số
Bởi
đâu
có
gì
bất
tử
với
thời
gian"
Và
cuối
cùng,
như
một
lời
từ
tạ,
Chị
mong
được
khán
giả
cảm
thông,
như
phần
nào
tác
giả
đã
cảm
thông,
cho
sự
lựa
chọn
không
dễ
dàng
nhưng
đầy
tự
trọng
của
Chị.
"Xin
nhân
thế
cũng
đừng
quên
đừng
vội
trách
Mai
em
về
trong
mộng
khúc
tri
âm"